George Floyd và người da đen ở Mĩ

  • Bởi Admin
    02/06/2020
    8 phản hồi

    Nguyễn Tuấn

    Tên anh trở thành biểu tượng cho đấu tranh chống lại sự tàn bạo của cảnh sát. Anh cũng là một người da đen 'fit' đúng vào cái profile tiêu biểu của người da đen ở Mĩ. Nhưng có phải đó là do nên công lí kì thị của Mĩ như nhiều người nói, hay là do những vấn đề tồn tại trong cộng đồng người da đen. Những con số thống kê sẽ trả lời câu hỏi đó.

    1. George Floyd

    Anh sanh năm 1973 ở Fayettville, North Carolina. Nhưng anh ta lớn lên ở Texas, theo học Trường trung học Yates High School, và ở đó anh trở thành cầu thủ có hạng. Có lẽ vì lí do gia đình George bỏ học. Theo báo chí, năm 2009 anh ta bị kết án 5 năm tù giam vì tôi xâm nhập nhà và cướp (robbery and home invasion), mãi đến năm 2013 mới được tại ngoại. Năm 2014, sau một thời gian tìm không được việc làm, George di cư đến Minneapolis và định cư trong khu phố chủ yếu là người da đen.

    Ở Minneapolis anh ta làm 2 việc: vừa lái xe truck ban ngày và vừa làm bảo vệ cho một nhà hàng ban đêm. Những người bạn anh ở nhà hàng cho biết anh là người tử tế, và rất thích mọi thực khách chào anh một tiếng. Nhưng vì dịch bệnh, nên thành phố Minneapolis bị 'lockdown' và anh ta mất việc làm. Có thể nói George là nạn nhân của dịch Vũ Hán.

    Hôm thứ Hai (25/5/2020), một nhân viên bán hàng của một tiệm chạp phô (Minneapolis) gọi điện cho cảnh sát báo rằng George dùng tiền giả (20 đôla). Cảnh sát đến còng tay anh ta, đè xuống mặt đường. George bị viên cảnh sát Derek Chauvin dùng đầu gối đè xuống cổ làm cho nạn nhân không thở được. Câu nói của George làm ám ảnh cả thế giới "Tôi không thở được". Thế nhưng chẳng hiểu lí do gì mà viên cảnh sát vẫn dùng biện pháp đó. George được chở vào bệnh viện, nhưng anh qua đời ở đó.

    Những người quen biết mô tả George Floyd là người có trách nhiệm xã hội. Sau khi ra tù, anh làm việc thiện nguyện, giúp cộng đồng, và từng lên tiếng chống lại bạo động dùng súng. Anh còn được mô tả là người cha gương mẫu, rất thương con gái 6 tuổi hiện đang sống với mẹ ở Houston (Texas).

    Cái chết của Floyd dấy nên một loạt biểu tình bắt đầu từ Minneapolis lan sang nhiều thành phố có đông người da đen cư ngụ. Thật ra, không còn là biểu tình bình thường chống sự tàn ác của cảnh sát nữa, mà đã biến thái thành bạo loạn và hôi của. Rất nhiều video và hình ảnh cho thấy những kẻ tham gia biểu tình, người da đen và cả da trắng, xông vào đập cửa kính các tiệm bán hàng và lấy hàng hoá, kể cả nhiều loạ hàng mắc tiền như kim cương, vàng và đồng hồ.
    Có lẽ những gì xảy ra nằm ngoài sự tưởng tượng của George Floyd. Nếu còn sống, chắc anh ta không muốn nhìn những cảnh tượng như hiện nay.

    2. Người da đen ở Mĩ

    Người da đen ở Mĩ có một lịch sử 300 năm. Họ đã trải qua và chịu không biết bao nhiêu bất công và kì thị của người da trắng. Ai cũng biết vào thế kỉ 17 và 18 người da đen bị bọn cai trị da trắng bắt cóc từ Phi Châu và chở sang Mĩ làm nô lệ. Mãi đến thế kỉ 19 nhờ tranh đấu, tình trạng nô lệ mới giảm. Ngay trong thế kỉ 20, trong giới y khoa người da trắng có thời làm thí nghiệm (mà ngày nay được xem là vô đạo đức) trên người da đen. Có thể nói rằng người Mĩ da trắng thế hệ trước đã phạm những tội tày trời chống lại người da đen. Đó là sự thật lịch sử mà không ai có thể phủ nhận.

