Thảm kịch thành kiến chủng tộc

  • Bởi Admin
    01/07/2020
    20 phản hồi

    Trần Thị Ngự

    Trong những ngày cuối Tháng Năm và đầu Tháng Sáu 2020, biểu tình nổ ra ở nhiều thành phố trong nước Mỹ, cả trước Nhà Trắng, và nhiều thành phố ở các nước khác để phản đối cảnh sát làm chết thường dân không mang vũ khí trong khi đang bị cảnh sát bắt giữ. Video phổ biến trên truyền thông cho thấy hình ảnh nạn nhân, George Floyd, đang bị cảnh sát dẫn đi, hai tay đã bị còng; tiếp đó là hình ảnh một cảnh sát viên đè hai đầu gối lên cổ nạn nhân đang nằm xấp trên mặt đất cùng tiếng kêu của nạn nhân “Tôi không thở được,” và hình ảnh cuối cùng là nạn nhân nằm ngửa bất động trên mặt đất trước khi được đưa đi cấp cứu. George Flyod được tuyên bố tẳt thở khoảng một giờ sau đó. [1]

    Đây không phải là lần đầu thường dân bị nhân viên công lực sát hại. Theo thống kê từ FBI, trong năm 2018 nhân viên công lực hạ sát 410 người một cách chính đáng (justifiable homicides by law enforcement). [2] Tuy nhiên các con số trong thống kê của FBI đưa ra được cho là còn thiếu sót. Trước hết, con số do FBI đưa ra thấp hơn gần một nửa so với các con số từ National Violent Death Reporting System (trực thuộc CDC, Centers for Disease Control and Prevention). [3]

    Thống kê của FBI không phân biệt trường hợp nạn nhân có vũ khí, được coi là nguy hiểm hơn cho cảnh sát, hay không có vũ khí. Thống kê độc lập của The Washington Post cho thấy số nạn nhân không mang vũ khí bị cảnh sát giết giao động từ 47 người (2018) đến 94 người (2015). [4] Trong số này, nạn nhân người da đen chiếm khoảng 1/3.

    Thống kê của FBI cũng không cho biết chủng tộc của nạn nhân cũng như của cảnh sát viên liên quan đến việc sát hại. Theo thống kê độc lập từ The Washington Post, kể từ 2015 (năm The Post bắt đầu thu thập số liệu) mẫi năm có khoảng 1000 thường dân bị cảnh sát sát hại, và người da đen có tỷ số bị sát hại cao hơn gấp hai lần người da trắng (tỷ số người da đen bị sát hại bởi cảnh sát là 30 người/1 triệu dân, trong khi tỷ số của người da trắng là 12 người/1 triệu dân).[5]

    Ngoài ra, thống kê từ FBI cũng không cho biết số trường hợp thường dân bị nhân viên công lực sát hại một cách không chính đáng (unjustifiable). Vì các cơ quan cảnh sát tự đánh giá trường hợp nào là chính đáng, cho nên có thể không phải những con số mà FBI cho là chính đáng đều thật sự chính đáng.

    Tự Vệ Chính Đáng, Bạo Lực Hợp Lý và Thành Kiến Chủng Tộc

    Với nhiệm vụ giữ gìn trật tự và chống tội phạm, nhân viên công lực thường có các va chạm với công chúng, trong đó có những người tình nghi phạm pháp. Để tránh trường hợp cảnh sát lạm dụng quyền lực gây ra những vi phạm dân quyền và nhân quyền, pháp luật đã đưa ra những qui định về hành vi của cảnh sát trong lúc thi hành công vụ.

    Án lệ (jurisprudence) nổi tiếng Tennessee v. Garner (1985) qui định việc sát hại thường dân chỉ được coi là hợp lý (reasonable) trong trường hợp tự vệ (self-defence).[6] Trong vụ này, cảnh sát ở Memphis, Tennessee, được thông báo có tình nghi ăn trộm (break-in). Khi đến hiện trường vào buổi tối, cảnh sát nhìn thấy có người chạy ra sân sau một căn nhà. Khi cảnh sát thấy nghi can chạy đến chỗ hàng rào bao quanh căn nhà, cảnh sát xưng danh và yêu cầu đứng lại, nhưng nghi can bắt đầu leo qua hàng rào. Sợ nghi can bỏ trốn, cảnh sát liền nổ súng. Kết quả là một thiếu niên da đen bị bắn chết, trong người có 10 đô la và một cái ví được cho là do ăn trộm. Trước vụ này, rất nhiều tiểu bang áp dụng học thuyết “kẻ phạm tội chạy trốn” (fleeing felons doctrine) cho phép cảnh sát dùng võ lực có thể gây chết người (deadly force) khi đuổi bắt các nghi can nếu những người này cố tình chạy trốn. Học thuyết “kẻ phạm tội chạy trốn” xuất phát từ Common Law ở nước Anh trước thế kỷ 18, vốn qui định trên 300 tội bị trừng phạt bằng cách treo cổ, kể cả tội móc túi. Như thế, kẻ phạm tội dù có bị cảnh sát bắt sống thì sau đó cũng bị treo cố. Trong vụ Tennessee v. Garner, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) phán rằng “học thuyết kẻ phạm tội chạy trốn” vi phạm Điều 4 Hiến Pháp (search and seizure), và cảnh sát chỉ được dùng võ lực có thể gây chết người (deadly force) để ngăn ngừa chạy trốn khi có lý do chính đáng (probable cause) để cho rằng nghi can là mối đe dọa cho sinh mạng của cảnh sát hay cho người khác. Ít năm sau, án lệ Graham v. Connor (1989) xác nhận thêm rằng nhận định về mối nguy hiểm của nhân viên công lực phải hợp lý (reasonable) và sự hợp lý này phải được xem xét theo quan điểm của nhân viên công lực tại hiện trường. [7]

    Hai an lệ Tennessee v. Garner và Graham v. Connor tạo ra một sự mâu thuấn nội tại giữa một phía là nhận định cá nhân và chủ quan của nhân viên công lực về mối đe doạ hay nguy hiểm và phía kia là sự hợp lý khách quan trong quyết định xử dụng sức mạnh có thể gây chết người của cảnh sát. Bởi vì nhận định về mối nguy hiếm mang tính chủ quan, không loại trừ nó bị ảnh hưởng bởi thành kiến chủng tộc.

    Thành kiến (prejudice) là thái độ, suy nghĩ, hay niềm tin vô căn cứ về một nhóm người. Đặc điểm của thành kiến là cá nhân bị/được xét đoán theo cả nhóm mà họ là thành viên. Thành kiến có tính tiêu cực, và những đặc điểm gán cho một nhóm nào đó thường là thấp kém hay không được xã hội mong muốn. Thành kiến của cá nhân cũng có tính cứng nhắc, khó thay đổi một khi nó đã ăn sâu vào tâm tưởng của người mang thành kiến, ngay cả khi có những bằng chứng trái ngược lại. [8] Thành kiến giúp tạo ra các khuôn mẫu (stereotypes) để xét đoán cá nhân, thường có tính phóng đại, căn cứ vào tổng thể nhóm, chứ không dựa vào sự hiểu biết trực tiếp đối tượng. Cũng như thành kiến, các khuôn mẫu dùng để xét đoán cá nhân thường khó thay đổi một khi đã ăn sâu vào trí não.

    Hệ luỵ của chế độ nô lệ và sau đó là phân chia chủng tộc (racial segregation) đã tạo ra nhiều thành kiến (prejudice) và những khuôn mẫu (stereotypes) về người da đen ở Mỹ. Trong thời kỳ nô lệ, khuôn mẫu về người da đen là ngu độn, thấp kém (inferior) và lười nhác được dùng để biện minh cho chế độ nô lệ. [9] Sau khi chế độ nô lệ bị bãi bỏ, một trong những khuôn mẫu về người da đen là dơ bẩn và dễ truyền bệnh được dùng để lý giải cho chính sách phân biệt chủng tộc (segregation). Các văn bản pháp lý về phân biệt chủng tộc ngăn cấm người da đen không được dùng chung nhà vệ sinh, vòi nước uống và hồ bơi với người da trắng với giả định rằng người da trắng sẽ bị ô nhiễm bởi sự chung đụng. [10]

    Liên quan đến bài viết này là thành kiến và khuôn mẫu của người da đen là nguy hiểm, hung bạo và hay phạm tội (Blacks as criminals). Thành kiến này được ghi nhận là rất phổ biến đến nỗi cụm từ “kẻ săn tội ác” (criminal predator) được dùng một ẩn dụ (emphenism) để chỉ thanh niên da đen. [11] Các nghiên cứu cho thấy khi người da đen và người da trắng cùng làm một hành vi như nhau, hình ảnh người da đen bị cho là có tính cách đe doạ hơn. [12] Tương tự, người trắng thường cảm thấy sợ bị làm hại bởi người lạ da đen hơn là bởi người lạ da trắng. [13]

    Thành kiến và khuôn mấu về người da đen phạm tội ảnh hưởng đến thái độ và hành động của cá nhân, và nhất là nhân viên công lực. Jerome Skolnick, một học giả lão thành từng làm nhiều nghiên cứu về hành vi của cảnh sát ở Hoa Kỳ, cho rằng việc tạo ra các khuôn mẫu (stereotyping) là một thành tố (built in) trong công việc của cảnh sát. Cảnh sát vốn được huấn luyện để nghi ngờ và tìm kiếm tội phạm. Bởi vì công việc đòi hỏi người cảnh sát luôn quan tâm đến khả năng bạo lực, cảnh sát xây dựng hình ảnh “hung thủ tượng trưng” (symbolic assailant) và phát triển một loại nhận thức nhanh gọn (perceptual shorthand) để có thể nhận ra một cách nhanh chóng từng loại nghi can bằng cách xử dụng các tín hiệu thị giác (visual cues) như trang phục, cử chỉ, bối cảnh, giới tính, tuổi tác, hay chủng tộc.[14] Bởi vì người người da đen bị bắt giữ vì lý do phạm tội với tỷ lệ cao, và bởi vì màu da, giới tính, và tuổi tác là các tín hiệu dễ nhận thấy, cảnh sát có khuynh hướng xử dụng khuôn mẫu (stereotype) kẻ phạm tội là đàn ông da đen trẻ tuổi (young black males).

    Thành kiến, một khi đã ăn sâu vào tâm não của cá nhân, trở nên tiềm ẩn (implicit) và trú ngụ trong vô thức khiến cá nhân có thể không nhận ra mình có thiên kiến. [15] Nghiên cứu về tâm lý học cho rằng thiên kiến chủng tộc (racial prejudice) phần lớn là sản phẩm của vô thức (unconscious). Sự thể hiện phân biệt chủng tộc không chỉ ở những hành động có chủ ý của những kẻ cuồng tín về chủng tộc, mà cả từ hành động của những cá nhân có ý tốt, những người không ý thức về cách chủng tộc ảnh hưởng đến các quyết định hàng ngày của họ. [16]

    Những kiểm tra về thiên kiến tiềm ẩn (implicit bias) bằng Implicit Association Test (IAT) cho thấy không những công chúng liên hệ người da đen và Latinos với tội phạm, mà thành kiến này còn thấy nơi nhân viên công lực. Nghiên cứu thí nghiệm về thiên kiến tiềm ẩn cho thấy những người tham gia nghiên cứu (sinh viên cũng như cảnh sát) gặp nhiều khó khăn hơn trong việc phân biệt vũ khí với các vật vô hại khi đối phó với mục tiêu da đen so với khi đối phó với mục tiêu da trắng. Ngoài ra, các người tham dự nghiên cứu bắn vào mục tiêu da đen nhiều hơn mục tiêu da trắng, và đưa ra phản ứng bằng vũ khí dễ dàng hơn với các mục tiêu da đen so với các mục tiêu da trắng. [17] Nghiên cứu cũng cho thấy không phải chỉ người da trắng mà cả người da đen và những người công khai chống thành kiến hay kỳ thị chủng tộc cũng có thiên kiến tiềm ẩn. [18] Ngoài cảnh sát, thiên kiến tiềm ẩn được coi như lan khắp mọi ngõ ngách trong hệ thống hình sự tư pháp ở Mỹ. [19]

    Do tình trạng phổ biến của thiên kiến tiểm ẩn về người da đen phạm tội, người ta có thể thật sự cảm thấy sợ hãi trước những hành vi của người da đen mà nếu khi không có thành kiến thì chỉ thấy bình thường. Thí dụ, khi người da trắng đi với hai tay để trong túi quần, người này được cho là bị lạnh. Khi người da đen đi với hai tay để trong túi quần, người ta nghĩ rắng sắp có chuyện gì xảy ra. [20] Nói một cách khác, khi hành vi của người da đen có thể được hiểu bằng nhiều cách khác nhau, như đưa tay vào trong túi quần, hay cúi xuống để mở cốp trong xe hơi, thì nhiều người, kể cả cảnh sát, trước tiên nghĩ hành vi đó là nguy hiểm. [21]

    Do đó, cảm nhận chủ quan về tình hình nguy hiểm, nhiều phần do ảnh hưởng của thiên kiến về người da đen phạm tội, có thể làm cho hành vi xử dụng vũ lực gây chết người – deadly force – của nhân viên công lực được coi là hợp lý – reasonable- theo tiẻu chuẩn của hai án lệ Tennessee v. Garner và Graham v. Connor.

