Mai Thái Lĩnh

  • Bởi Hồ Gươm
    11/07/2016
    0 phản hồi

    Vì vậy, chúng ta có quyền hy vọng những người Đài Loan chân chính như bà Tô Trị Phần sẽ góp phần làm trong sạch môi trường thiên nhiên của Đài Loan bằng cách trước hết “làm trong sạch” giới doanh nhân Đài Loan, để không còn có kẻ hám lợi nào cam tâm làm tay sai cho Đảng Cộng sản Trung Quốc trong âm mưu bành trướng kiểu Đại Hán của họ.

    Người Việt Nam lâu nay vẫn tín nhiệm “thương hiệu Đài Loan”, sẵn sàng đón nhận làn sóng đầu tư từ Đài Loan, nhưng nhất định không bao giờ chấp nhận loại doanh nhân thiếu đạo đức – mang danh hiệu Đài Loan nhưng lại núp bóng cộng sản Trung Quốc, gây tổn hại đến lợi ích của nhân dân Việt Nam.

    Bởi Admin
    08/07/2016
    0 phản hồi

    Ngày 29/7, bà Tô Trị Phần (huyện trưởng Vân Lâm) đã đích thân tham gia một cuộc biểu tình phản đối tại Đài Bắc. Cùng với các cư dân địa phương và các chính trị gia, bà quỳ gối trước trụ sở của Viện Hành pháp (tức Chính phủ Đài Loan) để bày tỏ sự phản đối các chính sách của chính quyền trung ương trong lĩnh vực công nghiệp và bảo vệ môi trường.

    Bởi Admin
    07/01/2016
    0 phản hồi

    Tất cả các nhóm lợi ích và nhóm mục đích đó thường tìm cách gây ảnh hưởng đến chính quyền bằng cách vận động hành lang (lobby), thương lượng với các công chức hay các chính trị gia. Nhưng họ cũng có thể áp dụng các biện pháp trừng phạt để đạt được mục tiêu của mình (vd: công nhân có thể đình công). Vì lý do đó, cả hai loại nhóm nói trên được các nhà chính trị học gọi tên là nhóm áp lực (pressure groups). [2]

    Bởi Sapphire
    01/04/2015
    1 phản hồi

    Lý do không nên làm sân golf Tân Sơn Nhất đã được hai vị nêu rõ trong bài viết: “Trên thế giới đã có rất nhiều sân golf, nhưng hầu hết nằm ở vùng đất xa dân cư, và đòi hỏi chủ sân golf phải đầu tư rất tốn kém cho việc bảo vệ môi trường. Hầu như không có ai đặt sân golf giữa vùng dân cư, vì một lẽ đơn giản là cho dù lợi siêu lợi nhuận của sân golf là vô cùng lớn nhưng cũng không đáp ứng được đòi hỏi của các biện pháp xử lý.”

    Bởi Hồ Gươm
    20/04/2014
    11 phản hồi

    Việc Marx và nhất là Engels vào lúc cuối đời bật đèn xanh cho một phương thức đấu tranh ôn hòa thật ra chỉ là một sách lược (chiến thuật) dùng cho một giai đoạn hoặc trong một hoàn cảnh đặc thù nào đó. Hai ông không hề có ý định từ bỏ hoàn toàn con đường dùng bạo lực để lật đổ giai cấp tư sản, thiết lập nền chuyên chính vô sản.
    Vì vậy, mặc dù trong tư tưởng của hai ông có những mầm mống của tư duy tích cực, xây dựng, nhưng những mầm mống phôi thai, yếu ớt đó vẫn không lấn át được những yếu tố tiêu cực của dòng tư duy mang tính “phủ định”, “phá hoại” đã ăn sâu vào toàn bộ các trước tác của hai ông. Đó chính là lý do khiến cho khiến cho việc “xét lại” chủ nghĩa Marx trở nên khó khăn. Trong thực tế, những yếu tố góp phần vào việc hình thành chủ nghĩa xét lại (revisionism) thường có nguồn gốc từ những trào lưu tư tưởng phi - mác-xít như: phái Lassalle ở Đức, học phái Fabian (Fabianism) ở Anh, v.v… chứ không đến từ bản thân Marx và Engels.

