Nhà nước thế tục - sản phẩm của lịch sử và công cụ phục vụ nhân quyền

  • Bởi Admin
    06/07/2020
    1 phản hồi

    Valentine Zuber
    Minh Toàn dịch

    Nhà nước thế tục (laïcité) chắc hẳn là điều kiện thiết yếu bảo vệ tự do cá nhân, cả trên địa hạt luân lý (éthique), tôn giáo lẫn niềm tin. Từ đó, không thể phủ nhận rằng nó là một trong những công cụ không thể thiếu cho thăng tiến nhân quyền. Nhà nước thế tục có mục đích bảo đảm tự do, vừa cá nhân vừa tập thể, cho mọi người và cho mỗi người chúng ta, dù thuộc bất kỳ nguồn gốc hay nhận bất kỳ căn cước (identité) nào. Tính thế tục của nhà nước buộc nó trước tiên phải đảm bảo việc chung sống hòa bình của mọi công dân cùng chia sẻ một không gian công cộng; và điều này được thực hiện bằng một tư thế cân nhắc không can dự vào những khuynh hướng mang ý nghĩa khác nhau. Thước đo sự thế tục của nhà nước nằm ở việc tôn trọng nhiều chuẩn mực tự do liên quan đến tôn trọng nhân quyền, bao gồm: tính trung lập của nhà nước về tôn giáo, sự độc lập của các chính thể chính trị đối với các chuẩn mực tôn giáo, tự do tôn giáo và tự do niềm tin (conviction) cho mọi người, bình đẳng công dân cho mọi cá nhân độc lập với căn cước niềm tin hoặc tôn giáo của họ, và không phân biệt đối xử thiểu số này thiểu số nọ với đa số.

    Vì vậy, trong khuôn khổ một nhà nước thế tục, và trong các giới hạn gắn liền với tự do cá nhân bao gồm việc tôn trọng trật tự công cộng và tự do của người khác, mỗi người có quyền biểu đạt tự do, không bị gò bó, trong các xã hội đã trở nên đa nguyên không thể vãn hồi.

    So sánh ngắn gọn lịch sử các nhà nước thế tục trên thế giới

    Về khái niệm, tính thế tục dựa trên ý định phân tách hai địa hạt phàm trần và tâm linh nằm trong thông điệp Phúc Âm liên quan mật thiết đến con người đó là “trả cho César những gì thuộc về César và trả cho Chúa những gì thuộc về Chúa” (Mathieu, 22.21). Nhưng nhất là, đó là một khái niệm chính trị chủ yếu bắt nguồn từ tính hiện đại của phương Tây, xuất hiện sau sự chia cắt của các nước Kitô giáo thời trung cổ. Nó từ từ nổi lên trong các xã hội Châu Âu kể từ thế kỷ thứ XVI bị hằn dấu bởi những cuộc chiến tranh chính trị - tôn giáo dài và đẫm máu. Những thể thức áp dụng của nó dần dần được trui rèn trong những suy nghĩ pháp lý - chính trị được phát biểu bởi một loạt các tác giả. Họ lần lượt thử tư duy về quyền tự chủ của nhà nước hiện đại và về cách nhà nước này có thể quản lý một cách hòa bình sự đa dạng tôn giáo xuất hiện sau việc ly giáo trong các nước Kitô giáo do sự bùng nổ chấn động của phái Cải cách Tin lành gây nên.

    Ý tưởng (hay thuật ngữ) về sự thế tục được thành hình rõ nét cùng lúc với việc thành lập các nhà nước dân tộc (États-nations) sau hiệp ước Wesphalie năm 1648. Các nhà nước này, đang kết toán cuộc chiến Ba mươi năm, là cuộc chiến làm xáo trộn địa chính trị Châu Âu, đã đóng góp vào việc định nghĩa một khái niệm hoàn toàn mới về chủ quyền quốc gia. Ngoài ra, các hiệp ước này công nhận sự tồn tại chính đáng và hợp pháp của ba tín ngưỡng Kitô giáo khác nhau ở Châu Âu là Công giáo, giáo hội Luther và thần học Calvin. Vua chúa được dành riêng quyền chọn lựa tôn giáo riêng của họ và áp đặt nó cho toàn bộ thần dân của mình và làm cho lĩnh vực tôn giáo thành một đặc quyền của nhà nước có chủ quyền. Nhà nước đó có quyền tự do quản lý lĩnh vực này mà không e sợ những ràng buộc quốc tế. Việc thế tục hóa dần dần những mối quan hệ quốc tế đã ban đầu cho phép giải phóng các nước này khỏi những giáo điều thuộc riêng tôn giáo trong các mối quan hệ ngoại giao của chúng, và điều này với sự bất bình to lớn của Tòa Thánh (Công giáo). Tất cả vua chúa của Chế độ cũ (Ancien Régime) đã tiến hành sự thế tục hóa ban đầu về luật pháp cho phép dần dần tách toàn bộ các quy tắc chính trị và dân sự khỏi những quy định mang bản chất thuần tôn giáo.