    Hiện nay, trong thực tế cái khoảng cách về kinh tế - xã hội giữa hai nhóm da đen và da trắng vẫn còn rất xa. Chúng ta thử nhìn qua vài con số thống kê:

    (a) Dân số. Theo số liệu thống kê census 2016, nước Mĩ có 41.4 triệu người da đen (gốc Phi Châu), chiếm 12.7% tổng dân số Mĩ [1].

    (b) Thu nhập bình quân mỗi gia đình da đen là 35400 USD, thấp hơn gần 40% so so với thu nhập gia đình da trắng là 60250 USD [2]. Tỉ lệ hộ nghèo ở người da đen là 26%, trong khi đó ở người da trắng là 10%. Tỉ lệ thất nghiệp ở người da đen là 9.2%, còn người da trắng là 4.4% (số liệu 2015).

    (c) Giáo dục. Theo số liệu census 2000, 72% người da đen tuổi 25+ tốt nghiệp trung học, trong khi tỉ lệ này ở người da trắng là 84%. Chỉ có 14% người da đen có bằng cử nhân trở lên, so với 26% ở người da trắng và 44% người Á châu [3].

    (d) Khả năng học của người da đen cũng thấp xa so với người da trắng và Á châu. Chẳng hạn như số liệu năm 2018 cho thấy điểm SAT (môn toán) trung bình như sau: Mĩ da đen 463, Mĩ da trắng 557, Á châu 635. Ngay cả điểm SAT môn đọc và viết cũng vậy: học sinh da đen có điểm thấp (483), so với Mĩ gốc Á châu (588), da trắng (566), và Mĩ Latino (501) [4].

    (e) Tội phạm. Năm 2014, có 6.8 triệu người Mĩ bị bắt giam trong tù; trong số này có 2.3 triệu người da đen (34%) [5]. Lưu ý rằng, người da đen chỉ chiếm 12.7% tổng dân số Mĩ.

    (f) Tỉ lệ bắt giam. Cục Thống kê Công lí (Bureau of Justice Statistics) cho biết khoảng 38% ''dân số" tù là người da đen (tổng số tù nhân chừng 7 triệu), kế đến là người da trắng (35%), và người Hispanics (21%). Tỉ lệ bị bắt giam ở người da đen là 141 (tính trên 10,000 dân), còn ở người da trắng là 27.5. Nói cách khác, người da đen có xu hướng bị giam cao gấp 5 lần so với người da trắng.

    (g) Người da đen có xu hướng phạm tội chống người da trắng cao gấp 50 lần người da trắng phạm tội chống người da đen. Tỉ lệ người da đen phạm tội bạo động chống người da trắng là 1013 tính trên 10,000 dân số, và con số này cao 57.5 lần so với tỉ lệ người da trắng phạm tội bạo động chống người da đen (17.6) [7].

    Những sự thật trên (dĩ nhiên là chưa đầy đủ) nhưng cũng đủ để 'vẽ' một bức tranh về tình cảnh người da đen ở Mĩ. Khoảng cách giữa người da đen và da trắng quá xa. Khoảng cách giữa người da đen và Á châu lại càng xa hơn nữa. Lưu ý rằng người da đen đã có mặt ở Mĩ 300 năm.

    3. Người da đen và công lí Mĩ

    Nhưng đối với giới lãnh đạo cộng đồng da đen, những khoảng cách đó là do người da trắng gây nên. Họ có lí thuyết gọi là "Victimology", có thể hiểu là "Nạn nhân học", cho rằng người Mĩ da đen là nạn nhân của chủ nghĩa kì thị chủng tộc do người da trắng chủ trương; rằng sự tiến bộ của cộng đồng người Mĩ da đen lệ thuộc vào hành động ăn năn, hối cải của người da trắng (về những việc họ phạm phải trong quá khứ). Một quan điểm rất phổ biến cho rằng nền công lí Mĩ thiên vị người da trắng và chỉ để trừng phạt người da đen. Những người theo quan điểm này trích dẫn những dữ liệu về tội phạm để làm cơ sở cho lí luận của họ.
    Nhưng sự thật thì không đơn giản như thế.