    Bởi Mắt Bão
    23/03/2014
    0 phản hồi

    Ngày 8-3 năm 2014, trong một cuộc họp báo bên lề kỳ họp thứ hai của Quốc hội khoá XII nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Ngoại trưởng Vương Nghị tuyên bố: “Lập trường của Trung Quốc là kiên định và rõ ràng trong vấn đề lãnh thổ và chủ quyền, đó là: không phải của Trung Quốc một tấc cũng không lấy; nếu là của Trung Quốc, một tấc cũng quyết bảo vệ.”[1] Mới nghe qua, chúng ta thấy lập trường này rất hợp tình, hợp lý. Thế nhưng, có một câu hỏi được đặt ra: nếu Trung Quốc (tức là Trung Hoa cộng sản) không lấy một tấc đất nào không phải của mình, cớ sao họ lại chiếm của Việt Nam phần lớn cồn Pò Thoong và một nửa thác Bản Giốc?

    Bởi Khách
    26/12/2013
    0 phản hồi

    Tôi nói là “hồ đồ”, vì anh Lê Hiếu Đằng tuy đã cao tuổi, nhưng tuổi của anh cũng không hề cao hơn tuổi của ông Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Và người ốm đau bệnh tật không nhất thiết là người kém sáng suốt hơn một người khỏe mạnh. Chỉ cần so sánh hai câu phát biểu sau đây: “Chủ nghĩa xã hội chỉ là ảo tưởng” (Lê Hiếu Đằng) và “Đổi mới chỉ là một giai đoạn, còn xây dựng CNXH còn lâu dài lắm. Đến hết thế kỷ này không biết đã có CNXH hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” (Nguyễn Phú Trọng),[3] chúng ta cũng có thể đánh giá ai là người sáng suốt hơn ai?

    Bởi Hồ Gươm
    26/09/2013
    0 phản hồi

    Bỏ quên những bài học của quá khứ, không rút kinh nghiệm từ sự thất bại của Hiệp định Biên giới 1999, nhất định chúng ta sẽ tiếp tục thất bại tại Biển Đông. Đó là chính là bài học đau thương mà cả dân tộc chúng ta phải ghi nhớ nếu không muốn lặp lại những “hội nghị Thành-Đô” của thế kỷ 21 hay những mất mát, đau thương tương tự như việc mất quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974, mất bãi đá Gạc Ma (Johnson South Reef) tại Trường Sa vào năm 1988, v.v…

    Bởi Khách
    16/09/2013
    5 phản hồi

    Về những bằng chứng lịch sử liên quan đến Thác Bản Giốc, tôi có một cách nhìn hoàn toàn khác với ông Trần Công Trục, bởi vì đối với đường biên giới Việt-Trung – vốn là một đường biên giới có lịch sử lâu đời và có liên quan đến sự tồn vong của dân tộc ta, đất nước ta, không thể không đề cập đến phương diện lịch sử. Hơn thế nữa, những bằng chứng lịch sử đó có từ rất lâu – trước khi Đảng Cộng sản nắm chính quyền trên toàn miền Bắc, thậm chí trước khi Đảng Cộng sản ra đời, vì thế không thể nói rằng đó là kết quả của “hệ thống tài liệu tuyên truyền chính thức” trong giai đoạn cuối thập niên 1970 – khi quan hệ giữa hai nước trở nên căng thẳng.