    Chính những nguyên tắc chính trị ra đời từ cuộc cách mạng của Mỹ và Pháp đã cho phép đào sâu hơn nữa sự thế tục hóa không thể đảo ngược của các nhà nước dân tộc hiện đại. Sự bao dung truyền thống mang tính dân sự đối với những tôn giáo thiểu số được thay thế bằng nguyên tắc tự do tôn giáo cho mọi thần dân hay cho mọi công dân của một quốc gia. Những nguyên tắc này đã cho phép về mặt thể chế công nhận một tư cách công dân (citoyenneté) thực thụ - tức bình đẳng cho mọi người và độc lập với căn cước tôn giáo của riêng mỗi người. Cuộc ly dị không thể tránh khỏi này giữa nhà nước hiện đại với các tôn giáo đã được hoàn thành theo cách hoặc khá mạnh bạo, hoặc từ tốn hơn. Trong trường hợp mạnh bạo, ta nói đến quá trình thế tục hóa (laïcisation), vì chính nhà nước đã tự giải phóng mình trong khuôn khổ một cuộc đấu tranh chính trị tuyên bố chống lại những yêu sách của nhà thờ Công giáo trong lĩnh vực này. Ở đây, sự thế tục được thiết lập một cách chuyên quyền bằng các luật dân sự (lập ra hộ tịch dân sự, lập những hệ thống pháp lý, y tế và giáo dục thuộc nhà nước cho phép phân tách rõ rệt giữa luật dân sự và luật tôn giáo). Trong trường hợp thứ hai, ta gọi nó là quá trình hoàn tục (sécularisation) thì đúng hơn bởi các tôn giáo (thông thường là Tin lành) có truyền thống tuân theo một quan điểm hợp pháp với nhà nước và chúng từ từ được hoàn tục cùng lúc với nhà nước. Nhà nước đã không cần phải áp đặt điều này từ bên ngoài (tức việc chấp nhận tính đa nguyên về học thuyết cũng như chấp nhận sự vận hành dân chủ trong lòng các tôn giáo này).

    Nội dung của phạm vi thuần thế tục đảm bảo bởi nhà nước đã được định rõ và được làm phong phú thêm theo năm tháng, với những nhịp điệu khác nhau tùy theo các không gian được xem xét. Điều này thể hiện ở việc áp dụng dần dần các luật cá nhân được định nghĩa vào cuối thế kỷ thứ XVIII, sau các cuộc cách mạng của Mỹ và Pháp. Như thế, tính thế tục đã được đào sâu cùng với việc chấm dứt kỳ thị chủng tộc hay tôn giáo trong định nghĩa về tư cách công dân hiện đại, cùng với sự bãi bỏ chế độ nô lệ, sự ra đời của nhà nước dân sự thế tục, cùng với sự thực thi kết hôn và ly dị dân sự, thực thi quyền bình đẳng dân sự và chính trị được thừa nhận cho mọi công dân (cho đến quyền bầu cử của phụ nữ), thực thi một nền giáo dục do nhà nước quản lý, thực thi một nền công lý duy nhất được áp dụng cho mọi người và một nền y tế do nhà nước tổ chức. Các năng lực xã hội trước kia dành riêng cho những giáo hội khác nhau thì trong suốt thế kỷ XIX và XX được chuyển dời dần sang cho toàn thể các nhà nước hiện đại. Điều này đi kèm với sự phát triển kinh tế và xã hội thuận lợi cho việc xuất hiện các xã hội dân sự, và góp phần thể hiện sự thực thi lý tưởng dân chủ và tự do mà triết lý nhân quyền mang đến. Nguyên tắc thế tục từ nay là một hiện thực được nhiều nước trên thế giới chia sẻ, tuy rằng chủ yếu là trong các nhà nước pháp quyền, là những nước tự thấy mình đang vận hành dân chủ và chấp nhận sự biểu đạt không giới hạn của chủ nghĩa đa nguyên tôn giáo và niềm tin trong xã hội.

    Nhà nước thế tục là một nguyên tắc được thừa nhận và có những hình thức đặc thù khác biệt do kế thừa