    Yếu Tố Đóng Góp vào Thành Kiến và Khuôn Mẫu Người Da Đen Phạm Tội

    Nhiều yếu tố đóng góp vào khuôn mẫu người da đen phạm tội, gồm các số thống kê về tội phạm, các chính sách xã hội và hình sự tư pháp (social and criminal justice policies), việc chính trị hoá tội phạm (politicizing crimes), cách truyền thông đưa tin về tội phạm, cũng như thành kiến chủng tộc của những viên chức hình sự tư pháp. Dưới đây là các yếu tố nổi bật.

    Thống Kê Về Tội Phạm (Uniform Crime Reports, UCR). Các số thống kê về tội phạm của các cơ quan thuộc Bộ Tư Pháp đã đóng góp vào việc tạo nên khuôn mẫu người da đen phạm tội. Các số thống kê của FBI về số người bị bắt giữ do nghi ngờ phạm tội (Uniform Crime Reports, UCR) cho thấy người da đen bị bắt giữ với tỷ lệ cao hơn tỷ lệ của họ trong dân số. Người da đen chiếm khỏang 14% dân số, nhưng chiếm 28% những người bị bắt giữ. Tỷ lệ bị bắt giữ vì tội bạo lực còn cao hơn, trên 50%. [22] Tuy nhiên, tên gọi báo cáo, Uniform Crime Report, của FBI gây hiều lầm (misleading) vì thống kê của FBI chỉ là bắt giữ, chưa phải tội phạm. Nghiên cứu cho thấy 80% các trường hợp bắt giữ liên quan đến tội nghiêm trọng (felony) bị truy tố (prosecuted), và tỷ lệ các vụ truy tố đưa đến kết án (convicted) là từ 40% (ăn trộm) đển 88% (án mạng). [23]

    Ngoài ra, các con số từ FBI cũng không nói đến các yếu tố đằng sau quyết định bắt giữ của cảnh sát, như sự gia tăng tuần tiểu của cảnh sát ở những khu vực nghèo khổ nơi đa số người da màu cư ngụ, thái độ của nghi can (do cảm nhận bị áp bức trong nhiều thế hệ, nhiều người da đen có thái độ không khuất phục), hay thiên kiến của cảnh sát.

    Cách Truyền Thông Đưa Tin Về Tội Phạm. Các số thống kê về bắt giữ đăng tải trên truyền thông mà không có các giải thích vể khung cảnh liên quan, cũng như cách truyền thông đưa tin về tình hình an ninh xã hội, làm gia tăng thiên kiến về người da đen phạm tội. Truyền thông có khuynh hướng đăng tải các tin tức về tội phạm bạo lực (violent crime). Bắt giữ về tội bạo lực chỉ chiếm 15% các vụ bắt giữ nhưng chiếm 75% các tường thuật về tội phạm. [24] Ngoài ra, truyền thông hay đưa tin khi nghi can là người da đen và nạn nhân là người da trắng hơn là khi nghi can là người da trắng và nạn nhân là người da đen. [25] Truyền thông cũng hay đưa hình ảnh nghi can da đen ăn mặc bê bối và thường bị cảnh sát kềm giữ hay bị còng tay [26]. Trong những trường hợp không phải tường thuật tội phạm, thanh niên da đen thường bị miêu tả trong một số vai trò giới hạn, thường là những kẻ không theo qui tắc xã hội, những kẻ nguy hiểm, hay bị rối loạn chức năng [27]. Cách đưa tin của truyền thông không những làm gia tăng cảm nhận về tính nghiêm trọng của tình hình an ninh mà còn làm sai lệch cảm nhận của công chúng về ai thường phạm tội, thúc đẩy các phản ứng mang thiên kiến.

    Các Chính Sách Về Hình Sự Tư Pháp. Một số chính sách về hình sự tư pháp (criminal justice policies) có tác dụng củng cố những thành kiến và khuôn mẫu sẵn có. Nổi bật nhất là chính sách chống ma túy trong thập niên 1980s với việc gia tăng hình phạt, đặc biệt cho những trường hợp liên quan đến crack cocaine. Luật Anti-Drug Abuse Act of 1986 qui định bắt buộc tối thiểu (mandatory minimum) là 5 năm tù giam đối với trường hợp tàng trữ 5 grams crack cocaine hay 500 grams powder cocaine.[28] Sự khác biệt gấp 100 lần giữa hai loại ma túy, vốn được các chuyên gia cho là không có khác biệt đáng kể về tác dụng của chúng với não bộ (brain chemistry) mang tính kỳ thị rõ rệt bởi vì người da đen được cho là thường dùng crack cocaine do giá rẻ, trong khi những người dùng powder cocaine thường là người da trắng hay người có học vấn và thuộc thành phần kinh tế cao hơn. [29]

    Trong thời gian có “chiến tranh chống ma túy,” những vụ bắt giữ vì ma tuý gia tăng đáng kể, và người da đen chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Người da đen chiếm 15% những người dùng ma túy, nhưng chiếm 37% những người bị bắt giữ vì ma túy, 60% những người bị kết án vì ma túy, và 74% những người bị phạt tù vì ma túy.[30]

    Sự khác biệt về hình phạt vì ma tuý cũng ảnh hưởng tới thời gian ngồi tù của người da đen. Vì sự gia tăng hình phạt và khác biệt quá lớn về hình phạt cho hai loại ma túy, thời gian ngồi tù vì ma túy của người da đen tăng 77% trong khoảng 10 năm, từ 1994 đến 2003, trong khi thời gian ngồi tù vì ma túy của người da trắng chỉ tăng 28% trong cùng thời gian. [31] Ảnh hưởng tiêu cực của án tù khiến những người từng ngồi tù do can án dễ dàng trở lại con đường phạm pháp, nhất là với các hình phạt vô hình được giải thích dưới đây.

    Hình Phạt Vô Hình (Invisible Punishment). Vì tội phạm là hiện tượng của tuổi trẻ, đa số những người bị tù do phạm tội là người trong độ tuổi 20 tới dưới 40. Thời gian trong tù đã làm họ mất hết những cái mốc quan trọng của một đời người, như học vấn, nghề nghiệp, và xây dựng gia đình. Nhưng sau khi thi hành xong bản án và ra khỏi nhà tù, những qui định hành chánh dành cho người có án tiếp tục đặt ra các giới hạn và ngăn cản con đường họ muốn trở thành người công dân hữu ích cho xã hội.

    Hình phạt vô hình, còn được gọi là “những hậu quả liên đới ” (collateral consequences) đã có từ thời Trung Cổ qui định những kẻ phạm tội coi như không còn hiện diện trong xã hổi (public outlaws, social outcasts), vợ coi như goá bụa, con coi như mồ côi cha, bị mất hết tài sản và không được giữ các chức vụ công quyền.

    Những qui định hành chánh đối với người có án được gọi chung là Hình Phạt Vô Hình (invisible punishment) bởi vì chúng không được công bố khi tuyên án, khiến những người là đối tượng của chúng không hề hay biết cho đến khi họ tìm cách xử dụng những dịch vụ hành chánh mà họ bị ngăn cấm vì có án do phạm tội. Toà án không công bố vì các qui định về hành chánh không phải là hình phạt theo luật. Luật sư biện hộ thường không nắm vững vì những qui định này nằm rải rác trong các văn bản hành chánh, chứ không tập trung vào một chỗ như trong các bộ luật.

    Trong thế kỷ 20, hình phạt vô hình bị chỉ trích là trái với nhân quyền và việc xử dụng giảm đi rất nhiều tại hầu hết các tiểu bang ở Mỹ. Tuy nhiên, với chiến tranh chống ma tuý (war on drugs) và chiến tranh chống tội phạm (war on crimes) hình phạt vô hình được gia tăng xử dụng ở hầu hết các tiểu bang với nhiều hình thức giới hạn mới gần như bao phủ mọi khía cạnh cuộc sống của con người, đặc biệt cho những người từng có án liên quan đến ma tuý, dù chỉ là án tiểu hình (misdemeanor). Những giới hạn hành chánh dành cho những người bị kết án có thể chia ra 4 loại:

    · Giới hạn quyền công dân: không được đi bầu, không được ứng cử, không được làm bồi thẩm.

    · Giới hạn các dịch vụ và trợ giúp xã hội: không được nhận trợ cấp sinh viên (grants), không được nhận học bổng, không được vay tiền đi học; không được nhận trợ cấp xã hội, không được nhận trợ cấp nhà ở.

    · Giới hạn về nghề nghiệp và việc làm: Không được giữ một số chức vụ trong chính phủ, không được xin giấy phép (license) cho một số ngành nghề (thay đổi tùy theo tiểu bang), không được làm một số việc trong phi trường, không được tham gia một số nghề buôn bán.

    · Các giới hạn khác: phải đăng ký là người có án (cho tội phạm tình dục), mất quyền làm cha mẹ (cho tội bạo lực và buôn lậu ma túy), giới hạn về di chuyển (muốn đi ra khỏi địa phương qua đêm phải xin phép), mất bằng lái xe (cho người có án buôn lậu ma túy).

    Đối với những người có án tù lâu năm, khi trở về xã hội, vốn thay đổi rất nhanh trong thời đại tin học, với hai bàn tay trắng và vô số hình phạt vô hình bủa vây quanh cuộc sống, việc cố gắng trở thành người công dân hữu ích là điều vô cùng khó khăn. Do đó, việc quay trở lại con đường tội phạm thường khó tránh khỏi.

    Nhìn vào bề ngoài, hình phạt vô hình không phân biệt màu da, nhưng vì người da đen bị vướng vào pháp luật với tỷ lệ cao hơn người da trắng nên cộng đồng da đen chịu nhiều ảnh hường nặng nề của hình phạt vô hình hơn. Bằng cách đẩy những người từng vướng vào vòng pháp luật tiếp tục phạm pháp đề sống còn, hình phạt vô hình củng cố khuôn mẫu người da đen phạm tội. [32]

    Ảnh Hưởng Của Thành Kiến Chủng Tộc Đến Tác Nghiệp Của Cảnh Sát

    Như đã trình bày ở trên, công việc của cảnh sát đòi hỏi việc xây dựng một vài khuôn mẫu (stereotyping) về người phạm tội căn cứ vào hình thức bên ngoài, như tuổi tác, giới tính, màu da, trang phục, và địa điểm. Các cảnh sát viên cũng thường phải quyết định cũng như hành động rất nhanh. Tuy nhiên khuôn mẫu người da đen phạm tội, vốn được tạo ra bởi thành kiến chủng tộc, đã đóng góp vào nhiều sai lầm gây chết người của cảnh sát. Nỗi sợ hãi người da đen nguy hiểm đã khiến cảnh sát “nhìn thấy súng” trong tay những công dân da đen không hề có vũ khí. Dưới đây là một số thí dụ.