    Bởi Admin
    13/09/2013
    1 phản hồi

    Ngay tại thắng cảnh nổi tiếng nhất nước ta: thác Bản Giốc. Cột mốc ở đây họ đã di từ đỉnh núi xuống giữa dòng sông Quây Sơn[1], trên đầu thác, chiếm trọn phần thác đẹp nhất - thác ba tầng; nhưng họ vẫn chưa thỏa mãn, muốn chiếm trọn cả thác, có nghĩa là cả dòng sông đều thuộc về họ. Cho nên ở đây hàng ngày ta phải cử một tiểu đội dân quân cơ động luân phiên bảo vệ cột mốc hiện trạng, đề phòng họ di cột mốc sang bờ sông phía ta. Sự canh phòng ấy không phải là thừa. Bà con kể: Khi trạm bộ đội biên phòng của ta xây dựng lại, trạm ở cạnh đường quốc lộ, cách bờ sông Quây Sơn gần 300 mét, bên họ phản đối kịch liệt. Họ phái hơn 20 thanh niên lực lưỡng trang bị gậy gộc cuốc xẻng xông sang phá nền nhà mới xây. Bị đánh trả tơi tả, họ không dám quấy phá nữa. Bờ sông phía dưới thác bên ta, ta xây kè đá để bảo vệ bờ, vì bên họ xây kè - đập lững lái dòng sông chảy xói về phía ta, họ cũng phản đối. Rút bài học ở trạm biên phòng, họ không dám quấy quả khi ta xây kè. Để có thể chống chọi được với sức xâm xói của dòng chảy, kè bên ta phải xây dày gấp đôi kè của họ. Không biết, về sau, đảng và nhà nước ta có vì tình hữu nghị cao cả mà nhường cả thác Bản Giốc cho họ hay không?

    Bởi Hồ Gươm
    12/09/2013
    5 phản hồi

    Cũng trong chuyến đi khảo sát thực tế năm 1965 ấy, chúng tôi đến thăm hang Pắc Pó và được nghe đ/c Dương Đại Lâm - một trong những chiến sỹ cận vệ của Bác Hồ những năm trước cách mạng tháng 8 và sau này là phó chính ủy quân khu Việt Bắc, kể: năm 1941 Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng. Đến cột mốc 108 trên đỉnh đèo, Bác Hồ đặt tay lên cột mốc, đứng lặng hồi lâu, rơm rớm nước mắt, đoạn Bác nói với đ/c Lê Quảng Ba, Dương Đại Lâm và các đ/c cùng đi: “Đây là đất đai của tổ tiên để lại, chúng ta phải đem hết sức mình để gìn giữ...”. Trộm nghĩ cột mốc 108 có cùng cảnh ngộ với chiếc cột mốc ở đỉnh núi Bản Giốc? Lịch sử đương đại của dân tộc ta liệu có lặp lại một sự kiện của thế kỷ thứ 16 dưới triều đại Mạc Đăng Dung?

    Bởi Admin
    10/09/2013
    21 phản hồi
    thac-ban-gioc.jpg

    Đó là một thực tế lịch sử đã xảy ra. Có thể những tài liệu tuyên truyền như vậy là cần thiết, phù hợp trong thời điểm đó khi quan hệ hai bên căng thẳng, xung đột. Nhưng sau khi đã bình thường hóa quan hệ với chủ trương của 2 bên là “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai” thì nó không còn phù hợp nữa.

    Bởi Admin
    08/09/2013
    3 phản hồi

    Tôi có nhận được lá thư của ông do một độc giả chuyển tới qua trang mạng Ba Sàm. Trước hết, tôi xin lỗi về việc đã không đợi quý báo phản hồi mà đã cho đăng trước ý kiến của tôi trên trang Bauxite Vietnam và các trang mạng khác. Nhưng thú thật với ông từ năm 2000 đến nay, tôi không còn chút tin tưởng nào đối với quyền tự do báo chí trong nước – mặc dù từ khoảng 1987 cho đến năm 1995, tôi thường xuyên viết bài cho các tờ báo lớn như: Tuổi trẻ, Thanh niên, Lao động, v.v… và một số bạn bè tôi từng là Phó tổng biên tập, Tổng biên tập các tờ báo lớn trong nước.