    Mô hình phân tách nhà thờ khỏi nhà nước của Pháp, bắt nguồn từ luật năm 1905, là một trong nhiều mô hình nhà nước thế tục. Ở Châu Mỹ, mô hình phân tách này đã được thiết lập hợp pháp tại Hoa Kỳ trước Pháp một thế kỷ rưỡi. Điều này có hiệu lực chính bởi tu chính án thứ nhất của Hiến Pháp Liên Bang được thông qua vào năm 1791. Trong đó, cộng với tự do biểu đạt, tự do báo chí, và tự do lập hội được đảm bảo cho mọi người, thì nó quy định rằng “Quốc hội sẽ không thông qua bất kỳ luật nào liên quan đến việc thành lập một tôn giáo, hay cấm tự do thực hành tôn giáo”. Năm 1802, Thomas Jefferson viết rằng hiến pháp Mỹ, theo ông, đã tạo “một bức tường phân cách giữa nhà thờ và nhà nước”. Điều này lúc đó chỉ áp dụng cho nhà nước liên bang, các tiểu bang vẫn có quyền tự do chọn lựa mối quan hệ giữa chúng và tôn giáo. Nhưng năm 1868, cuối cùng tu chính án thứ 14 của hiến pháp đã công nhận sự tách nhà thờ khỏi nhà nước ở mọi bang của Mỹ và không có ngoại lệ. Ngoài ra, nhà nước tuyệt đối bị cấm không được tài trợ cho bất kỳ cuộc biểu tình tôn giáo hoặc cho tổ chức tôn giáo nào và cấm các lãnh đạo tôn giáo làm chính trị đích thực (es qualité).

    Giống như vậy, Mexico đã đi trước Pháp (thậm chí vào đầu thế kỷ XX chính nó đã được dùng làm mô hình khi Pháp bỏ hệ thống thỏa ước có từ thời Napoléon). Những “luật Cải cách” do Benito Juárez (1859-1863) tiến hành đã tổ chức việc tách nhà thờ khỏi nhà nước trước Pháp 50 năm. Như thế, chính phủ Mexico đã chấm dứt nền Cộng hòa Công giáo trước đó bằng cách xóa bỏ tài trợ cho tôn giáo và bằng cách thiết lập tự do tôn giáo cho mọi người. Nó cũng quốc hữu hóa các tài sản của nhà thờ Công giáo và đặt ra những sổ sách hộ tịch độc lập với những sổ sách đến khi đó vẫn do các thầy tu nắm giữ. Năm 2012, nguyên tắc thế tục đã được ghi hẳn vào hiến pháp Mexico, làm cho nước này thành một nước “cộng hòa đại nghị, dân chủ, thế tục và liên bang”.

    Những mô hình thế tục khác tồn tại trên khắp thế giới, gồm cả các dạng của những nước có quốc giáo (Anh, Đan Mạch, Hy Lạp… ) được thừa hưởng về lịch sử. Thậm chí trong những nước này, nơi người đứng đầu nhà nước thường cũng là lãnh tụ của tôn giáo quốc gia, thì mọi cá nhân và mọi cộng đồng tôn giáo hiện diện trên lãnh thổ đều được hưởng tự do tôn giáo, được đảm bảo tự do chính kiến (liberté de conscience) và tự do thực hành tôn giáo. Tư cách công dân bình đẳng và việc các thành viên của những nước này không bị phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo là quy luật tuyệt đối. Tuy vậy, đa số các nhà nước thế tục Châu Âu và trên thế giới chọn thực hiện một hình thức thừa nhận hợp pháp các tôn giáo khác nhau, đôi khi có cả việc trợ cấp của nhà nước theo những tiêu chuẩn khác biệt liên quan đến lịch sử quốc gia, đến sự lâu năm mà những tôn giáo này ăn sâu vào lãnh thổ, đến tính đại diện về mặt số lượng của nó và đến sự tán thành của nó đối với tính đa nguyên của xã hội và đối với sự vận hành dân chủ của quốc gia. Đó là trường hợp nước Đức, luật cơ bản của nó thừa nhận các đặc quyền nhà nước về y tế và giáo dục cho hai tín ngưỡng lớn của Kitô giáo. Đó cũng là trường hợp của Ý, Tây Ban Nha và những nước mới gia nhập ở phía đông lục địa Châu Âu, chúng đã thiết lập những hệ thống thỏa ước với những tôn giáo khác nhau có mặt trên lãnh thổ của chúng. Cuối cùng chính là trường hợp nước Pháp, nó duy trì những mối quan hệ khế ước (gồm cả những bảo đảm về tài chính) đối với một vài tôn giáo được thừa nhận trong tỉnh Alsace-Moselle, hoặc trong một số tỉnh hải ngoại thuộc Pháp.

    Thực ra tính thế tục của một nhà nước được đo bằng sự tôn trọng nhiều tiêu chuẩn cấu thành quyền con người và nhà nước pháp quyền hơn là bằng sự tổ chức xã hội - tôn giáo hoặc hình thức chính trị của nó. Trong khuôn khổ đó, sự trung lập của nhà nước nghiêm cấm nó can thiệp dưới bất kỳ hình thức nào vào việc soạn thảo hoặc vào nội dung của các giáo lý tôn giáo, cũng như cấm việc thâm nhập vào bên trong tổ chức của các giáo hội. Mặt khác, nó phải là người đảm bảo việc tôn trọng tự do tôn giáo và chính kiến của mọi người và đảm bảo sự bình đẳng công dân cho mọi cá nhân độc lập với việc họ có thực sự theo một tôn giáo nào hay không. Nguyên tắc thế tục của nhà nước hoàn tục buộc nó tôn trọng nghiêm ngặt tính độc lập của việc xét xử và của quyết định chính trị đối với các quy chuẩn tôn giáo. Ngược lại, các tổ chức tôn giáo không được can thiệp phản đối những điều thuộc lĩnh vực của nhà nước và buộc phải thừa nhận các luật dân sự đứng trên các luật tôn giáo.