    1. Thấy Thanh Kẹo Tưởng Súng: Vào cuối năm 1997, thiếu nên da đen Andre Burgess đang trên đường đi đến nhà bạn ở Queens, NY, tay cầm môt thanh kẹo “Three Musketeers.” Burgess đi ngang qua một xe tuần tiểu của cảnh sát lúc đó đang rình một trường hợp buôn lậu ma túy. Sau khi đi qua xe cảnh sát, Burguess bóc kẹo ra ăn. Cảnh sát viên William Cannon đang ngồi trong xe tuần tiểu nhìn thấy ánh sáng bạc trong tay Burgess tưởng đó là khẩu súng, liền bước ra khỏi xe, chĩa súng vào Burgess và la lên. Burgess quay lại để xem ai kêu. Liền lúc đó, cảnh sát viên Cannon nổ súng vào chân Burgess khiến thiếu niên này ngã xuống đường, máu chảy lênh láng. Cảnh sát viên Cannon liền mau chóng còng tay Burgess, bỏ mặc người này nằm đó cho máu chảy, rồi đi nói chuyện với đồng nghiệp. Đại bồi thẩm đoàn (grand jury) đã từ chối kết tội (indicted) cảnh sát viên Cannon vì họ cho rằng cảnh sát viên Cannon khi đó đã tin tưởng một cách hợp lý rằng thiếu niên Burgess là mối nguy hiểm cận kề (imminent danger) cho viên cảnh sát này và các người khác.[33]

    2. Thấy Chùm Chìa Khoá Cũng Tưởng Súng: Cũng khoảng cuối năm 1997, cảnh sát viên Michael Davitt và 3 đồng nghiệp cảnh sát ở Brooklyn, NY, đang đáp ứng một báo cáo về xung đột gia đình. Trong lúc cảnh sát tiến gần đến khu nhà tập thể, thì William Withfield, một thanh niên da đen 22 tuổi rời khỏi căn hộ của hôn thê. Vì không có cell phone, Withfield định xử dụng điện thọai công cộng để gọi về cho mẹ. Khi bước tới góc đường có trạm điện thoại công cộng, Withfield gặp phải hai nhân viên cảnh sát. Biết mình đang có lệnh truy nã vì không xuất hiện tại toà khi bị buộc mấy tội tiểu hình về ma túy, Withfield liền bỏ chạy. Các viên cảnh sát liền đuổi theo, rút súng ra và hô “Đứng lại.” Withfield chạy vào một tiêm tạp hoá và trốn đàng sau một kệ hàng. Cảnh sát đuổi theo bén gót và ra lệnh cho Withfield bước ra. Khi Withfield bước ra, hai tay đưa lên đầu hàng, cảnh sát viên Davitt bắn ngay vào ngực Withfield và giết chết người thanh niên này. Cảnh sát viên Davitt khai rằng ông ta nhìn thấy một ánh sáng bạc trong tay Withfield và nghĩ đó là khẩu súng. Một cuộc tìm kiếm rất kỹ lưỡng không tìm thấy khẩu súng nào. Cái duy nhất được tìm thấy quanh chỗ tai nạn xảy ra là chùm chìa khóa mà người thanh niên da đen có thể móc vào ngón tay khi dơ tay lên đầu hàng cảnh sát. Dù vậy, đại bồi thẩm đoàn (grand jury) từ chối kết tội (indicted) cảnh sát viên Davitt vì cho rằng cảnh sát viên Davitt đã tin tưởng một cách hợp lý rằng ông ta và các đồng nghiệp cảnh sát lúc đó ở trong tình trạng nguy hiểm cận kề (imminent danger). [34]

    3. Thấy Đôi Kính Mát Cũng Tưởng Súng. Vào tối ngày 1 Tháng Bảy, 1999, hai cảnh sát viên Thomas Murphy và Anthony Mata được tin báo nên đã theo dõi người đàn ông tên Odest Mitchell (da đen) vì người này được cho là đã thực hiện hàng loạt các vụ ăn cướp ở nhiều khách sạn và cây xăng. Hai viên cảnh sát đã lái xe theo Mitchell đến một trạm xăng nơi Mitchell dừng lại để mua xăng. Cảnh sát ra lệnh cho Mitchell đầu hàng nhưng Mitchell bỏ chạy ra phía xa lộ (free way). Cảnh sát đuổi theo thì bất ngờ Mitchell ngừng lại và quay về phía cảnh sát. Hai cảnh sát viên liền bắn 12 phát súng, 6 phát trúng vào Mitchell và giết chết người này. Hai cảnh sát viên khai rằng họ bắn Mitchell vì họ thấy một vật bằng kim loại trong tay người này và nghĩ đó là một khẩu súng. Một người lái xe đi ngang qua chỗ tai nạn xảy ra nhận làm nhân chứng cũng khai rằng ông ta trông thấy Michell cầm một vật bằng kim loại. Sau một cuộc điều tra kỹ lưỡng, văn phòng công tố kết luận rằng vật trong tay Mitchell là một đôi kính mát. Tuy vậy, công tố đã từ chối truy tố hai viên cảnh sát.[35]

    4. Phụ Nữ Da Đen Cũng Nguy Hiểm: Thấy Cell Phone Tưởng Súng. Vào một ngày đầu Tháng Sáu, 1999, LaTanynia Haggerty, một chuyên viên điện toán (da đen) 26 tuổi, ngồi trong một chiếc xe do người bạn trai (da đen) Raymond Smith lái. Cảnh sát thấy chiếc xe choán một khúc đường và yêu cầu Smith rời xe đi chỗ khác. Smith lùi xe suýt đụng vào cảnh sát rồi phóng chạy. Cảnh sát đuổi theo và bắn vào xe. Cuối cùng cảnh sát chận được Smith và ra lệnh cho Smith và Haggerty bước ra khỏi xe. Smith bước ra khỏi xe và bỏ chạy, trong khi Haggerty vẫn còn ngồi trong xe, đang dùng cell phone nói chuyện với mẹ của Smith. Cảnh sát viên (da đen) Serena Daniels lúc đó đang đứng bên hông xe gần phía đuôi, tay cầm khẩu súng chĩa vào Haggerty. Bất thình lình, cảnh sát viên Daniels nổ súng vào Haggerty. Khi các đồng nghiệp cảnh sát mở cửa xe phía Haggerty ngồi, người này ngã ngục xuống lề đường, mặt úp xấp. Cảnh sát viên Daniels quỳ xuống cạnh Haggerty và nói: “Tôi xin lỗi. Tôi không có ý bắn cô. Tôi tưởng cô cầm súng.” Cảnh sát viên Daniels khai với các nhà điều tra rằng cô nổ súng vì cô nhìn thấy một vật màu bạc và bóng trong tay Haggerty và tưởng đó là khẩu súng. [36] Tháng Ba, 2000 cảnh sát viên Serena Daniels bi đuổi việc sau khi một ủy ban cảnh sát dân sự (Civilian Police Board) kết luận việc nổ súng của Serena Daniels không thể biện minh được. [37]

    5. Phản Ứng Của Cảnh Sát Khi Nhìn Thấy Súng Thật Trong Tay Người Không Khớp Với Hình Mẫu Kẻ Phạm Pháp

    Tìm hiểu xem cảnh sát Hoa Kỳ phản ứng ra sao khi thấy súng trong tay người da trắng giúp hiểu rõ hơn về thành kiến và khuôn mẫu người da đen phạm tội trong xã hội Hoa Kỳ nói chung và cảnh sát Hoa Kỳ nói riêng. Vào ngày 1 Tháng Bảy, 1999, cùng thời điểm với các thí dụ trên đây, một người phụ nữ lớn tuổi da trắng, Janet Lucero, có tranh chấp về dành đường trên xa lộ với một phụ nữ khác, Roberta Nielson. Nielson bị Lucero cắt đầu xe và Nielson đi theo Lucero cho đến khi cả hai xe cùng đậu trong bãi đậu xe của một tiệm ăn nhanh. Nielson bước ra khỏi xe, tiến tới xe của Lucero đòi bà này giải thích tại sao lại cắt đẩu xe khiến suýt xảy ra tai nạn. Hai người đàn bà cãi cọ một lúc thì Lucero rút khẩu súng lục và chĩa vào Nielson. Nielson gọi cảnh sát. [38]

    Khi cảnh sát tới nơi, Lucero không tuân lệnh cảnh sát và từ chối đầu hàng. Lucero thản nhiên lái xe đi khiến cảnh sát phải đuổi theo với tốc độ chậm (slow chase). Trong lúc đuỗi theo, cảnh sát cho xe đi trước xe của Lucero để rải gai nhọn với ý định làm thủng bánh xe của Lucero để bà ta phải dừng lại, nhưng Lucero đều tránh được và còn suýt tông vào xe cảnh sát rải gai nhọn. Sau khoãng 1 giờ rưỡi thì cuộc rượt đuổi chấm dứt khi cảnh sát chận được Lucero trên xa lộ 78 ở San Marcos, CA. Một xe chống bom tự động được điều đến cạnh xe của Lucero, xác nhận trong xe của Lucero có vũ khí. Đàng xa phía sau xe của cảnh sát, các nhân viên cảnh sát, không có súng trên tay, đang cố gắng thuyết phục Lucero đầu hàng. Nhưng Lucero từ chối bước ra khỏi xe. Có một lúc Lucero đưa khẩu súng của bà ta lên, nhưng ngón tay không để vào cò súng, cho cảnh sát thấy là bà ta có vũ khí. Sau đó Lucero nhiều lần đưa khẩu súng vể phía cảnh sát rất nhanh rồi lại để xuống đùi. Cuối cùng thì Lucero bước ra khỏi xe bước về phía cảnh sát, ban đầu với một bàn tay để trong túi trước quần soọc, rồi sau đó là hai tay dơ lên trên đầu. Lucero bị bắt giữ, và cuộc đối đầu đã làm tắc nghẽn giao thông trên xa lộ 78 và các xa lộ nối kệt gần 6 tiếng. [39]

    Lucero bị truy tố về tội lái xe bất cẩn (reckless driving), chống bắt giữ (resisting arrests), trốn tránh cảnh sát (evading police), tấn công cảnh sát (assaulting a peace officer), và vung vũ khí (brandishing a firearm). [40] Tháng Ba, 2000, bồi thẩm đoàn quyết định không kết án (convicted) Lucero đối với hầu hết các cáo buộc về hình sự, nhưng kết án Lucero (convicted) về việc từ chối đầu hàng cảnh sát và chạy trốn cảnh sát trong một cuộc rượt đuổi. Bồi thẩm đoàn tỏ ra thông cảm vởi Lucero khi cho rằng bà ta thuộc thành phần “bà ngoại” (the grandmother type). [41]

    Kết Luận

    Sau cái chết của George Floyd và song song với các cuộc biểu tình ở khắp nước Mỹ và nhiều nơi trên thế giới để chống hiện tượng kỳ thị chủng tộc trong hệ thống (systemic racism) là những yêu cầu cải tổ cảnh sát Hoa Kỳ. Thật sự, tổ chức cảnh sát Hoa Kỳ còn nhiều tồn tại cần giải quyết, như tiêu chuẩn toàn quốc cho việc huấn luyện cảnh sát (national standards for training), quan hệ của cảnh sát với công chúng và các cộng đồng thiểu số, nhận thức của cảnh sát viên về vai trò của cảnh sát trong xã hội, và các tập quán trong nội bộ cảnh sát (police culture). Tuy nhiên, việc cải tổ ngành cảnh sát sẽ không giải quyết được vấn đề thành kiến chủng tộc vốn là một vấn đề xã hội rộng hơn phạm vi của ngành cảnh sát nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến tác nghiệp của cảnh sát Hoa Kỳ. Sự khác biệt trong cách cảnh sát Hoa Kỳ đối phó với trường hợp Lucero rất khác với bốn trường hợp nêu ở trên không phải đơn thuần là do khác biệt về màu da mà là vì Lucero không khớp với hình mẫu người phạm tội (nam giới, trẻ tuổi, da màu).

    Các khuôn mẫu stereotypes được dựng lên bởi thành kiến (prejudice/bias) vốn được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Cái nguy hiểm của thành kiến là một khi chúng đã ăn sâu vào tiềm thức, chúng trở thành “sự thật” đối người mang thành kiến, kể cả một số người thuộc nhóm đối tượng của thành kiến (như người da đen). Khuôn mẫu người da đen phạm tội không những gây ra nhiều cái chết oan uổng mà còn vùi dập cuộc sống của phần lớn người da đen nghèo khổ. Những chính sách xã hội áp dụng cho những người từng vướng vào pháp luật đã không cho cộng đồng người da đen cơ hội để tiến lên như những nhóm chủng tộc và sắc tộc khác ở Hoa Kỳ.