    Bởi Mắt Bão
    06/09/2013
    2 phản hồi

    Ông Trần Công Trục luôn mồm rao giảng về sự khác nhau giữa một bên là “chủ quyền lịch sử, bằng chứng lịch sử, quan điểm lịch sử” và bên kia là “các chứng lý lịch sử có giá trị pháp lý trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ theo luật pháp quốc tế”. Tự coi mình là người am hiểu và nắm vững vấn đề hơn người khác, ông luôn mồm chê bai người khác là “nhầm lẫn”, là “nhận thức hạn chế”, v.v. và v.v.

    Bởi Hồ Gươm
    01/05/2013
    4 phản hồi
    maithailinh.jpg

    Vì thế việc “cơ quan soạn thảo và thông qua hiến pháp có phải là của dân hay không” mới là gốc, còn việc “dân có được phúc quyết hay không” chỉ là ngọn của vấn đề. Nếu không tập trung đòi dân chủ hóa ở cái gốc (sao cho Quốc hội và Ủy ban soạn thảo Hiến Pháp phải đích thực là của Dân chứ không phải của Đảng như hiện nay) mà cứ chăm chăm đòi cái ngọn, thì chẳng những không thay đổi được thực chất của chế độ mà ngược lại, còn tạo điều kiện để hợp thức hóa một bản Hiến Pháp của Đảng cộng sản. Một bản Hiến Pháp rất thiếu dân chủ, nhưng một khi được dán cái nhãn “được toàn dân phúc quyết” sẽ trở thành một công cụ lợi hại để Đảng sử dụng nhằm biện minh cho độc quyền chính trị của họ đối với toàn xã hội. Thực tiễn đã có quá nhiều dẫn chứng cho thấy trong một chế độ toàn trị thì việc tạo ra cái nhãn “trên 90% cử tri toàn quốc tán thành” để dán lên bản Hiến Pháp mới không hề là một việc khó khăn. Cổ xúy cho những hình thức dân chủ giả hiệu như thế trong tình hình hiện nay chẳng những không có lợi cho đất nước, cho nhân dân mà còn vô tình tiếp tay, vô tình đồng lõa với những kẻ độc tài, tham nhũng trong âm mưu lừa mị nhân dân nhằm kéo dài sự tồn tại của chế độ độc tài đảng trị.

    Bởi Hồ Gươm
    10/03/2013
    0 phản hồi

    Một nước Phần Lan nhỏ bé sống bên cạnh một nước Nga khổng lồ hung hãn vẫn giữ vững được độc lập nhờ vào chế độ dân chủ, trong khi một nước Việt Nam tự hào đã “đánh thắng được hai đế quốc to là Pháp và Mỹ” nhưng lại run sợ trước ông bạn “mười sáu chữ vàng” đến mức không dám kỷ niệm những chiến sĩ đã bỏ mình vì nước, không dám kiện ra Tòa án Quốc tế việc “nước bạn” đã cướp các đảo của ta, không dám vứt bỏ “tình hữu nghị” trong khi kẻ có dã tâm vẫn tiếp tục dòm ngó toàn bộ Biển Đông. Phải chăng sự đối chiếu đó là bằng chứng hùng hồn nhất chứng minh “sức mạnh” của một chế độ chính trị: giữa chế độ dân chủ đa đảng và chế độ độc tài đảng trị, chế độ chính trị nào giúp cho dân tộc ta mạnh hơn, giúp đất nước ta phát triển vững bền hơn?