    Nghiên cứu khoa học xã hội cố gắng tìm câu trả lời có phải hệ thống tư pháp gây bất công cho người da đen, và một cách ngắn gọn: kết luận của rất rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống công lí Mĩ không có tính kì thị chủng tộc. Hai trăm năm trước đây thì có thể có, nhưng ngày nay thì không có chuyện kì thị chủng tộc trong hệ thống tư pháp Hoa Kì.

    Một nghiên cứu (năm 1993) về mối liên quan giữa chủng tộc và mức độ hoặc hình phạt đối với các tội phạm về ma tuý, và tác giả không tìm ra bất cứ mối liên quan nào. Số lượng thuốc bán ra, tiền sử tội phạm, tội phạm có vũ khí hay không, và các đặc điểm khác về tội phạm giải thích tất cả những khác biệt về hình phạt giữa người da đen và da trắng. Chủng tộc không có ảnh hưởng đến mức độ phạt.

    Có sự kì thị về án tử hình giữa nguời da đen và da trắng? Năm 1994, Giáo sư Stanley Rothman và Stephen Powers điểm qua các chứng cớ nghiên cứu khoa học xuất bản sau 1972 và họ đi đến kết luận rằng không có sự khác biệt về án tử hình giữa phạm nhân da đen và da trắng. Tính từ 1976 đến 1993, có 2716 người đang chờ tử hình, 36% trong số này là người da đen; và trong số 226 người bị tử hình, 38% là người da đen.

    Thập niên 1980s là thời gian những người da đen cho rằng chiến dịch chống lại vấn nạn ma tuý làm cho người da đen dễ bị … cầm tù. Nhưng số liệu thực tế cho thấy một bức tranh khác: năm 1980, gần 47% tù nhân trong các nhà tù tiểu bang là người da đen, và 34% tù nhân trong các nhà tù liên bang là người da đen. Mười năm sau (1990), người da đen chiếm 49% dân số tù tiểu bang và 31% dân số tù liên bang. Thời gian bị giam trung bình ở người da đen là 25 tháng, so với 24 tháng ở người da trắng – không có sự khác biệt đáng kể.

    Tương tự, một nghiên cứu của RAND năm 1991 về cướp của và ăn trộm trên 14 thành phố lớn của Mĩ cũng không tìm ra bất cứ mối liên quan nào giữa chủng tộc và mức độ phạt. Năm 1995, nhà thống kê học Patrick Langan phân tích dữ liệu của 42,500 bị cáo thuộc 75 quận hạt lớn của nước Mĩ, và ông cũng không tìm thấy mối liên quan nào giữa chủng tộc (da đen) và mức độ phạt. Người da đen cũng như người da trắng có cùng hình phạt và mức độ phạt (“no evidence that, in the places where blacks in the United States have most of their contacts with the justice system, that system treats them more harshly than whites.”) Một nghiên cứu tổng quan mới đây cũng đi đến kết luận rằng không có sự kì thị, hệ thống tư pháp áp dụng bình đẳng cho người da đen cũng như người da trắng [8].

    Tuy nhiên, người da đen ngày nay có nhiều cơ hội hơn thế hệ cha anh của họ trước đây. Kì thị chủng tộc ở Mĩ là một hành vi phi pháp và chánh phủ Mĩ đã tạo mọi điều kiện cũng như ưu tiên cho người da đen. Mĩ đã có tổng thống người da đen. Còn số bộ trưởng, quan chức cao cấp, tướng lãnh gốc da đen thì nhiều không thể kể hết.

    4. Một thoáng với cộng đồng người da đen

    Tôi có chút trải nghiệm về thái độ của người da trắng đối với người da đen vào cuối thập niên 1990. Khi tôi mới sang Mĩ và tìm nơi mướn nhà, mấy người trong đại học khuyên tôi là tuyệt đối tránh những nơi có nhiều người da đen. Họ rất thẳng về lời khuyên, vì họ nói tình hình tội phạm ở khu vực đông người da đen không phải là nơi lí tưởng để cư trú.