    Dù thành kiến được hình thành lâu đời và đã ăn sâu vào tiềm thức của đa số công chúng, chúng vẫn có thể được gột rửa. Giáo dục để thay đổi nhận thức của quần chúng về quan hệ chủng tộc là điều cốt yếu và cần làm liên tục để có kết quả lâu dài. Bởi vì thành kiến được hình thành do thiếu hiểu biết trực tiếp, phá bỏ ngăn cách thực tế về cư trú (de-facto residential segregation), tạo cơ hội cho người dân thuộc nhiều chủng sắc tộc hiểu biết nhau nhiều hơn sẽ làm giảm được thành kiến. Gia tăng cơ hội học vấn, đặc biệt là gia tăng phẩm chất giáo dục cơ bản ở các khu vực lợi tức kém nơi đa số người da màu sinh sống, và tạo cơ hội kinh tế cho các thành phần yếu kém trong xã hội sẽ làm giảm bớt tội phạm, và lần hồi sẽ xóa bỏ hình mẫu người da đen hay phạm tội. Đồng thời, truyền thông cần thay đổi cách đưa tin về người da màu, cũng như các chính sách xã hội cần giúp những người từng vướng vào luật pháp có cơ hội trở thành người lương thiện. Những cách nếu được thực hiện trong một thời gian dài để có thể từ từ xoá bỏ thành kiến người da đen phạm tội.

    Chú Thích:

    1. Three Videos Piece Together the Final Moments of George Floyd's Life. URL: https://www.cnn.com/2020/06/01/us/george-floyd-three-videos-minneapolis/index.html

    2. 2018-Crime in the United State. URL: https://ucr.fbi.gov/crime-in-the-u.s/2018/crime-in-the-u.s.-2018/topic-pages/tables/expanded-homicide-data-table-14.xls

    3. Catherine Barber et al. 2016. Homicides by Police: Comparing Counts from the National Violent Death Reporting System, Vital Statistics, and Supplementary Homicide Reports. American Journal of Public Health, 106: 922-927. URL: https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4985110/

    4. Todd Beer. 2020. Police Killing of Blacks: Do Black Lives Matter? URL: https://thesocietypages.org/toolbox/police-killing-of-blacks/

    5. Fatal Force. The Washington Post. URL: https://www.washingtonpost.com/graphics/investigations/police-shootings-database/

    6. R. V. del Carmen and J. T. Walker. 2000. Briefs of Leading Cases in Law Enforcement.4th Edition. Cincinatti: Anderson.

    7. R. V. del Carmen and J. T. Walker. 2000. Briefs of Leading Cases in Law Enforcement – 4th Edition. Cincinatti: Anderson

    8. Schaefer, R. (2001). Race and Ethnicity in the United States. Prentice Hall.

    9. Stereotypes of African Americans. Wikipedia. URL: https://en.wikipedia.org/wiki/Stereotypes_of_African_Americans

    10. Monica Williams. 2011. African Americans and Pathological Stereotypes. URL: https://www.psychologytoday.com/us/blog/culturally-speaking/201112/african-americans-and-pathological-stereotypes

    11. Kelly Welch. 2007. Black Criminal Stereotypes and Racial Profiling. Journal of Contemporary Criminal Justice, 23 (3): 276-288.

    12. Birt Duncan. (1976). Differential Social Perception and Attribution of Intergroup Violence: Testing the Lower Limits of Stereotyping of Blacks. Journal of Personality and Social Psychology, 34: 590–598.

    13. Craig John & T. Healdmoore. 1995). Fear of Black strangers. Social Science Research, 24 (3): 262–280.

    14. Jerome, Skolnick. 1966. Justice without Trial: Law Enforcement in Democratic Society. New York: Wiley.

    15. B. Keith Payne. 2001. Prejudice and Perception: The Role of Automatic and Controlled Processes in Misperceiving a Weapon. Journal of Personality & Social Psychology, 81: 181- 192.

    16. Charles R. Lawrence III. 1987. The Id, the Ego, and Equal Protection: Reckoning with Unconscious Racism, Stanford Law Reviews, 39: 317-388.

    17. Anthony Greenwald, Mark Oakes, and Hunter Hoffman. 2003. Targets of discrimination: Effects of race on responses to weapon holders. Journal of Experimental Social Psychology, 39: 399-405.

    18. Joshua Correll et al. 2002. The Police Officer's Dilemma: Using Ethnicity to Disambiguate Potentially Threatening Individuals. Journal of Personality and Social Psychology, 83: 1314-1329; Anthony Greenwald, D. E. Mcghee, & J. L. K. Schwartz. 1998. Measuring Individual Differences in Implicit Cognition: The Implicit Association Test. Journal of Personality and Social Psychology, 74: 1464–1480.

    19. Nazgol Ghandnoosh. 2014. Race and Punishment: Racial Perceptions of Crime and Support for Punitive Policies. URL: https://www.sentencingproject.org/publications/race-and-punishment-racial-perceptions-of-crime-and-support-for-punitive-policies/

    20. Weitzer, R. (2000). Racialized Policing: Residents’ Perceptions in Three Neighborhoods. Law & Society Review, 34: 129–155.

    21. Making people aware of their implicit biases doesn’t usually change minds. But here’s what does work. URL: https://www.pbs.org/newshour/nation/making-people-aware-of-their-implicit-biases-doesnt-usually-change-minds-but-heres-what-does-work

    22. Xem chú thích 2. https://ucr.fbi.gov/crime-in-the-u.s/2018/crime-in-the-u.s.-2018/tables/table-43

    23. Hans Zeisel. 1981. The Disposition of Felony Arrests. University of Chicago, Law School. URL: https://chicagounbound.uchicago.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=12051&context=journal_articles

    24. Xem chú thích 2; Mary Beth Oliver. 2003. African American Men as "Criminal and Dangerous": Implications of Media Portrayals of Crime on the "Criminalization" of African American Men. Journal of African American Studies, 7: 3-18; R. Reiner, S. Livingstone, & J. Allen. 2003. From Law and Order to Lynch Mobs: Crime News Since the Second World War. In P. Mason (ed), Criminal Visions: Media Representations of Crime and Justice, pp.13-32. Portland: Willan Publishing.

    25. D. Pritchard & K. D. Hughes. 1997. Patterns of deviance in crime news. Journal of Communication, 47: 49-67; A. Weiss & S. M. Chermak. 1998. The News Value of African American Victims: An Examination of the Media’s Presentation of Homicide. Journal of Crime and Justice, 21: 71-88.

    26. R. M. Entman. 1990. Modern racism and the images of Blacks in local television news. Critical Studies in Mass Communication. 7: 332-345; R. M. Entman. 1992. Blacks in the news: Television, modern racism, and cultural change. Journalism Quarterly, 69: 341-361; R. M. Entman. 1994. African Americans according to TV news. Media Studies Journal 8: 29-38.

    27. D. Steffensmeier, J. Ulmer. & J. Kramer. 1998. The interaction of race, gender, and age in criminal sentencing: The punishment cost of being young, Black, and male. Criminology, 36: 763-796.

    28. Cracks in the System: Twenty Years of Unjust Federal Crack Cocaine Law. URL: https://www.aclu.org/sites/default/files/pdfs/drugpolicy/cracksinsystem_20061025.pdf

    29. Xem chú thích 28; J. J. Palamar et al,. 2015. Powder Cocaine and Crack Use in the United States: An Examination of Risk for Arrest and Socioeconomic Disparities in Use. Drug and Alcohol Dependence, 149: 108-116.

    30. Xem chú thích 28.

    31. Xem chú thích 28.

    32. Jemery Travis. Invisible Punishment: An Instrument ofSocial Exclusion. In Marc Mauer & Chesney Lind (eds.): Invisible Punishment. URL: https://www.urban.org/sites/default/files/publication/59901/1000557-Invisible-Punishment-An-Instrument-of-Social-Exclusion.PDF

    33. Kit R. Roane, Deputy Marshal Is Cleared in Shooting of Queens Teenager, N.Y. TIMES, Mar. 5, 1998; Dennis Duggan, Black, Unarmed and Often a Target, NEWSDAY, Feb. 9, 1999.

    34. Robert D. McFadden, After Man Is Slain by Officer, Anger and Calls for Patience. N.Y. TIMES, Dec. 27, 1997; Robert D. McFadden, Panel Finds Officer Was Justified in Unarmed Man's Fatal Shooting, N.Y. TIMES, Jan. 31, 1998.

    35. Bill Romano et al., Police Shoot, Kill Armed-Robbery Suspect: 2nd This Week, 7th This Year, SAN JOSE MERCURY NEWS, July 3, 1999.

    36. Jennifer Vigil & James Janega, Killed in Run-Ins with City Police: Victims' Families Demanding Answers, CHI. TRIB., June 6, 1999; Todd Lighty, Untold Story of Haggerty Shooting: Report Shows Witnesses Don't Back Cop's Account, CHI. TRIB., Sept. 12, 1999.

    37. Gary Marx & Terry Wilson, 3 Fired in Haggerty Case, CHI. TRIB., Mar. 18, 2000, at 1.

    38. Jeff McDonald, Standoff Snarls N. County, SAN DIEGO UNION-TRIB., July 2, 1999; Alex Roth, Road Rage, Chase Detailed as Route 78 Trial Begins, SAN DIEGO UNIONTRIB., Mar. 14, 2000.

    39. Standoff After Freeway Chase Snarls North San Diego County Highway Traffic, ASSOCIATED PRESS NEWSWIRES, July 1, 1999; Alex Roth, Road Rage Before 78 Standoff Described, SAN DIEGO UNION-TRIB., Aug. 27, 1999.

    40. Greg Moran, Woman Pleads Not Guilty in Chase, Standoff, SAN DIEGO UNION-TRIB., July 8, 1999.

    41. Onell R. Soto, Woman in Standoff To Be Evaluated, SAN DIEGO UNION-TRIB., June 9, 2000.

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    20 phản hồi

    Video quay từ camera gắn ngực CS cho thấy cách thức CS hành xử đối với George Floyd: có thể hơi thô bạo (lúc cuối), nhưng chẳng có bằng chứng kỳ thị chủng tộc, như phe cực tả/Dân Chủ/truyền thông dòng chính/BLM/Antifa/Mác-Xít/giáo sư xã hội học đã la làng khi kết tội cảnh sát và toàn thể người Mỹ da trắng, và đã gây ra tình trạng náo loạn, giết chóc tại nhiều thành phố:
    https://www.youtube.com/watch?time_continue=402&v=YPSwqp5fdIw&feature=emb_logo

    " Nhận vào Y khoa Mỹ thì như thế đấy, vào được trường Y, học thêm 4 năm, ra trường có bằng bác sĩ nhưng cũng chưa có cơm cháo gì vì còn phải "Resident", nghĩa là phải có một bệnh viện nào đó nhận vào để được học nghề thêm 3 năm nữa, như là giải phẩu, tim mạch hay nội khoa hay bác sĩ gia đình (family doctor).vv..học cái ngành khỉ này ra trường con gái hết muốn lấy chồng, con trai thì tửng tửng bởi cả cuộc đời chỉ học từ ngày bước chân vào đại học, và ra bằng bác sĩ và có cơm có cháo, mất mịa nó 11 năm, đôi khi cả 15 năm nếu không suông sẽ. "

    Bác Ba,
    Tôi có người quen, lập gia đình, vượt biên 1981, qua Cali quận Cam, vậy mà học thành công bác sĩ, qua Nebraska làm "Resident". Tay này kiên nhẫn và giỏi
    Nghe người này kể, ở quận Cam, lúc mới qua, đi xe bus công cộng sẽ bị coi thường là nghèo (cảm nhận chủ quan qua ánh mắt) .
    Tay bạn khác ở quận Cam nói, nếu ra đường thấy xe mới, tốt, chúng tỏ kinh tế ok
    Tôi bảo họ, đi làm xe công cộng xe điện ngầm ngoại ô và nội thành cho nhanh, không bị kẹt xe. Đi xe hơi tiện nghi thật nhưng sắp hoặc vào đến TP nhiều khi kẹt xe 2 giờ, hoặc phải đi thật sớm khỏi nhà 5 giờ sáng tránh kẹt xe
    Cali không có xe điện ngầm, lái xe hơi có lẽ là solution