    Bởi Hồ Gươm
    03/03/2013
    5 phản hồi
    danluan_b0137.jpg

    Như trên đã nói, quyền lập hiến nguyên thủy chỉ được thực hiện trong hoàn cảnh có sự thay đổi về tương quan lực lượng chính trị trong thực tế, ví như sau một cuộc đảo chính (tức chuyển đổi quyền lực từ bên trên) hay một cuộc cách mạng (tức là chuyển đổi quyền lực từ bên dưới). Nhưng ở nước ta, cho đến nay, vẫn chưa xảy ra một cuộc cách mạng hay một cuộc đảo chính nào cả. Vậy làm thế nào để có thể thực hiện quyền lập hiến nguyên thủy mà không diễn ra những xáo trộn không cần thiết, những đổ vỡ không đáng có nhằm tạo điều kiện cho việc thực hiện quyền lập hiến nguyên thủy, thiết lập một bản hiến pháp mới?

    Để trả lời câu hỏi đó, cần vạch ra một lộ trình phù hợp với tình hình hiện tại, một lộ trình khả thi nhưng phải bảo đảm được quyền làm chủ của nhân dân, không dựa trên cơ chế “xin-cho”, không khoán trắng tương lai đất nước cho bất kỳ một cá nhân hay một lực lượng chính trị nào cả.

    Bởi Admin
    20/11/2012
    9 phản hồi
    trach-nhiem.jpg

    Xét về mặt hình thức, nếu căn cứ vào điều 84 của Hiến pháp 1992 (bản sửa đổi, bổ sung năm 2001), chúng ta thấy Quốc hội có quyền “bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm” một số chức vụ – trong đó có chức vụ Thủ tướng Chính phủ; đồng thời cũng có quyền “ bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn" (trong số đó có chức vụ Thủ tướng). Thế nhưng, mặc dù quy định về thủ tục “bỏ phiếu tín nhiệm” đã được ghi trong Luật Tổ chức Quốc hội 2002 và cả trong bản sửa đổi năm 2007, Quốc hội lại không thể tự mình thực hiện quyền này. Thực tế cho thấy chế độ “đảng trị” đã vô hiệu hóa công cụ hữu hiệu nhất của Quốc hội để kiểm soát quyền lực của bộ máy hành pháp.

    Bởi Hồ Gươm
    24/10/2012
    1 phản hồi

    Tác giả Phan Thành Đạt cho rằng: “Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp của nhiều tổ chức chính trị, không phải là Hiến pháp do một mình tổ chức Việt Minh biên soạn”. Về quá trình soạn thảo Hiến pháp 1946, xin dành lại cho một dịp khác, vì tư liệu xung quanh vấn đề này còn ít ỏi và chưa đủ tin cậy, cần phải tìm hiểu thêm. Chỉ xin nhấn mạnh một điều quan trọng: cho dù có bao nhiêu trí thức “chịu ảnh hưởng giáo dục của phương Tây”, bao nhiêu “tổ chức chính trị” tham gia biên soạn thì Việt Minh vẫn có ảnh hưởng quyết định đối với bản hiến pháp này. Bởi vì vào thời điểm thông qua bản hiến pháp (tháng 11 năm 1946), các tổ chức chính trị đối lập với Việt Minh đã không còn tồn tại; một số đại biểu không cộng sản chỉ còn tham gia với tư cách cá nhân và không có ảnh hưởng gì đáng kể.
    Xét về mặt tổ chức thì Việt Minh chỉ là một hình thức “biến tướng” của Đảng cộng sản. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích việc “Đảng cộng sản Đông Dương tự giải tán vào ngày 11-11-1945” như sau: “Hồi đó, một việc đã làm cho nhiều người thắc mắc nhất là việc Đảng tuyên bố tự giải tán, sự thật là Đảng rút vào bí mật. Và dù là bí mật, Đảng vẫn lãnh đạo chính quyền và nhân dân. Chúng ta nhận rằng việc Đảng tuyên bố giải tán (sự thật là vào bí mật) là đúng” [2].  Điều cần chú ý là vào ngày 25-11-1945, nghĩa là chưa đầy nửa tháng sau khi tuyên bố “giải tán Đảng”, Trung ương Đảng đã ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”. Sau khi đã cảnh báo việc “Chính quyền mới đang phải đối phó với ba việc khó khăn: chống thực dân Pháp xâm lược; trừ nạn đói; xử trí bọn Đại Việt, Việt Nam Quốc dân đảng, Nguyễn Hải Thần đã dựa vào thế lực Tưởng nhập cục thành một khối, đối lập với Chính phủ, đang đòi cải tổ Chính phủ, tham dự chính quyền”, bản chỉ thị đề ra nhiệm vụ cụ thể như sau: “Về nội chính, xúc tiến nhanh việc bầu Quốc hội để quy định Hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức; phân hóa và xử trí bọn phản động chống lại chính quyền” [3]. Những sử liệu đó cho thấy rõ toàn bộ quá trình xây dựng Hiến pháp 1946 đã được Đảng cộng sản Đông Dương tính toán một cách chủ động từ rất sớm, và việc “thanh toán phe đối lập” cũng đã được đưa vào chương trình nghị sự của Đảng.