    Phải một thời gian sau tôi mới nhận ra sự thật này. Nơi tôi tạm trú chỉ cách khu người da đen có 2 con đường, nhưng trời ơi, khác nhau một trời một vực. Khu người da trắng thì sạch sẽ, nhà cửa tươm tất, bãi cỏ xanh rì, và đường xá yên tĩnh. Ngược lại, khu vực 'của' người da đen thì rất bề bộn, và nhìn từ xa cứ như là một khu tồi tàn. Đọc báo địa phương tuần nào cũng thấy tin về tội phạm, mà tuyệt đại đa số xảy ra ở cộng đồng người da đen. Sự khác biệt hay tách biệt hoàn toàn không phải kì thị, mà chỉ là vấn đề an ninh.

    Có lần tôi đi công tác bên Mĩ và do tình hình khan hiếm khách sạn ở Baltimore, tôi phải ở một khách sạn gần khu người da đen. Tối nào đi bộ từ hội nghị về khách sạn, tôi cũng chứng kiến những cảnh buôn bán thuốc, những thanh thiếu niên nhìn người đi ngang một cách đáng sợ. Có một lần họ tiến đến gần tôi để … xin thuốc lá! Ngay ngày hôm sau tôi phải chuyển khách sạn.

    Hai năm trước khi ghé qua Atlanta, nơi cũng có nhiều người da đen cư trú, và cái kinh nghiệm ở Baltimore khơi dậy. Hai anh em tôi (tôi và Thạch) mỗi khi đi từ hội nghị về khách sạn ngang qua cái công viên mà người da đen rất đông, và không nói ra, có lẽ các bạn cũng biết họ làm gì. Thật ra, ngay ở trạm xe điện và trong hội nghị, người ta liên tiếp cảnh cáo chúng tôi nên tránh xa khu vực "nhạy cảm", hiểu theo nghĩa có đông người da đen.

    Tôi nghiệm ra rằng những hành động phản xã hội của cộng đồng người da đen chính là yếu tố gây nên sự bất bình đẳng giữa cộng đồng da đen và da trắng. Và, cái vòng tròn luẫn quẫn: người da trắng sợ người da đen, và nỗi sợ đó nuôi dưỡng sự thù hằn của người da trắng; ngược lại, thực tế nuôi dưỡng sự hoài nghi của người da đen về công lí nước Mĩ.

    Nhưng có lẽ thay vì đổ thừa người da trắng và công lí Mĩ, có lẽ cộng đồng người da đen nên nhìn lại mình. Tại sao đã hơn 100 năm với những cơ chế pháp lí và điều kiện kinh tế - xã hội ưu tiên, mà khoảng cách giữa người da đen và da trắng vẫn còn quá xa? Chính Martin Luther King từng khuyên người da đen nên tỏ ra có trách nhiệm xã hội (ông nói "we’ve got to do something about our moral standards. We know that there are many things wrong in the white world, but there are many things wrong in the black world too.") King kết luận rằng người da đen không nên cứ đổ thừa cho người da trắng [về những thất bại của họ] ("We can’t keep on blaming the white man. There are things we must do for ourselves").

    ______________

    [1] https://minorityhealth.hhs.gov/omh/browse.aspx
    [2] https://money.cnn.com/2015/11/24/news/economy/blacks-whites-inequality/index.html
    [3] https://www.census.gov/prod/2003pubs/c2kbr-24.pdf
    [4] https://www.insidehighered.com/admissions/article/2018/10/29/sat-scores-are-gaps-remain-significant-among-racial-and-ethnic-groups
    [5] https://www.naacp.org/criminal-justice-fact-sheet
    [6] https://www.sentencingproject.org/publications/color-of-justice-racial-and-ethnic-disparity-in-state-prisons
    [7] https://www.city-journal.org/html/my-black-crime-problem-and-ours-11773.html
    [8] https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/0047235296000153

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    8 phản hồi

    Trần Hữu Cách viết:
    Bác Ngự trích lời Thẩm phán Tòa Tối cao Potter Steward kiểu gì kỳ vậy? Đây là câu ngay sau đoạn được trích: "But racial discrimination has not been proved, and I put it to one side." (Nghĩa: "Nhưng kỳ thị chủng tộc chưa được chứng minh, và tôi đặt nó sang một bên.")