    Học bác sĩ, nơi nào cũng khó và mất thời gian kể cả tây Âu nhưng bù lại, đa số bác sĩ đều giàu, khá giả

    NGT viết:
    các môn học liên quan đến y khoa, kỹ sư, cần có kỳ thi tuyển vào các ngành bác sĩ, nha sĩ, kỹ sư.
    -để công bằng, nên tránh công khai hóa nguồn gốc sinh viên khi chấm bài mà mỗi sinh viên dự thi, có một mã số. Nhân viên chấm bài chỉ biết mã số
    -sao khi chấm xong, chỉ lấy n mã số có điểm cao nhất ví dụ 200 và m mã số dự phòng ví dụ 201 - 250 case sinh viên không ghi danh học

    Bác NGT đề cập đến chuyện này ở Mỹ, nên tui bình chút cho thêm chuyện,

    Kỹ sư Mỹ không cần phải thi bác ạ, sau khi học trung học, cứ toán lý hóa giỏi là cứ ghi danh vào học đại học, trường công hay tư tùy chọn lựa, sau bốn ra trường là có job thơm nếu là sinh viên giỏi dù học từ trừơng trung bình, chẳng cần phải Stanford hay Berkeley, nước Mỹ có cả ngàn trường đại học từ hệ hai năm, 4 năm, và hậu đại học cao học hay tiến sĩ, trường dổm Mỹ cũng không thiếu nên mới có chuyện quan chức VN toàn tiến sĩ nhưng tiếng Anh một chữ bẻ đôi

    Riêng các ngành Y, Dược, Nha hay Luật nó đòi hỏi sinh viên phải tốt nghiệp cử nhân 4 năm và sau đó mới thi cái bài thi của ngành của mình thích, dựa trên thành tích học lực GPA của 4 năm và điểm của bài thi, cộng với yếu tố cá nhân nhà trường sẽ tuyển sinh.

    Nói về chuyện trường Y Mỹ, như website tui đã cung cấp, có trường Y, 9000 ngàn hồ sơ xin tuyển sinh để chỉ được nhận 150 vị trí, đây là cách họ làm rất minh bạch: họ (hội đồng tuyển) lọc để rồi chỉ còn chọn 500 hồ sơ trong tổng số 9000 để được goi vào vòng phỏng vấn, 500 hồ sơ này được chọn vì thành quả GPA+MCAT=70% và 30% là năng lực cá nhân do năng nổ, do có kinh nghiệm, hay thư giới thiệu..vv... Nói về GPA+MCAT thì như đã đề cập những ƯU ĐÃI cho sinh viên thiểu số gốc da đen, trong số 500 được chọn ấy có GPA+MCAT=THẤP vì yếu tố màu da, nhưng khi 500 sinh viên được chọn và bước vào vòng phỏng vấn, người phỏng vấn ( thuờng là bác sĩ) hoàn toàn không biết gì điểm GPA+MCAT hay yếu tố gì mà người sinh viên được gọi vào vòng phỏng vấn, người phỏng vấn chỉ quan tâm đến sự thông minh, nhạy bén, kinh nghiệm hay cách ứng xử trong mọi trường hợp cho mỗi loại câu hỏi, đóng lại sau khi phỏng vấn là đánh giá cao hay thấp của người phỏng vấn về mỗi thí sinh, và 30% này chính là điểm làm giọt nước tràn ly, được nhận hay không nhận vào trường Y của năm đó cho vị trí 150 trong số 500 được xem là đã là xuất sắc và có triển vọng.

    Nhận vào Y khoa Mỹ thì như thế đấy, vào được trường Y, học thêm 4 năm, ra trường có bằng bác sĩ nhưng cũng chưa có cơm cháo gì vì còn phải "Resident", nghĩa là phải có một bệnh viện nào đó nhận vào để được học nghề thêm 3 năm nữa, như là giải phẩu, tim mạch hay nội khoa hay bác sĩ gia đình (family doctor).vv..học cái ngành khỉ này ra trường con gái hết muốn lấy chồng, con trai thì tửng tửng bởi cả cuộc đời chỉ học từ ngày bước chân vào đại học, và ra bằng bác sĩ và có cơm có cháo, mất mịa nó 11 năm, đôi khi cả 15 năm nếu không suông sẽ.

    VN có trường Y Phạm Ngoc Thạch, có anh bác sĩ mới ra trường, quyết học tiếng Anh và xin vào Mỹ để được Resident, phải nói anh là của hiếm trong số 90 triệu người Việt trong nước, vì anh đã làm được kỳ tích này, anh ra đi mà không hẹn trở về để phục vụ như bọn Tàu+ đã làm cho sinh viên của chúng, ưu đãi người trở về để phục vụ, thay vì phải quan tâm nhấn mạnh điểm này thì lời bình về bài báo của các độc giả trong nước lên đồng là Y Khoa Phạm Ngọc Thạch là ngôi sao, y khoa Mỹ là dổm nên anh sinh viên kia mới dễ dàng thành công như thế, đọc những lời bình này mà tui tá hỏa tam tinh, quên mịa nó chuyện giáo sư Ngự nói sinh viên da đen Mỹ không được ưu tiên ở trường Y Mỹ

    Khi Washington DC bị cướp và đốt, sang ngày thứ hai, chỉ một động tác đe doạ cho gọi vệ binh và hình ảnh quân đội cùng Trump chụp hình, bọn DC thổ tả tấn công Trump không từ một ngôn từ nào, nhưng chính hành động này của Trump lại ngăn ngừa được chuyện không làm gì được của cảnh sát hay chính cảnh sát DC đứng ngoài lề để trung tâm quyền lực Mỹ là White house bị động loạn

    Chuyện đã qua ở tiểu bang Minnesota, nay bọn DC thổ tả chúng bắt đầu tố nhau, tên thống đốc DC Minnesota không làm gì cả khi được yêu cầu gởi vệ binh trấn áp bọn cướp và đốt, bởi chính chúng bọn DC thổ tả có tuyên ngôn "nước Mỹ kỳ thị có hệ thống"

    Đoc tin:

    https://www.yahoo.com/news/lost-control-minneapolis-leaders-failed-141407152.html

    NGT viết:
    rong chính sách, luật, có thể không biểu hiện kỳ thị (chủng tộc, màu da, tôn giáo, ...) nhưng khi áp dụng thực tế, vẫn có kỳ thị. Lý thuyết và thực hành không hoàn toàn giống nhau.
    Bác nào phán quả quyết nơi tôi đang sinh sống không hề có kỳ thị racist, discrimination, có lẽ bác này ít tiếp xúc, tưởng tượng, hoặc đang ở paradise chăng ?

    Con người mà !
    Có người lúc đầu tỏ ra nghi kỵ ghét người khác nhưng sau khi tiếp xúc, ... lại thay đổi ý kiến, trở nên hòa hoãn hơn.
    Ngược lại, có người lúc đầu tỏ ra thân thiện người khác, nhưng sau khi tiếp xúc, ... lại hay đổi ý kiến, trở nên ghét, gièm pha, kỳ thị

    Ý kiến này đúng, nhưng ... irrelevant, không ăn nhập gì đến trọng điểm của vấn đề đang được tranh cãi. Chẳng ai nói Mỹ là thiên đàng cả.
    "Kỳ thị" xảy ra ở tất cả các nước trên thế giới. Loại "kỳ thị" này có lẽ xảy ra thường xuyên ở Nhật/Đài Loan/Singapore/Pháp vv. nhiều hơn là ở Mỹ. Nếu được cấp giấy phép đến để định cư, có lẽ đa số người di dân, dù cho là có mầu da tím, xám, cam, xanh dương, đỏ tía gì đó cũng sẽ chọn nước Mỹ.

    Nước Mỹ không có bình đẳng, vì không có nước nào bình đẳng. Vì con người không bình đẳng: chúng ta có hiểu biết hạn chế, không lấy được thông tin đầy đủ, có tính bè phái, ưu đãi bà con, bạn bè, dễ sa vào tham nhũng. Nếu xã hội mà thật sự có bình đẳng, thì sự cách biệt, khác biệt về thành quả giữa con người với nhau và giữa các nhóm người lại càng xảy ra nhiều hơn, vì không ai có tài năng, hiểu biết, kinh nghiệm, trí khôn ngoan, sức mạnh trí tuệ giống nhau cả. Ví dụ điển hình là bố mẹ thương con cái đồng đều như nhau, nhưng bàn tay có ngón dài ngón ngắn...
    Bởi thế chính phủ mới ban hành nhiều chính sách thật ra đi ngược lại với lý tưởng bình đẳng đúng nghĩa ấy, cốt để tìm cách làm giảm thiểu sự khác biệt trong xã hội.
    Bình đẳng khiến sự thăng tiến trong xã hội lệ sẽ thuộc vào tài năng cá nhân. Các phe nhóm thiên tả rất ghét bình đẳng vì lý do này, cái "bình đẳng" mà họ hô hào là sự giống hệt nhau về kết quả.

    Vấn đề đang được bàn cãi ở đây là nước Mỹ có áp dụng chính sách kỳ thị chủng tộc có hệ thống hay không? Tôi chờ bà Ngự đưa ra bằng chứng đến mỏi mắt, mà chỉ thấy bà này viết một bài dài lòng thòng, cứ thế mà tuôn ra theo kiểu trả bài, tố cáo nước Mỹ đủ mọi chuyện. Chỉ toàn là cơm nguội, nhưng chẳng thấy thịt cá gì hết.

    Bà Ngự cứ kể lể về những cái "ghetto" dính liền với hệ thống trường học bết bát, nhưng điều này chỉ cho thấy có sự khác biệt về kết quả sinh sống/thành tựu giữa cộng đồng da đen và các cộng đồng khác, chứ đâu phải là bằng chứng kỳ thị chủng tộc. Người Việt khi mới di dân đến Mỹ cũng phải sống ở những khu lụp xụp kém an ninh của mình, nhưng sau một thời gian làm việc và dành dụm, họ có tiền, dời sang những chỗ khác, và lại còn dư tiền cho con cái học trường tư nữa. Trong cộng đồng người Việt và người Á đông nói chung, hiện tượng con gái có bầu sớm chưa làm đám cưới và > 50% trẻ em sinh ra không ở với cha có phổ biến không? Trong cộng đồng người Việt có hiện tượng học sinh nào mà chăm học thì bị chế riễu là "bắt chước theo đuôi da trắng" không?

    Tại sao không tìm kiếm những lý do thật sự gây ra hố phân cách giàu nghèo, mà cứ thấy có cái hố là đổ tội cho người da trắng đã đào hố để "gết-tô" người da đen ở đó?

    Tôi nghĩ để mở rộng cơ hội cho tất cả sinh viên và bảo đảm chất lượng :
    -các môn học liên quan đến y khoa, kỹ sư, cần có kỳ thi tuyển vào các ngành bác sĩ, nha sĩ, kỹ sư.
    -để công bằng, nên tránh công khai hóa nguồn gốc sinh viên khi chấm bài mà mỗi sinh viên dự thi, có một mã số. Nhân viên chấm bài chỉ biết mã số
    -sao khi chấm xong, chỉ lấy n mã số có điểm cao nhất ví dụ 200 và m mã số dự phòng ví dụ 201 - 250 case sinh viên không ghi danh học, ....
    -nếu mỗi trường có quota phần trăm theo thể loại, sẽ áp dụng trên n mã số đầu tiên. Ví dụ muốn có 70% sinh viên quốc tịch bản xứ trên n mã số đầu tiên và nếu không đủ sẽ lấy trên m mã số dự phòng. Đề phòng và giới hạn số sinh viên quân sự của Tàu.