    Một vài nhận định về tính thế tục

    Tính thế tục chưa bao giờ là hoàn thiện, hoàn hảo hoặc trọn vẹn. Nó vẫn là một tiến trình lịch sử đang trong quá trình hình thành. Tiến trình thế tục hóa được diễn ra với những nhịp điệu khác nhau tùy theo từng nước, với một niên đại riêng của mỗi sự lập quốc. Nó liên quan đến mọi nhà nước pháp quyền không ngoại lệ, dù nhà nước đó có thuộc phương Tây hay không.

    Tính thế tục không phải là một “giá trị”, nó chỉ đơn giản là một phương tiện để cai trị được thể hiện bằng một nguyên tắc chính trị, và được thi hành thông qua trung gian là những công cụ pháp lý... Nguyên tắc này cho phép các dạng thức khác biệt của những thực hành thế tục. Toàn bộ các tự do cá nhân: tự do tin hay không tin, thay đổi hay bỏ không theo một tôn giáo hoặc một niềm tin, tự do biểu đạt cá nhân, tôn giáo hay chính trị, tự do chọn lối sống, giáo dục, sức khỏe và thậm chí cả chọn cái chết, tất cả các điều này đều thuộc lĩnh vực của sự thế tục... Như thế nguyên tắc trung lập cơ bản của tính thế tục rộng hơn nhiều so với không gian chia sẻ riêng giữa tôn giáo và chính trị.

    Sự thế tục không phải là một ngoại lệ của nước Pháp. Trái lại là khác, nó chỉ là một trong nhiều dạng khác nhau của sự áp dụng nguyên tắc thế tục trong khuôn khổ dân chủ. Vì vậy, không có một sự thế tục Pháp, nhưng có nhiều công cụ thế tục đã được sử dụng trong chiều dài lịch sử, tùy theo những ưu tiên chính trị, xã hội và tôn giáo của mỗi không gian và mỗi thời kỳ...

    Tính thế tục cũng không phải là một ngoại lệ của phương Tây, tức chỉ duy của những nước có nguồn gốc văn hóa Do Thái - Kitô giáo. Nó là một kinh nghiệm chính trị đã xuất hiện khi tính hiện đại lên ngôi và vào lúc dựng nên quốc gia dân tộc. Nó được phát triển cùng lúc với nền dân chủ và với việc hình thành các xã hội dân sự. Kể từ nay, nó là một hiện thực được công nhận ở nhiều nước trên thế giới, tuy chủ yếu là trong các nhà nước pháp quyền, nơi tính đa nguyên được thừa nhận và dân chủ là một thực hành chính trị ăn sâu vào tập quán.

    Tính thế tục không phải là một học thuyết, mà là một tổng hợp các thực hành. Và những thực hành này phải tuân theo điều làm nên tính ưu việt của nhà nước pháp quyền - tức là sự tôn trọng nhân quyền - so với những hình thức khác của nhà nước như: tự do phải là quy luật, cấm đoán, ngoại lệ.

    Những thách thức đổi mới của tính thế tục

    Sự hiện diện của Hồi Giáo ở Châu Âu được làm nổi bật gần đây đã buộc các nước phương Tây phải trau dồi lại nhận thức truyền thống của họ về quốc gia, về tính thế tục và về tư cách công dân để có thể bao hàm nhiều đề nghị tôn giáo mới xuất hiện ít nhiều cùng lúc trong các xã hội của họ. Tất cả các nước này phải, cùng một cách thức, chống lại việc kỳ thị. Hiện nay chúng xuất hiện không chỉ là kỳ thị chủng tộc, mà ngày càng còn là kỳ thị về văn hóa và tôn giáo (chủ nghĩa bài Do Thái, chủ nghĩa chủng tộc bài Hồi Giáo)