    Bởi Hồ Gươm
    07/10/2012
    5 phản hồi

    Có một sự nhầm lẫn tai hại vẫn tồn tại mãi cho đến ngày nay: đó là ý tưởng cho rằng “Hiến pháp 1946 là một sản phẩm của một Quốc hội đa đảng”. Trong thực tế, chế độ đa đảng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi, từ cuối tháng 8 năm 1945 cho đến khoảng tháng 7 năm 1946, nghĩa là từ khi có cuộc đàm phán giữa Chính phủ Cách mạng Lâm thời của Việt Minh với các đảng phái khác (như Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội) để thành lập Chính phủ Liên hiệp. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946 và nhất là sau “vụ án Ôn Như Hầu” (tháng 7 năm 1946), nhiều lãnh tụ của các đảng phái đối lập (như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh) rời bỏ Chính phủ Liên hiệp và kể từ đó Chính phủ và Quốc hội chỉ bao gồm các thành viên của Việt Minh và một số thành viên độc lập đồng ý cộng tác với Việt Minh. Cho nên có thể nói bản Hiến pháp 1946 (được thông qua vào ngày 9-11-1946) hoàn toàn là sản phẩm của Việt Minh – một tổ chức biến tướng của Đảng cộng sản. Các đảng còn lại như Đảng Dân chủ, Đảng xã hội thực ra chỉ là những tổ chức mang tính hình thức, nhằm để trang trí cho chế độ chứ không có thực lực, không có tác dụng gì trong việc “kiểm soát và làm cân bằng” cán cân quyền lực. Các đảng này cũng tương tự như các “đảng liên minh” (alliance parties) tồn tại ở Cộng hòa Dân chủ Đức sau khi Đông Đức rơi vào vòng kiểm soát của Liên Xô sau Chiến tranh Thế giới thứ II hoặc các “đảng bạn” (friendly parties) hiện đang tồn tại bên cạnh Đảng cộng sản Trung Quốc mà thôi.

    Bởi Hồ Gươm
    14/07/2012
    3 phản hồi

    Tất nhiên, trong hoàn cảnh thực tế của nước Việt Nam hiện nay, nếu Đảng Cộng sản thật sự có ý muốn cải cách chính trị để chuyển hóa từ một chế độ độc-tài-toàn-trị sang một chế độ hướng-đến-dân-chủ, nếu các đảng viên cộng sản “cấp tiến” có khả năng đấu tranh để đạt được một hiến pháp tương tự như Hiến pháp 1946, thì chúng ta cũng có thể hoan nghênh, coi đó như một bước tiến đầu tiên, một bước chuyển tiếp. Thế nhưng, như đã phân tích trên đây, văn bản lập hiến này còn có nhiều khuyết điểm nghiêm trọng, vì thế không thể coi đó là mục tiêu sau cùng, là đích đến của con đường dân chủ hóa.