    Cảm ơn bác Trần Hữu Cách đã chỉ ra thiếu sót trong phần trích dẫn của tôi. Tôi xin trích lại đầy đủ như sau:

    Trích dẫn:
    These death sentences are cruel and unusual in the same way that being struck by lightning is cruel and unusual. For, of all the people convicted of rapes and murders in 1967 and 1968, many just as reprehensible as these, the petitioners are among a capriciously selected random handful upon whom the sentence of death has in fact been imposed. My concurring Brothers have demonstrated that, if any basis can be discerned for the selection of these few to be sentenced to death, it is the constitutionally impermissible basis of race [see McLaughlin v. Florida, 379 U.S. 184 (1964)]. But racial discrimination has not been proved, and I put it to one side. I simply conclude that the Eighth and Fourteenth Amendments cannot tolerate the infliction of a sentence of death under legal systems that permit this unique penalty to be so wantonly and so freakishly imposed.

    https://en.wikipedia.org/wiki/Furman_v._Georgia#Decision
    Mặc dù nhiều đồng viện khác của Justice Steward cho rằng có yếu tố chủng tộc, tôi đồng ý với Justice Steward là không thể chứng minh kỳ thị chủng tộc (trong vụ Furman hay bất cứ vụ nào), trừ phi người ta có luật qui định hình phạt khác biệt cho người da đen như trong thời kỳ slavery hay segregation. Hoặc là khi có máy chụp hình suy nghĩ trong đầu của những người đưa ra các quyết định tư pháp để xem các quyết định đó có phải vì màu da của thủ phạm.

    Tuy nhiên, khi không chứng minh được kỳ thị chủng tộc thì không có nghĩa là chủng tộc không có ảnh hưởng gì trong các quyết định tư pháp tại Hoa kỳ. Các nghiên cứu đã chỉ ra ảnh hưởng của chủng tộc (effects of race) trong các bản án tử hình:
    1. Chủng tộc của nạn nhân có ảnh hưởng nhiều nhất. Nghiên cứu nổi tiếng của Baldus và đồng nghiệp, xem xét trên hai ngàn vụ giết người ở Georgia [Baldus, David C.; Pulaski, Charles; Woodworth, George (1983). "Comparative Review of Death Sentences: An Empirical Study of the Georgia Experience". Journal of Criminal Law and Criminology. 74 (3): 661–753)] cho thấy trên 80% các bản án tử hình có nạn nhân là người da trắng. Trong khi đó chủng tộc của thủ phạm không có ảnh hưởng đáng kể. Tuy nhiên nếu gộp cả chủng tộc của nạn nhân và chủng tộc của thủ phạm, thì khả năng án tử hình sẽ cao nhất khi nạn nhân là da trắng và thủ phạm là da đen.

    Một nghiên cứu do US GAO tổ chức (https://www.gao.gov/products/GGD-90-57) tỗng hợp 28 nghiên cứu đã được thực hiện cho biết 80% các nghiên cứu trước đây cùng kết luận là chủng tộc da trắng của nạn nhân có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định yêu cầu án tử hình cũng như quyết định án tử hình.

    Một nghiên cúu mới đây (Whom the State Kills: U Denver Legal Studies Research Paper No. 19-16) phân tích lại các dữ liệu trong nghiên cúu của Baldus trước kia, và cho thấy chủng tộc của nạn nhân cũng ảnh hưởng đến khả năng bị hành quyết. Khi nạn nhân là da trắng thì khả năng bị hành quyết cao gấp 17 lần so với khi nạn nhân là da đen.

    2. Chủng tộc của bồi thẩm viên: Người da đen ở Mỹ đã có quyền công dân trên giấy tờ trên 150 năm, nhưng họ đã bị gạt bỏ ra khỏi nhiệm vụ làm bổi thẩm một cách có hệ thống cho đến gần đây. Thí dụ: hướng dẩn chọn bồi thẩm ở Texas năm 1973 và Philadelphia (1978):

    Trích dẫn:

    _ Looking for biased jurors who believe that defendants are different from them in kind;
    ─ Not looking for member of a minority group, women, intellectuals, and liberals.
    ─ Religions of jurors: no Jews but Lutherans and members of the Church of Christ are good
    Trích dẫn:
    ─ “Young Black women are very bad for juries;
    ─ Blacks from the low-income areas are less likely to convict; they resent law enforcement and authority, and you don’t want them on the jury.”