    Tính thế tục, xuất hiện trong nhiều diễn văn và phát ngôn chính trị và trên phương tiện truyền thông kể từ ba chục năm nay ở Pháp, đã cho thấy ý nghĩa của nó dần dần nghiêng về việc trưng ra một tính thế tục mang dạng bản sắc (identitaire). Đối với một số người được dịp khơi lại thì tính thế tục này đã trở thành một đặc thù lịch sử xuất phát từ nguồn gốc Do Thái - Kitô giáo, tức một “giá trị” của riêng nước Pháp, nên phải ra sức bảo vệ bằng xác hồn để chống lại những thứ được cảm nhận như là một sự xâm lược văn hóa; và họ xem nó như là từ thứ tư khép lại tiêu ngữ của cộng hòa Pháp [ND: tiêu ngữ của Pháp gồm ba từ: Tự Do - Bình Đẳng - Huynh Đệ] tuy nó mang tính phổ quát… Quan niệm hoàn toàn về mặt tư tưởng này lại ngược đời thường được những người ở xa mọi quy chiếu tôn giáo truyền thống đưa ra (vì vậy rõ ràng vượt ra ngoài những sự công cụ hóa chính trị của phái cực hữu), đến độ trở thành một ngọn cờ được giơ lên chống lại các tôn giáo nói chung và Hồi giáo nói riêng trên danh nghĩa một xã hội muốn đồng thời vừa lý tính vừa khai phóng. Chẳng hạn, đã có nhiều vấn đề được đặt ra về tính thế tục và về tự do biểu đạt sau những cuộc mưu sát vào tháng giêng 2015 (ND: tức cuộc tấn công tòa báo Charlie Hebdo). Nhưng sau niềm chia sẻ, đồng cảm (những cuộc tuần hành khổng lồ, phút mặc niệm, những bày tỏ quốc tế), thì sự nhất trí bề ngoài của quốc gia đã bị dội gáo nước lạnh làm tỉnh lại và nó như bị sứt mẻ, để lộ ra một cách không thương tiếc sự bất đồng trong các quan niệm mà hết người này đến người khác đã mở rộng nó ra - và vì vậy có thể có những giới hạn - nhằm khoác cho sự tự do này một vỏ bọc thế tục.

    Mà tính thế tục tự bản thân nó không phải là một hệ tư tưởng lẫn không phải là một giá trị… Nó chỉ đơn giản là một nguyên tắc pháp lý - chính trị cho phép tiến hành việc chung sống của các cá nhân và các nhóm trong một xã hội, dù đó là trong địa hạt một địa phương, một vùng hay quốc tế. Vậy làm sao ta có thể làm cho ý nghĩa “tự do” của sự thế tục quay trở về như một nguyên tắc chung, được chia sẻ bởi mọi người tự nhận là đang bảo vệ nhà nước pháp quyền? Phải trở về chính nguồn gốc ý nghĩa của ý tưởng thế tục, cấu thành các quyền con người. Vượt ra ngoài khuôn khổ đặc thù của nước Pháp, cần phải nhắc lại một số yếu tố then chốt của tính thế tục, liên đới với tiêu ngữ đòi hỏi cao của Cộng hòa Pháp là: Tự Do - Bình Đẳng - Huynh Đệ.

    Tính thế tục là sự tự do chủ yếu được điều kiện hóa bởi việc thừa nhận đề cao sự bình đẳng

    Một tính thế tục thực sự mang theo tự do không thể bỏ qua việc xét đến trách nhiệm của mỗi cá nhân cho sự vận hành tốt của một xã hội. Phải có tự do, nhưng phải chấp nhận những giới hạn để những hiệu ứng của nó không phản tác dụng và nhất là không lấn sang tự do của người khác.

    Sự tự do đa chiều này, mỗi người phải được hưởng bình đẳng để tự giữ mình khỏi những vi phạm có thể hủy hoại tự do mà những thiết chế hay những cá nhân có thể buộc các cá nhân hay các nhóm phải theo. Điều này có thể bao hàm việc giữ gìn tự do của công dân chống lại âm mưu chuyên quyền của nhà nước, chẳng hạn như việc các thần dân đối mặt với những đòi hỏi quá đáng của một số dạng tôn giáo hoặc dạng đạo đức tự nhận là tôn giáo, đạo đức chung, thường được công cụ hóa bởi chính trị.

    Vì vậy tính thế tục phải cho phép sự biểu đạt an toàn của mọi chủ nghĩa cá biệt, dù cho đó có là về tôn giáo, xã hội hay văn hóa, trong một xã hội được đặc trưng không thể vãn hồi bởi sự hỗn hợp xã hội và tôn giáo và bởi tính đa nguyên của các giá trị và các niềm tin. Bởi vì nó đóng góp vào việc chú ý tới các lời nói và những niềm tin khác biệt, của mọi người khác, như vậy tính thế tục là điều kiện của tự do biểu đạt chính trị hoặc tôn giáo trong sự tôn trọng và bảo đảm bình đẳng cho mọi người, theo hứa hẹn dân chủ vốn có của nhà nước tự do và pháp quyền.

    Tính thế tục không chỉ là sự bàng quan không tìm kiếm thêm tình huynh đệ xã hội

    Nguyên tắc thế tục chỉ cần được nhắc lại khi có khả năng những niềm tin trái ngược nhau so cao thấp - thậm chí đương đầu nhau - bên trong xã hội. Để tìm kiếm những thỏa hiệp làm dịu đi thay vì những đối đầu vô ích, thì sự xiển dương tính thế tục chỉ có thể đảm bảo tự do biểu đạt cho mọi người nơi sự bền bỉ tìm kiếm tình huynh đệ rộng lớn nhất có thể bên trong xã hội đang xét đến.