    -các môn học khác có thể ghi danh tự do hoặc tổ chức kỳ thi tuyển tùy theo đại học, áp dụng quota trên danh sách trúng tuyển

    Trong chính sách, luật, có thể không biểu hiện kỳ thị (chủng tộc, màu da, tôn giáo, ...) nhưng khi áp dụng thực tế, vẫn có kỳ thị. Lý thuyết và thực hành không hoàn toàn giống nhau.
    Bác nào phán quả quyết nơi tôi đang sinh sống không hề có kỳ thị racist, discrimination, có lẽ bác này ít tiếp xúc, tưởng tượng, hoặc đang ở paradise chăng ?

    Con người mà !
    Có người lúc đầu tỏ ra nghi kỵ ghét người khác nhưng sau khi tiếp xúc, ... lại thay đổi ý kiến, trở nên hòa hoãn hơn.
    Ngược lại, có người lúc đầu tỏ ra thân thiện người khác, nhưng sau khi tiếp xúc, ... lại hay đổi ý kiến, trở nên ghét, gièm pha, kỳ thị

    Ba Lúa viết:
    Các môn học về nhân văn xã hội trong nhà trường Mỹ nói ngang nói dọc, trên trời dưới đất, sinh viên càng to miệng trong lớp biết tranh cải trong lớp thì chắc chắn như đinh tên sinh viên ấy sẽ lấy điểm A, và như thống kê nước Mỹ, nợ tiền học của sinh viên nước Mỹ là 1500 tỷ dolla, mà thành phần nợ như những tên học các ngành về nhân văn xã hội này lại chiếm tới 80% trong tổng số các ngành bởi không có bọn nào ngu xuẩn như bọn này phải vay mượn 50000 đolla một năm để học cái ngành nói phun nước bọt mà lại phải chui vào những cái trường mà nó chém như thuốc bắc, học xong ra trường điểm cao nhưng không việc bởi xã hội đâu cần những thành phần phun nước bọt này, không việc bởi không chuyên môn, không trả được nợ lai chê trách xã hội không công bằng, kỳ thị và cuối cùng thì xù không trả nợ học và để cho xã hội gánh, tội xù nay là kết quả của nhà trường cùng đám giáo sư nói phun nước bọt để lôi cuốn bọn chúng khi tuổi còn thơ

    Học toàn là những thứ vô tích sự và ăn hại như là: Lý Thuyết Phê Phán Xã Hội Học (critical theory), Oán-Hờn Oán-Trách Luận đề (grievances studies), triết học Hậu hiện Đại, Lý thuyết đa giới tính (có cả trăm giới tính) vv. thì làm sao ra trường mà lại mong mỏi các công ty kỹ thuật mướn mình? Nếu có được mướn thì cũng sẽ bị lay off trước tiên khi công ty bắt đầu lỗ lã. Bị mất việc thì lại đổ thừa cho "kỳ thị chủng tộc có hệ thống", rồi đi nhập băng đảng Black Lives Matter để hôi của cướp đồ.
    Tại sao lại phải đi vay nợ để học những thứ chết tiệt ấy? Sao không học nghề quách cho rồi, vì thợ điện, thợ sửa ống nước, sửa nhà kiếm được tiền cũng khá lắm mà?

    TRAN THI NGỰ viết:
    nhưng tôi không cho rằng sinh viên da đen được ưu đãi vì có điểm trung bình thấp hơn. Lý do đơn giản là MCAT và GPA không phải là tiêu chuẩn duy nhất trong việc tuyển sinh vào trường y khoa.

    Giáo sư Ngự dạy hoc Mỹ mà phán thế thì tui cũng thua bởi tui chưa được dạy, nhưng tui chỉ biết rằng:

    Các môn học về nhân văn xã hội trong nhà trường Mỹ nói ngang nói dọc, trên trời dưới đất, sinh viên càng to miệng trong lớp biết tranh cải trong lớp thì chắc chắn như đinh tên sinh viên ấy sẽ lấy điểm A, và như thống kê nước Mỹ, nợ tiền học của sinh viên nước Mỹ là 1500 tỷ dolla, mà thành phần nợ như những tên học các ngành về nhân văn xã hội này lại chiếm tới 80% trong tổng số các ngành bởi không có bọn nào ngu xuẩn như bọn này phải vay mượn 50000 đolla một năm để học cái ngành nói phun nước bọt mà lại phải chui vào những cái trường mà nó chém như thuốc bắc, học xong ra trường điểm cao nhưng không việc bởi xã hội đâu cần những thành phần phun nước bọt này, không việc bởi không chuyên môn, không trả được nợ lai chê trách xã hội không công bằng, kỳ thị và cuối cùng thì xù không trả nợ học và để cho xã hội gánh, tội xù nay là kết quả của nhà trường cùng đám giáo sư nói phun nước bọt để lôi cuốn bọn chúng khi tuổi còn thơ

    Học khoa học đâu phải chuyện nói phì nước bọt, khoa học là 1+1=2 mà không là 3, bởi học khoa học phải có khả năng, nhất là ngành y lại phải có bộ óc khác người là thông minh là tiêu chí cao, Y khoa nó là mạng sống con người, chữa trị không có chuyện 1+1=3 bà Ngự nhé, vây MCAT nó không là thước đo thì nó là gì khi điểm MCAT+GPA=70% để đánh giá tiêu chuẩn chọn lựa tuyền sinh, 30% còn lại mới là yếu tố khác như kinh nghiệm như đã làm trong bênh viện, làm nghiên cứu sinh và sau cùng là thành phần nào trong xã hội.... MCAT+GPA=70% đã chiếm một phần trăm lớn như thế, nếu không ưu đãi điễm này vì mầu da đen thì nhóm thiểu số này được mấy sinh viên vào trường Y, mong giáo sư Ngự tham khảo cái website mà còm sĩ Tuan 344 đã cung cấp trước khi ta tranh luận nhé

    Trần Hữu Cách viết:
    Thời gian ngồi tù tăng tới 77% chắc chắn có liên hệ với án chung thân. Bác Ngự nên khảo sát tác động của đạo luật "Violent Crime Control and Law Enforcement Act of 1994", thường được gọi tắt là "1994 Crime Bill" đối với nam giới thuộc các cộng đồng da màu. Tác giả chính của đạo luật này là Joe Biden, khi đó là thượng nghị sĩ dưới thời Tổng thống Clinton. Đạo luật chứa một "phát minh" (tôi cho là kinh khủng!) là án tù chung thân dành cho người phạm tội ba lần ở bất cứ mức độ trầm trọng nào.

    Cảm ơn bác Trần Hữu Cách đã nhắc đến "Crime Bills, 1994."
    Bác nói đúng là luật này có một "phát minh" kinh khủng là chính sách "three trikes, you're out" (tái phạm 3 lần thì lãnh chung thân). Thoạt đầu, chính sách three strikes thuộc luật liên bang, rồi lần hồi các tiểu bang được khuyến khích làm theo (bằng các fundings). California là một trong những tiểu bang có "cơn sốt three strikes" cao nhất và hơn hai mươi năm sau (1996-2010), khi nhà tù tiểu bang không còn chỗ và ngân sách của tiểu bang không còn tiền để điều hành nhà tù (chi phí nhà tù ở California là gần $50,000/tù nhân) thì chính quyền Cali từng nghĩ đến chuyện xử dụng (mua lại) các motels vắng khách cho các tù nhân không bạo lực.

    Tôi không rõ Biden tham gia đến mức độ nào trong việc khai sinh ra Crime Bills, nhưng nếu Biden có tích cực tham gia, thì tôi không ngạc nhiên. Thực sự, Biden không phải là chính khách duy nhất hay trong số ít thúc đẩy Crime Bills, 1994.

    Sau khi Reagan tuyên bố "chiến tranh" chống drugs và chống bạo lực vào giữa 1980s, cả nước Mỹ như "lên đồng" trong việc ủng hộ hai "cuộc chiến" đó. Truyền thông đưa toàn tin bạo lực giật gân khiến người dân sợ hãi họ có thể là nạn nhân của tội phạm bất cứ lúc nào.

    Trong không khí sợ hãi tội phạm của công chúng, Lee Atwater, cố vấn cho chiến dịch tranh cử của G.W. H Bush năm 1988, đã nghĩ ra cách chính trị hoá tội phạm (politicizing crímes) bằng cách sử dụng "Willie Horton" scandale (https://en.wikipedia.org/wiki/Willie_Horton) để đánh đối thủ Michael Dukakis là "soft on crime." Các chính khách dân cử cùng nhảy lên toa tàu, thi nhau chứng tỏ với cử tri họ chính là người "toughest on crimes." Tại Texas, ứng cử viên thống đốc G. W. Bush chê đương nhiệm Ann Richard, một người ký nhiều lệnh hành quyết nhất nước Mỹ lúc đó, là "soft on crime." Bill Clinton lên làm tổng thống 1993 cũng muốn chứng tỏ là "tough on crime" bằng cách ký crime bills, 1994.

    Việc hình thành three trikes law ở Cali bị chính trị hoá đến nỗi nó không còn thể hiện mong muốn ban đầu của những người muốn chống tội bạo lực. Trong khi Three strikes của liên bang qui định "lock the door and throw the keys" cho các tội bạo lực, cơn sốt chính trị hoá tội phạm ở Cali đã qui định "lock the door and throw the keys" cho tất cả các felonies, bao gồm trên 300 tội, kể cả tội ăn cắp (larceny theft) và tội ký check không tiền bảo chứng. Thuờng những người phạm tội đồ vật (property crimes) hay tái phạm, nên sau khi có luật Three strikes, Cali có nhiều người bị án chung thân chỉ vì tội ăn cắp vặt. Có trường hợp một người đàn ông đã có hai án về tội trôm, và lần thứ ba là ăn cắp một cái xe đạp trị giá $50. Người này bị án chung thân theo luật three strikes. Người này kiện lên tận TCPV vì lý do hình phạt "unusual and cruel" nhưng TCTV bác đơn với lý do là California có quyền ấn định hình phạt cho các tội phạm xảy ra trong tiểu bang.

    Sau hơn 20 năm xử dụng three strikes và tough on crime, dân số tù ở nước Mỹ tằng gấp hơn 400%, khiến nuớc Mỹ có dân số tù nhân (và tỷ lệ người dân bị tù) cao nhất trong các nước kỹ nghệ phát triển.

    Mặc dù thống kê về arrest cho thấy arrests bắt đầu giảm liên tục từ 1994, nhưng dân số những người bị giam giữ (incarcerated) vẩn tăng đều đặn trong hơn 20 năm cho đến 2010 mới có dấu hiệu ngừng. Ngân sách tiểu bang thụt giảm sau cơn đại suy thoá (great recession 2008) cùng với sự gia tăng nhanh chóng dân số tù nhân già (aging prison population, cần nhiều chi phí hơn), khiến các tiểu bang cũng như liên bang đang phải đau đầu đối phó với dân số tù nhân khổng lồ, kết quả của các cơn sốt chính trị hoá tội phạm.

    Tran Thi Ngự viết:
    Cách đây gần 20 năm trong một đợt thảo luận rất gay cấn về cách tuyển sinh đại học và Affirmative Actions, cơ quan ETS (educational Testing Service, cơ quan tỗ chức SAT hay ACT v.v.) đã phải công nhận không có một cái test nào có thể đo được hết năng lực của một cá nhân.

    Điều này đúng (nếu "năng lực cá nhân" ở đây có nghĩa là khả năng trí tuệ +ý chí bền vững+có động cơ học hỏi mạnh +tính hiếu kỳ vv.). Điểm thi không đo được các thứ này, nhưng phỏng vấn (+quan sát tướng tá hành vi và xem tướng mạo cùng với cách đối đáp) thì giúp giám khảo biết được "năng lực cá nhân" của ứng viên?
    Đọc mấy lá thơ giới thiệu của giáo sư viết khen học trò mình tấm tắt thì biết được "năng lực cá nhân"?
    Đọc bản tiểu luận thấy cá nhân có tham gia làm những chuyện từ thiện thì biết được "năng lực cá nhân"?

    Tran Thi Ngự viết:
    Do đó, chỉ khi nào người ta thoát khỏi quan điểm lạc hậu của thế kỷ 19, coi chuyện "dùi mài kinh sử" là thước đo khả năng của con người thì người ta mới thôi đem MCAT, GMAT, GRE, LSAT hay GPA so sánh, coi đó là tiêu chuẩn duy nhất cho tuyển sinh.