    Bởi Admin
    02/03/2012
    0 phản hồi

    Nhìn chung, chiến lược xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải của China có thể tóm lược bằng một câu: biến không thành có. Chiến lược này thường được thực hiện qua 3 bước như sau: Bước 1, biến một vấn đề hoàn toàn không tranh chấp thành một vấn đề tranh chấp; Bước 2, gây áp lực — nếu cần dùng bạo lực — trên nước láng giềng nhỏ bé hơn; Bước 3, đàm phán, và trong đàm phán thì phải có nhân nhượng, China dĩ nhiên sẽ chiếm được một phần dưới danh nghĩa là “nhường” cho nước nhỏ! Đối với những nước nhỏ mà người đàm phán bất tài thì sẽ hả hê vì nghĩ rằng mình thắng (nhưng thật ra là thua)!

    Bởi Admin
    23/02/2012
    9 phản hồi

    Vấn đề chủ quyền Thác Bản Giốc lại được dư luận Việt Nam chú ý bàn tán hồi gần đây sau khi Chủ tịch Trương Tấn Sang đến thăm ngọn thác xinh đẹp ở biên giới Việt-Trung được cho là thác nước xuyên quốc gia lớn nhất Á châu. Báo chí Việt Nam hồi tuần qua cũng cho biết Hà Nội và Bắc Kinh đang thương thảo để đạt được Hiệp định về khai thác tiềm năng du lịch khu vực Thác Bản Giốc. Trong nhiều năm qua chính phủ ở Hà Nội cho rằng Việt Nam lẽ ra chỉ có chủ quyền đối với một phần ba Thác Bản Giốc nhưng nhờ thương thuyết nên Trung Quốc nhượng bộ và giờ đây Việt Nam được phân nửa. Tuy nhiên, những người chỉ trích nói rằng Thác Bản Giốc trước đây được coi là thác riêng của Việt Nam. Mời quí thính giả theo dõi thêm chi tiết qua cuộc phỏng vấn nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh sau đây.

    Bởi Hồ Gươm
    11/02/2012
    47 phản hồi

    Câu hỏi đặt ra là: trong tình trạng bưng bít, che giấu thông tin như thế, giới trí thức – nhất là các nhà khoa học nhân văn, phải làm gì để có thể bảo vệ Tổ quốc, giữ vững chủ quyền quốc gia? Trông chờ Bộ Chính trị Đảng cộng sản Việt Nam thành tâm thiện ý “nhìn thẳng vào sự thật” để thực hiện một đường lối cởi mở hơn? Tha thiết “cầu xin” nhà cầm quyền gia ân ban phát một “không gian tự do có giới hạn” để trí thức có thể góp ý hay phản biện? Hay trí thức phải noi gương cụ Phan Châu Trinh và các sĩ phu của Phong trào Duy Tân hồi đầu thế kỷ trước bằng cách tự mình vạch đường đi, nghĩa là mạnh dạn đảm nhận vai trò tiên phong trong công cuộc nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí bằng cách phá vỡ ách nô lệ tinh thần đã bao trùm đời sống tinh thần của cả nước ta từ gần nửa thế kỷ nay?

    Bởi Hồ Gươm
    11/02/2012
    48 phản hồi

    Tóm lại, từ chỗ là một thác nước hoàn toàn thuộc chủ quyền của Việt Nam, sau hiệp ước 1999 một phần thác chính lại trở thành sở hữu của Trung Quốc. Từ chỗ toàn bộ bờ phía bắc tính từ phía trên thác cho đến tận chân thác đều là của Việt Nam, ngày nay toàn bộ bờ bắc – tính từ cột mốc 835 mới cho đến hạ lưu, lại nằm trong lãnh thổ Trung Quốc. Sự thay đổi kỳ quặc này nhất định là có liên quan đến cái cột mốc số 53 gây bất ngờ nói trên.

    Pages