    Tính thế tục không thể bị gói gọn chỉ ở sự biểu lộ chống đối tiềm tàng hoặc thậm chí chỉ đơn giản là ở sự hoàn toàn dửng dưng của tất cả từng người đối với những niềm tin và biểu thị văn hóa hay tôn giáo của các thành viên khác của xã hội. Thực vậy, nó không đơn thuần là kết quả của chỉ một tổng thể các niềm tin đặc thù được đặt nối đuôi nhau. Nếu các niềm tin này không sống và không tiến triển thông qua những đối thoại thực sự bên trong xã hội, thì thực chất việc thiết lập nguyên tắc thế tục do đó sẽ hoàn toàn bị xem như không có, thậm chí là hoàn toàn vô ích.

    Chính vì có khả năng xích mích, bất hòa, không thoải mái về mặt chính trị, văn hóa, tôn giáo hay xã hội mà sự tôn trọng tính thế tục trở nên thực sự cần thiết. Nó phải là một khuôn khổ cho phép giải quyết những xung đột - địa phương nhất cho đến xã hội nhất - trong mục đích kiên quyết làm sâu đậm sự hòa nhập xã hội và việc tổ chức một cộng đồng quốc gia hay siêu quốc gia (supranationale) thanh bình.

    Tính thế tục là tự do biểu đạt cho mọi người với điều kiện phải tôn trọng tự do của từng người

    Cuộc tranh luận sau sự kiện tấn công sát hại ở Pháp cũng đã cho phép đặt đối lập hai cách nhìn ý niệm về tự do biểu đạt, tuy không hoàn toàn đối chọi nhau, nhưng chúng không có hiệu ứng chính trị giống nhau, cả về bình diện quốc gia lẫn quốc tế. Một trong những hình thức tự do biểu đạt nhất là gắn liền với việc xiển dương một nền luân lý trọn vẹn về niềm tin, tức: tự do biểu đạt bao hàm rằng ta đúng là có quyền tuyệt đối nói về mọi thứ, viết về mọi thứ, châm biếm mọi thứ thậm chí không cần lo ngại những hậu quả tai hại có thể có mà điều này có thể mang lại. Quan điểm kia ngược lại khuyến khích theo một nền luân lý có dấu ấn hơn nơi sự quan tâm đến trách nhiệm của chúng ta đối với người khác và đối với xã hội quốc gia và thế giới: thái độ luân lý này bao hàm khả năng hoãn tạm thời hoặc một phần việc thực hành tự do này, đặc biệt khi nó có nguy cơ phạm vào tự do của người khác.

    Ngay sau cuộc tấn công mưu sát vào tháng giêng, những diễn văn thống trị ban đầu là những bài ca tụng quyền tự do tuyệt đối nhất trên bình diện biểu đạt cá nhân, được tóm gọn trong khẩu hiệu “Je suis Charlie” [Tôi là Charlie]. Những ai chỉ ra mối nguy hiểm của sự tuyệt đối hóa mới mẻ này (tức việc nó có thể đưa sự coi thường những nhạy cảm của người khác đến việc làm hại thể chất các cá nhân) đã có nguy cơ bị một số phương tiện truyền thông và xã hội lên án, rằng họ đã không là “Charlie”, thì bản thân họ không thể được hưởng tự do biểu đạt này mà thoạt đầu họ rất đồng thuận... Cuộc tranh luận chia hai phe thiện ác này, đối lập giữa quân trắng ủng hộ tự do biểu đạt và quân đen tự kiểm duyệt, có lẽ đã làm tổn hại lớn đến tinh thần huynh đệ xem như đã được tìm thấy ngay sau những sự kiện đau lòng đó.

    Tính thế tục là tự do nhưng cũng là trách nhiệm phải nhận và bổn phận phải theo

    Một sự thế tục thực sự mang tự do không thể bỏ qua việc xét đến trách nhiệm của mỗi cá nhân cho sự hoạt động tốt của xã hội. Phải có tự do, nhưng cũng phải công nhận những giới hạn để những hiệu quả của nó không phản tác dụng và nhất là không lấn sang tự do của người khác.

    Các nghị sĩ của Hội đồng lập hiến của Pháp, vào mùa hè năm 1789, soạn thảo ra Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền đã hiểu rõ điều này: mỗi điều khoản đòi hỏi tự do (dù là tự do tư tưởng hay tự do biểu đạt) thì bản thân nó đều chứa giới hạn riêng của mình đó là: tôn trọng trật tự công cộng, tức điều bây giờ bằng việc hiện đại hóa cách diễn đạt chúng ta gọi là, mối lo toan cho việc chung sống tốt hơn.