    Đúng rồi, đúng rồi, chỉ có ngành nghiên cứu xã hội thì mới thoát được quan điểm lạc hậu của thế kỷ 19 coi trọng dùi mài kinh sử, tại vì ngành này xem "hồng hơn chuyên".

    Chữ in đậm trong đoạn trích dẫn: lập luận người rơm! (straw man fallacy). Không ai nói điểm học bạ và MCAT là tiêu chuẩn duy nhất cho việc tuyển sinh.

    Tôi đồng với việc nhà trường đã nương tay cho các sinh viên da màu (trừ màu vàng), khi không xem điểm học bạ và MCAT là tiêu chuẩn quyết định để tuyển sinh. Điều này giúp cho cộng đồng da đen và Hispanic có thêm bác sĩ người của họ. Không phải là bad idea, tuy nhiên, đây lại thêm một sự kiện "gân gà khó nuốt" nữa, đi ngược lại với phiên bản "Mỹ quốc kỳ thị da đen" của bọn thiên tả.

    BA LÚA viết:
    Cái sai biệt MCAT và GPA, nếu không có ưu đãi cho gốc dân da đen thì các cháu VN ở Mỹ sẽ lấy trọn cái số được nhận vào trường Y (1627 của gốc da đen) bởi học lực của chúng còn rất cao hơn nhiều nhưng vẫn bị loại, nên nhớ rằng thi MCAT của Mỹ, khó nhất trong các loại thi, chỉ tăng vài điểm MCAT khi thi lại là xanh máu mặt, vì vậy mà 320 triêu dân Mỹ mà có bao nhiêu xin tuyển vào trường Y Mỹ, nhìn thống kê thì rõ

    Tôi đồng ý với còm sĩ BA LUÁ rằng có khác biệt trong điểm trung bình của MCAT hay GPA của các sinh viên có nguồn gốc chủng/sắc tộc trúng tuyển y khoa, nhưng tôi không cho rằng sinh viên da đen được ưu đãi vì có điểm trung bình thấp hơn. Lý do đơn giản là MCAT và GPA không phải là tiêu chuẩn duy nhất trong việc tuyển sinh vào trường y khoa. Hãy đọc đoan quote dưới dây từ một trung tâm cố vấn tuyển sinh ở Mỹ:

    Trích dẫn:
    Medical schools widely publicize their goal of admitting a diverse applicant pool and their practice of holistic admissions, that is, they consider all factors—stats, experiences, personal background, etc.—when making admissions decisions.

    A diverse physician population can better serve the diverse patient population we have in the United States. Of course, race/ethnicity is an integral aspect of diversity. Therefore, it’s understandable why admissions committees go to such great lengths to practice “race-conscious admissions” and recruit students from various backgrounds and walks of life.

    https://www.shemmassianconsulting.com/blog/medical-school-acceptance-rates-by-race
    Cách đây gần 20 năm trong một đợt thảo luận rất gay cấn về cách tuyển sinh đại học và Affirmative Actions, cơ quan ETS (educational Testing Service, cơ quan tỗ chức SAT hay ACT v.v.) đã phải công nhận không có một cái test nào có thể đo được hết năng lực của một cá nhân.

    Do đó, chỉ khi nào người ta thoát khỏi quan điểm lạc hậu của thế kỷ 19, coi chuyện "dùi mài kinh sử" là thước đo khả năng của con người thì người ta mới thôi đem MCAT, GMAT, GRE, LSAT hay GPA so sánh, coi đó là tiêu chuẩn duy nhất cho tuyển sinh.

    @ Ba Lúa:
    Tài liệu tại https://www.aamc.org/ ấy thật là chi tiết và cập nhật hoá.
    Không những cách biệt vài điểm MCAT là big deal, mà sự khác biệt về GPA cũng đáng kể, để nâng điểm từ 3.38 đến 3.72 cũng phải xám mặt, thức khuya để học, đọc nhiều sách và nhất là có trí não "sáng sủa" một chút... À, mà quên mất, "ở đâu có sự khác biệt về thành quả là ở đó có kỳ thị chủng tộc." :)

    Tran Thi Ngự viết:
    Ưu đãi trong giáo dục:: Thế nào là ưu đãi? Thừ xem phẫm chất giáo dục phổ thông ở những khu ghetto nơi đa số dân da đen sống để xem trẻ em da đen được hưởng nền giáo dục ưu đãi như thế nào mà các học sinh thường có khả năng đọc, viết, toán thấp hơn cấp lớp đến 2 hay 3 bậc.

    Bác là giáo sư "dạy" người Mỹ, vậy có chữ nào trong đoạn dưới đây mà bác không hiểu?

    “Affirmative action” means positive steps taken to increase the representation of women and minorities in areas of employment, education, and culture from which they have been historically excluded. When those steps involve preferential selection—selection on the basis of race, gender, or ethnicity—affirmative action generates intense controversy.
    (Stanford Encyclopedia of Philosophy)

    TRAN THI NGỰ viết:
    Ưu đãi trong giáo dục:: Thế nào là ưu đãi?

    Nói về MCAT Mỹ, đồ thị mà còm sĩ Tuan344 cung cấp dù cũ nhưng nó vẫn đúng với chỉ số ưu tiên cho các sắc dân đễ được nhận vào trường Y ở Mỹ mà vẫn không thay đổi tới hiện tại

    MCAT đã thay đổi cách thi đã bốn năm nay, hiện nay không còn thi 3 môn, với 3 môn, điểm mỗi môn tính từ 1 đến 15 cao nhất với trung bình là điểm 8 như đồ thị của Tuan344, cộng 3 môn trung bình là 24

    Nay MCAT đã là 4 môn, mỗi môn là 118 đến 132 cao nhất, và trung bình là 125, cộng 4 môn trung bình là 500

    Nước Mỹ có hơn 200 trường Y trong đó có 170 trường Y loại MD (Allopathic Doctor) và 30 trường DO (Osteopathic Doctor), tiêu chuẩn DO thấp hơn MD, không vào nỗi MD thì vào DO, nhưng đời chết nhau vì tiếng gáy, nên phải ra đảo xa xôi Caribbean để lấy được cái title MD nhưng chất lượng thì lại thua DO học trong nước Mỹ

    Nói về ưu ưu đãi, bà Ngự lắng nghe đây dù bà là giáo sư:

    Nước Mỹ 320 triệu dân, 40 triệu dân là sắc dân da đen, 20 triệu dân là sắc dân Á, trong đó Tầu + Ấn Độ + Phi Luật Tân cao nhất trong số này 10 triệu, sau đó tới Việt Nam và Hàn quốc, mỗi sắc dân Việt hay Hàn là 2 triệu người, số còn lại là các sắc dân Á khác

    Con cháu Tàu hay Ấn là loại chiến, bởi bố mẹ chúng được tuyển vào Mỹ qua dạng tuyển chất sám hình thức visa học và ở lại làm việc, nay bố mẹ chúng là công dân, con cái sanh tại Mỹ, con cháu Hàn thì gần như Việt

    Người Việt tại Mỹ, cha ông là tỵ nạn, HO hay đinh cư đoàn tụ, chẳng là chất sám Mỹ cần nhưng lại lao động chân tay tốt, con cháu nay sinh đẽ tại Mỹ, chắc chắn chất sám không bằng bọn Ấn hay Tàu vì di truyền ( di truyền là có thật trong sinh học), nói thế không có nghĩa con cháu thế hệ sinh đẻ tại Mỹ dổm mà nay rất giỏi và vươn mạnh, nhưng con cháu Việt tại Mỹ đánh được con cháu Tàu, Ấn và có Hàn thì cũng ná thở, bởi bọn chúng giỏi lắm

    Nhấn vào website dưới dây, đễ thấy bọn sinh viên Á Châu giỏi thế nào trong các môn thi của MCAT và điểm ra trường với bằng cử nhân sau 4 năm để là tiêu chuẩn xin học trường Y, trong số Á châu được nhận thì có bao nhiêu cháu gốc Việt?

    https://www.aamc.org/system/files/2019-10/2019_FACTS_Table_A-18.pdf

    Giải thích website: phần 1 là điểm sinh viên xin học ( Applicants ), phần 2 là tiêu chuẫn được nhận ( Matriculants )

    Vào MD, GPA=3.7, MCAT=507 hay cao hơn
    Vào DO, GPA=3.5, MCAT=500 hay cao hơn

    Đây là ưu đãi cho gốc da đen: 4419 xin tuyển, được nhận 1627, tỷ lệ 1/3, MCAT=505, GPA=3.38

    Gốc Á: 11027 xin tuyển, được nhận 4687, tỷ lệ hơn 1/3 chút xíu, nhưng MCAT=513, GPA=3.71

    Cái sai biệt MCAT và GPA, nếu không có ưu đãi cho gốc dân da đen thì các cháu VN ở Mỹ sẽ lấy trọn cái số được nhận vào trường Y (1627 của gốc da đen) bởi học lực của chúng còn rất cao hơn nhiều nhưng vẫn bị loại, nên nhớ rằng thi MCAT của Mỹ, khó nhất trong các loại thi, chỉ tăng vài điểm MCAT khi thi lại là xanh máu mặt, vì vậy mà 320 triêu dân Mỹ mà có bao nhiêu xin tuyển vào trường Y Mỹ, nhìn thống kê thì rõ

    Vào Y Mỹ là một hãnh diện trong gia đình Việt, chuyện này không sai, nó là một giấc mơ trong mỗi gia đình, nên quí lắm

    Chuyện SAT hay ACT tụi trung học, miễn bàn, đã có bà Ngự nói rồi

    Tran Thi Ngự viết:
    . Căn cứ vào đâu để cho rằng điễm SAT, ACT cao là "giỏi"?

    Đọc lại đoạn viết của tôi về điều kiện thi vào y khoa ở Mỹ! MCAT, chứ không phải là SAT, ACT.
    Muốn xin vào y khoa phải có cử nhân. Đa số sinh viên theo bên cử nhân khoa học.
    Trường y đánh giá hiểu biết, trình độ đọc và hiểu tài liệu phức tạp, và tài suy luận + giải quyết các vấn đề liên quan đến sinh vật học, hoá học hữu cơ, sinh hoá, toán, vật lý, tâm lý học ở mức độ cơ bản. Vì thế mới có cái test dành cho trường y là MCAT, còn SAT chỉ có toán, đọc và verbal mà thôi.
    Nếu test của anh quá bết thì anh chẳng biết cái quái gì hết về sinh vật, hoá học, tâm lý, làm sao mà theo học y khoa nổi!
    Bà là ai mà mở miệng ra chê bai trường y khoa của Mỹ là tại sao lại đi xài một cái test mà không phân biệt học sinh giỏi hay dở được?
    Ồ, tôi biết rồi, giáo sư xã hội học!

    Tuan344 viết:
    Như bác Ba Lúa đã có viết, người đa đen là sắc dân được hưởng rất nhiều đặc ân, từ welfare, tem phiếu, thuế vụ đến chính sách ưu đãi trong tuyển chọn nhân viên và giáo dục. Bà Ngự là người Mỹ, tại sao bà này không biết đến chuyện ấy?

    1. "Đặc ân welfare": Đúng là welfare/tem phiếu không phải là "quyền" mà là "đặc ân" (và còn bị cho là gánh nặng xã hội). Nhưng đâu có phải tất cả mọi người da đen đều được nhận welfare/tem phiếu đâu. Sự thật là chỉ những người có lợi tức thấp dưới mức nghèo khổ bất kể màu da đều nhận welfare. Nếu tỷ lệ nhận welfare trong cộng đồng da đen cao hơn thì đó chính là người da đen có lợi tức thấp hơn các nhóm chủng/sắc tộc khác. Vậy thì thay vì cho rằng người da đen có nhiều "đặc ân" nhận welfare thì phải hỏi tại sao người da đen lại có lợi tức thấp đến mức có tỷ lệ nhận welfare nhiều hơn các nhóm khác. Nếu welfare là một "đặc ân" thì còm sĩ BA LÚA có muốn hủởng cái "đặc ân" ầy hay không?

    2. "Đặc ân thuế": nếu người da đen đóng thuế thấp thì đó không phải "đặc ân" mà chỉ vì cộng đồng da đen nghèo hơn các cộng đồng khác. Vậy thì thay cho rằng người da đen có "đặc ân" (sic) đóng thuế ít thì phải hỏi tại sao người da đen lại có lợi tức thấp như vậy.