    Cộng hòa Pháp thậm chí còn đi xa hơn trong việc định nghĩa những giới hạn áp dụng cho việc thực hành tự do biểu đạt đó là: nghiêm cấm hành vi công khai ca tụng chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và bài Do Thái; nhưng cũng bằng việc thông qua nhiều luật ghi nhớ đôi khi chắc có lẽ đã gây nên những trở ngại cho tự do nghiên cứu học thuật và bị các nhà sử học đấu tranh đòi quyền tự do học thuật này.

    Những giới hạn này thậm chí còn tồn tại trong bộ máy pháp lý quốc tế mà nước Pháp đã phê chuẩn. Liên quan đến tự do tôn giáo, khoản 3 điều 19 của Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 nói về những “bổn phận đặc biệt” và những “trách nhiệm đặc biệt” liên quan đến việc thực hành quyền tự do biểu đạt có thể cho phép giới hạn quyền này, trong khuôn khổ tôn trọng pháp luật.

    Như vậy có những giới hạn thực sự (về mặt luật pháp và/hay đạo đức) đối với tự do của chúng ta và đồng thời phải thành thực nhận thức và hoàn toàn công nhận điều này. Thậm chí nếu mọi người có quyền, được cấu thành bởi tự do công cộng không thể tước bỏ, thì những quyền này nhất thiết phải đi kèm với một số bổn phận để hoàn thiện nó. Trước nhất là nghĩa vụ đảm bảo cho người khác cũng được thực hành những quyền như mình và được đối xử hoàn toàn bình đẳng và thế tục.

    Kết luận

    Bài toán khó này, sự cân bằng này, những thỏa hiệp hữu lý có được từ thực hành hợp lý của việc không can thiệp hoàn toàn mang tính thế tục, được người tin đạo cũng như người tự nhận là thế tục chờ đón. Những điều này là một phần của cuộc phiêu lưu của đời sống chúng ta trong xã hội. Và ta chỉ có thể sống trọn vẹn điều này nhờ vào sự kiên quyết thực hiện các nguyên tắc phụ thuộc lẫn nhau này của tự do, bình đẳng và tình huynh đệ. Điều gì tốt hơn sự tôn trọng tự do và bình đẳng của người khác, bằng việc thực thi tình cảm huynh đệ, cho phép tôi lắng nghe những ý kiến khác biệt với tôi, cho phép đối thoại an toàn với những người không nghĩ hay không tin như tôi, cho phép đi đến một cảnh huống chia sẻ điều cốt yếu và một sự chung sống thực sự?

    Bảo vệ tính thế tục là công việc của mọi người, của người sùng đạo cũng như của người có niềm tin nguội lạnh, của người theo thuyết bất khả tri cũng như của người tự nhận vô thần, nó không phải là của riêng một người nào cả. Nó không thể là đặc quyền của những người, tự xưng là thế tục, không ngớt phản ứng giống như vẫy một miếng vải đỏ thể hiện nỗi sợ sự khác biệt và nỗi sợ người khác của họ. Xã hội chúng ta rất đặc trưng bởi sức mạnh căn cước của nó được chia sẻ rộng rãi và đồng thời cũng đặc trưng một cách sâu sắc ở sự cực kỳ đa nguyên của nó. Bằng cách bênh vực thật ồn ào việc trung lập hóa tôn giáo và văn hóa của xã hội này, về lâu dài chúng đe dọa việc sử dụng chính đáng quyền tự do của ta, mà quyền này là khát vọng chung của mỗi người chúng ta.

    Tình huynh đệ là chỉ dấu nắm bắt được của tình đoàn kết nhân loại và của sự hình thành các cộng đồng người trong những xã hội thực thụ của nam nữ bình đẳng về quyền và về phẩm giá. Chỉ có tình huynh đệ mới có thể làm cho chúng ta tiến lên, đồng thời cũng bảo vệ chúng ta khỏi những hiệu ứng man rợ của những kẻ, trên bình diện chính trị, văn hóa, thương mại hay tôn giáo, từ chối sự tự do, sự bình đẳng thật quý giá mà chúng ta có được.

    ___

    Valentine Zuber là nữ sử gia, giám đốc nghiên cứu của trường Thực hành cao học (l’École pratique des hautes études - EPHE, PSL)

    Trích trong Vie sociale, 2018/1 n° 21 | trang 45 đến 54

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Phản hồi: 

    Bài này của dịch giả Minh Toàn dài, tôi chưa đọc nhưng cho ý kiến cá nhân về quan điểm nhà nước thế tục (laïcité), trước khi đọc bài.

    (en France, Selon le Petit Robert)
    Principe de séparation de la société civile et de la société religieuse.
    (Pháp, tự điển Petit Robert)
    Nguyên tắc tách xã hội dân sự và xã hội tôn giáo.

    Quan điểm cá nhân, tôi cho rằng tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo thuộc về tự do cá nhân, chỉ nên là tự nguyện cá nhân và không liên quan đến nhà nước.
    Vi vậy mọi sinh hoạt của cơ quan nhà nước, không được phô trương tôn giáo để phục vụ công dân một cách khách quan.
    Một công dân phụ nữ Hồì giáo, đến đại sứ của một nước Hồì giáo mà không trùm khăn, sẽ bị khó khăn trong việc làm giấy tờ
    Đàn ông Hồì giáo, nếu đi ăn với đồng nghiệp không Hồì giáo, họ có thể uống bia rượu nhưng nếu có thêm các đồng nghiệp Hồì giáo, họ sẽ né, không uống bia. Sức ép, đôi khi đe dọa của cộng đồng tôn giáo rất mạnh lên từng cá nhân và gia đình.
    Chính vi vậy, nhà nước thế tục, không phô trương tôn giáo, không áp đặt mà cũng không cấm tôn giáo, miễn sao các hoạt động tôn giáo không gây thiệt hại cho cá nhân, cho xã hội theo luật định

    Hồi giáo có lẽ là tôn giáo áp đặt luật lệ tôn giáo vào cuộc sống cá nhân và vào xã hội, tạo ra các stereotype gây khó khăn khi ngườì Hồi giáo kiếm job. Thử tưởng tượng mùa lễ Ramadan, nếu ê kíp/lớp học có 50% là Hồi giáo có lẽ nhiều ngườì nghỉ bệnh ở nhà để làm lễ ?

    Cuộc sống ở thế gian ngắn ngủi, ngườì ta bám víu vào cái gì đó mơ hồ sau khi chết nhưng lại muốn áp đặt cho những ngườì khác, cho xã hội. Vấn đề là do chính tôn giáo (bắt buộc ?) từng tín đồ, phải đi tự truyền bá và bảo vệ tôn giáo. Từ đó có thánh chiến, tử vi đạo martyr ...
    Nếu God (Thượng đế, ...) tự đi truyền bá cho mọi ngườì cùng biết, có lẽ mọi việc đơn giản, công bằng hơn và hòa bình ?

    https://www.gouvernement.fr/qu-est-ce-que-la-laicite
    La laïcité garantit la liberté de conscience. De celle-ci découle la liberté de manifester ses croyances ou convictions dans les limites du respect de l'ordre public. La laïcité implique la neutralité de l'Etat et impose l'égalité de tous devant la loi sans distinction de religion ou conviction.

    La laïcité garantit aux croyants et aux non-croyants le même droit à la liberté d’expression de leurs croyances ou convictions. Elle assure aussi bien le droit d’avoir ou de ne pas avoir de religion, d’en changer ou de ne plus en avoir. Elle garantit le libre exercice des cultes et la liberté de religion, mais aussi la liberté vis-à-vis de la religion : personne ne peut être contraint au respect de dogmes ou prescriptions religieuses.

    Phản hồi: 

    Bài dịch rất có giá trị. Xin cảm ơn dịch giả Minh Toàn. Tôi hoàn toàn đồng ý với đoạn quoted sau đây:
    [quote=Dịch giả Minh Toàn] Một sự thế tục thực sự mang tự do không thể bỏ qua việc xét đến trách nhiệm của mỗi cá nhân cho sự hoạt động tốt của xã hội. Phải có tự do, nhưng cũng phải công nhận những giới hạn để những hiệu quả của nó không phản tác dụng và nhất là không lấn sang tự do của người khác.

    . . .
    Như vậy có những giới hạn thực sự (về mặt luật pháp và/hay đạo đức) đối với tự do của chúng ta và đồng thời phải thành thực nhận thức và hoàn toàn công nhận điều này. Thậm chí nếu mọi người có quyền, được cấu thành bởi tự do công cộng không thể tước bỏ, thì những quyền này nhất thiết phải đi kèm với một số bổn phận để hoàn thiện nó. Trước nhất là nghĩa vụ đảm bảo cho người khác cũng được thực hành những quyền như mình và được đối xử hoàn toàn bình đẳng và thế tục.[/quote]
    Tuy nhiên cũng cần biết rằng, dù mục đích của nhà nước thế tục là để bảo đảm tư do cá nhân và tiến tới chế độ pháp quyền, trong thực tế rất nhiều nhà nước thế tục đang thực hiện chế độc độc tài, bóp nghẹt quyền tự do cá nhân và biểu đạt ở nhiều mức độ khác nhau, như Nga, Trung Quốc, Viêt Nam, v.v. Đồng thời cũng nên để ý các tổ chức tôn giáo ở các xã hội có nhà nước thế tục luôn tìm cách áp đặt niềm tin tôn giáo lên luật pháp để tìm cách điều khiển (hay cai trị) bằng tôn giáo nếu không gặp chống đối.