    3. "Ưu đãi trong việc tuyển dụng": Hãy chứng minh người da đen được ưu đãi trong tuyển dụng.
    Thực tế là mỗi khi kinh tế xuống dốc, first fired là da đen. Người da đen cũng có tỷ lệ thất nghiệp (unemployment rates) cao gấp từ 2 đến 5 lần người da trắng (https://www.epi.org/publication/valerie-figures-state-unemployment-by-race/). Nếu được ưu đãi trong tuyển dụng tại sao lại có tỷ lệ thất nghiệp cao?

    4. "Ưu đãi trong giáo dục:: Thế nào là ưu đãi? Thừ xem phẫm chất giáo dục phổ thông ở những khu ghetto nơi đa số dân da đen sống để xem trẻ em da đen được hưởng nền giáo dục ưu đãi như thế nào mà các học sinh thường có khả năng đọc, viết, toán thấp hơn cấp lớp đến 2 hay 3 bậc.
    Còn tuyển sinh đại học thì mỗi trường học có tiều chuẩn tuyển sinh phù hợp với missions của trường. Căn cứ vào đâu để cho rằng điễm SAT, ACT cao là "giỏi"? Mấy sinh viên lực sĩ được tuyễn vô trường đâu có điểm SAT, ACT cao mà sao không ai phân bì? Chính sách "con ông cháu cha" của các Ivy Leagues, tuyển dể dàng các ứng viên có cha/mẹ đã từng học ở đó (như trường hợp Bush cha và Bush con) sao không ai phân bì? Nếu có một số rất ít sinh viên da đen được tuyển chọn vào đại học với chính sách mà nhiều nguồi cho là "ưu đãi" (sic) thì con số thanh niên da đen đang nguồi tù còn cao hơn, sao không thấy ai thắc mắc?

    Dùng stereotypes để xét xử, thi hành và hành xử công lý, tuyển người vv. là điều tối kỵ vì nó vừa bất công vừa tai hại cho cả phe phán xét lẫn cả nạn nhân của việc đối xử phân biệt phi lý ấy. Tưởng tượng một công ty mà mướn tuyển người dựa trên stereotypes thì bảo đảm trong đám nhân viên ấy sẽ có rất nhiều kẻ vô tích sự, ảnh hưởng đến lợi nhuận và tính năng cạnh tranh của công ty ấy.

    Bởi vậy, Steven Pinker đã nói câu này:

    Một cục đá ném hai con chim: Pinker vừa đả kích việc sử dụng stereotype để phán xét con người, vừa đánh đổ con quái vật totem của bọn thiên tả và chiến sĩ xung kích chết-sống-vì-công-bình-xã-hội. Cái phiên bản về "bình đẳng hay công bình xã hội" của phe cực tả ở Mỹ đồng hoá "khác biệt về thành quả" với "bất công vì bị da trắng áp bức". Theo cái ý thức hệ bệnh hoạn này, sự việc có nhiều nam giới theo ngành kỹ thuật/toán kỹ sư hơn là nữ giới có nghĩa là đàn ông kỳ thị đàn bà, hễ một sắc dân nào đó có lực tức thu nhập thấp hơn mức trung bình là họ bị kỳ thị chủng tộc vv.

    Như bác Ba Lúa đã có viết, người đa đen là sắc dân được hưởng rất nhiều đặc ân, từ welfare, tem phiếu, thuế vụ đến chính sách ưu đãi trong tuyển chọn nhân viên và giáo dục. Bà Ngự là người Mỹ, tại sao bà này không biết đến chuyện ấy? Tại vì chủ nghĩa Mác-Mao văn hoá hà hơi tiếp sức ngọn lửa cách mạng của nó với nguyên liệu huyền thoại về áp bức và kỳ thị chủng tộc. Không có bình đẳng về kết quả thì bọn thiên tả ấy không còn lẽ sống nữa và những kẻ như bà Ngự sẽ mất toi cái job trong bộ môn nghiên cứu xã hội, mà 18% là đảng viên Mác Xít và 24% là phần tử cực đoan thiên tả.

    Bây giờ, bác nào ở bên châu Âu mà tự hào và khoan khoái vì tin rằng Hoa Kỳ kỳ là một quốc gia thị chủng tộc, không được như các nước "cấp tiến" ở bên kia bờ Đại Tây Dương, thì xin đơn cử ra một chính sách ưu đãi người da đen mà có tính chất rộng lượng hơn Mỹ ở chuyện này: việc tuyển người để nhận lãnh cái mà được xem như "top job" trong xã hội (sau vài năm huấn luyện):

    Ở Mỹ trường y khoa nhận sinh viên dựa chủ yếu vào điểm thi MCAT, học bạ, phỏng vấn, và vài thành tích cá nhân khác. Người Mỹ da đen được ưu đãi hơn tất cả, ở cùng mức độ thành tích cá nhân.
    Lấy thí dụ, một sinh viên với điểm học bạ và điểm MCAT thuộc loại trung bình (cột ở giữa) có 81% cơ may được nhận nếu là da đen, và 21% được nhận nếu là gốc Á. Sinh viên da vàng mà có điểm thi/học bạ loại xoàng (cột thứ nhất) thì hy vọng vào trường y không được sáng sủa lắm, trong khi người da đen vẫn còn 56% cơ hội để vào y khoa.
    Lý do có lẽ là, ở vào bất kỳ mức độ thành tích nào cũng có nhiều người gốc Á đạt được tiêu chuẩn ấy hơn là người da đen. Nếu chỉ nhận người dựa vào yếu tố meritocracy thôi thì tỷ lệ của sinh viên da đen theo y khoa sẽ rất thấp so với tỷ lệ dân số của người da đen. Điều này chứng tỏ trường Y không những không có chính sách kỳ thị người da đen, mà họ đã hy sinh nguyên tắc chọn người theo tài năng-thành tích, và tìm cách giới hạn số người da trắng, nhất là người gốc Á, cốt để người da đen có cơ hội được nhận vào trường nhiều hơn.

    (Vào ngành nghiên cứu xã hội thì không đòi hỏi tài năng hay điểm thi, học bạ gì hết, mà chỉ cần tuyên thệ trung thành chiến đấu sát cánh với các giáo sư thiên tả ngồi mát ăn bát vàng :)

    Ví dụ của bác Tuấn thì tôi đồng ý thôi bởi lý do là nó không làm thiệt hại ai cả

    Stereotypes giúp người ta xác định tình hình một cách mau lẹ, khi chưa có đủ thông tin chính xác và chuyên biệt hơn để đối phó với mỗi tình huống khác nhau. Tôi có thể đồng ý.

    Tuy nhiên nếu khuôn mẫu (stereotypes) là lý do để lách điều luật chính thức, xét xử không công bằng, ví dụ tuyển job, ... thì chắc chắn gây thiệt hại nặng cho người đàng hoàng nhưng bị nghi oan về khuôn mẫu (stereotypes)

    Trong tôn giáo cũng vậy . Có những công ty ngại tuyển nhân viên Hồi giáo vì một vài khuôn mẫu (stereotypes) vẫn xảy ra. Nhưng không phải tất cả những người Hồi giáo nào cũng cu$'ng ngắc bám vào khuôn mẫu này.

    Làm thế nào để cần bằng khuôn mẫu (stereotypes) với mỗi tình huống thật sự ?

    Tran Thi Ngự viết:
    Sự khác biệt về hình phạt vì ma tuý cũng ảnh hưởng tới thời gian ngồi tù của người da đen. Vì sự gia tăng hình phạt và khác biệt quá lớn về hình phạt cho hai loại ma túy, thời gian ngồi tù vì ma túy của người da đen tăng 77% trong khoảng 10 năm, từ 1994 đến 2003, trong khi thời gian ngồi tù vì ma túy của người da trắng chỉ tăng 28% trong cùng thời gian. [31]

    Thời gian ngồi tù tăng tới 77% chắc chắn có liên hệ với án chung thân. Bác Ngự nên khảo sát tác động của đạo luật "Violent Crime Control and Law Enforcement Act of 1994", thường được gọi tắt là "1994 Crime Bill" đối với nam giới thuộc các cộng đồng da màu. Tác giả chính của đạo luật này là Joe Biden, khi đó là thượng nghị sĩ dưới thời Tổng thống Clinton. Đạo luật chứa một "phát minh" (tôi cho là kinh khủng!) là án tù chung thân dành cho người phạm tội ba lần ở bất cứ mức độ trầm trọng nào.

    Chưa thấy Biden vỗ ngực tự hào về công trình soạn đạo luật này trong cuộc tranh cử hiện tại. Nhưng suốt một thời gian dài trước đây, ông ấy vô cùng tự hào. Video dưới đây do một người ủng hộ Biden thực hiện:

    https://youtu.be/wcpO329xTGI

    TRAN THI NGỰ viết:
    Các khuôn mẫu stereotypes được dựng lên bởi thành kiến (prejudice/bias) vốn được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Cái nguy hiểm của thành kiến là một khi chúng đã ăn sâu vào tiềm thức, chúng trở thành “sự thật” đối người mang thành kiến, kể cả một số người thuộc nhóm đối tượng của thành kiến (như người da đen). Khuôn mẫu người da đen phạm tội không những gây ra nhiều cái chết oan uổng mà còn vùi dập cuộc sống của phần lớn người da đen nghèo khổ.

    Khuôn mẫu (stereotypes) không phải là tật xấu, hay khiếm khuyết về đạo đức, mà là một cơ chế nhận thức căn bản của tất cả mọi người, dựa trên những gì người ta đã biết từ trước. Stereotypes giúp người ta xác định tình hình một cách mau lẹ, khi chưa có đủ thông tin chính xác và chuyên biệt hơn để đối phó với mỗi tình huống khác nhau.

    Tôi xin đơn cử một thí dụ. Một giáo sư xã hội học nọ đến thăm và ngắm cảnh tại một thành phố lớn ở Mỹ. Để tìm đến trạm metro, bà ấy phải lựa chọn giữa hai con đường vắng vẻ:
    1/Một cái hẻm có hai, ba cụ già người gốc Á đang đi dạo
    2/Một con đường nhỏ có ba anh thanh niên người da đen ở đó.

    Bà giáo sư lập tức chọn con đường số 1. Điều này không nhất thiết có nghĩa là bà này là một người xấu, hay là kỳ thị chủng tộc. Bà ấy chỉ lấy quyết định dựa trên stereotype mà thôi. Tôi nghĩ là đa số mọi người sẽ lấy quyết định giống như vậy. Dù cho "ba thanh niên da đen" được thay thế bằng "ba người đàn ông (bất kể mầu da)" thì kết quả chọn quyết định cũng không thay đổi.
    Stereotype là cái kim chỉ nam để xài trong lúc cấp bách. Stereotype chỉ trở thành thành kiến kỳ thị (racial prejudice) khi ta đã có đủ thông tin để chứng tỏ cái khuôn mẫu ấy là sai lầm, mà vẫn còn khăng khăng níu giữ cái định kiến có ác ý ấy và không thay đổi cách phán xét.

    Cái khuôn mẫu về "người da đen là người dữ" thật ra có phần sai lầm rất lớn. Chính xác ra, ta phải nói là "đa số người da đen là người đàng hoàn, không gây tội ác. Có một số người đa đen, đặc biệt là giới thanh niên hay người tương đối còn trẻ, gây ra tội ác nhiều lần hơn so với các người trẻ của các cộng đồng khác."
    Tuy nhiên, trong cái thí dụ nói trên, bà giáo sư không có thông tin gì hết về ba anh thanh niên da đen ấy, nên bà ấy đã lấy cái quyết định nào mà giúp làm giảm thiểu điều rủi ro nguy hại đến sự an toàn của mình.

    Cái stereotype về "người da đen lộn xộn" ấy bắt nguồn từ đâu ra? Từ những chuyện xảy ra thường xuyên trong xã hội Mỹ mà ai cũng biết cả.
    Dưới đây là thông tin lấy từ bản báo cáo tội giết người do chính phủ Obama công bố (trang 11):
    https://www.bjs.gov/content/pub/pdf/htus8008.pdf