    Nghiên cứu từ Capital Jury Project (được hổ trợ từ National Science Foundation) cho thấy thành kiền chủng tộc (racial prejudice) từ bồi thẩm viện và thành kiến này có liên hệ đến quyết định của những người này.
    https://en.wikipedia.org/wiki/Capital_Jury_Project#Expert_witnesses
    Chủng tộc của công tố viên: Hiện nay chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của chủng tộc của công tố viên bởi vì cho tới này hầu hết (95%-98%) các vụ tử hình có công tố viên là người da trắng (không có biến số, variable, thì không run statistics được).
    Nói tóm lại, dù không còn "systematic discrimination/racism" thì race still matters, dù gọi bằng tên gì.

    Triều đại Obama làm 3 sự kiện lớn nhưng báo chí thiên tả (dòng chính Mỹ ) không màng bởi họ có chương trình nghị sự của họ chứ cũng chẳng tốt đẹp gì, tranh đấu hay bảo vệ để nước Mỹ được tốt đẹp
    - Bỏ Iraq, bọn Isil phát sinh từ thời này, loạn lại loạn hơn
    - Bắc Triều Tiên, bom nguyên tử và hỏa tiễn bắn rợp trời, thế giới bất an
    - Trong nước Mỹ, bọn Antifa phát sinh, chỉ chưa giết người nhưng cướp của và đốt thì cũng chưa thời nào nước Mỹ loạn như bây giờ, những ngày qua lợi dụng biểu tình ôn hòa bởi luật pháp Mỹ cho phép, chúng lại hành động

    Triều đại Trump, Bắc Triều Tiên, Iraq nay tạm ổn, Antifa Mỹ, sẽ cần giải quyết sớm, FBI đang làm việc dẹp bọn này

    Nước nào cũng có một thời kỳ lịch sữ đen tối, Mỹ cũng thế với người da đen nô lệ hay người da đỏ bản xứ, so với thế giới như Tàu+ giết cả 60 triệu dân nó hay Nga hay Cam hay VN thì chuyện của Mỹ là chuyện nhỏ

    Có kỳ thị không, xứ nào, xã hội nào cũng có, Mỹ cũng có nhưng chúng ta phải công nhận nó rất không đáng kể, luật pháp và quan điểm sống của xã hội Mỹ đã thay đổi, rất sớm như Abraham Lincoln đã xóa và chống kỳ thị với luật, cuộc sống dân Mỹ đã chung sống, chung đụng hài hòa hơn từ 60 năm qua với các chủng tộc ở Mỹ, nhưng tại sao đến ngày hôm nay, người dân Mỹ da đen vẫn còn tranh đấu, thật khó trả lời nhưng chỉ tóm gọn thế này, tâm thức nô lệ vẫn không loại bỏ được trong con người của họ, và chính cái văn hóa của họ làm họ thoái hóa và không bắt kịp nhịp sống thời đại mới ở Mỹ, chẳng có quốc gia nào như Mỹ đã cho dân thiểu số da đen hay người da đỏ bản xứ rất nhiều ưu đãi và quyền lợi như xứ Mỹ nhưng tất cả đều thất bại, nó thất bại từ trong gia đình người Mỹ da đen, giáo dục bị coi thuờng đây chính là điễm con người của họ bị băng hoại, chính những người trí thức da đen đã nhận xét như thế

    Chỉ một động cơ nhỏ thì lại thành vấn đề với khối dân này, black live matter, nhưng anh da đen cầm súng bắn tỉa giết 7 người và có cả cảnh sát thời Obama, chẳng biểu tình, chẳng tin tức dòng chính, và chính quyền Obama thì hả dạ bởi xã hôi không loạn và trật tự, họ tuyên bố như thế

    Trích một đoạn của bài đăng trên tờ WSJ ngày hôm qua. Phân tích vấn đề qua dữ kiện, chứ không dùng cái lăng kính ý thức hệ thiên tả của đại đa số giới truyền thông bây giờ.
    (Proceedings of the National Academy of Sciences là tạp chí khoa học có bình duyệt chính thức của Viện Hàn Lâm Khoa Học Hoa Kỳ)

    Dân Luận đáng được hoan nghênh vì đã đăng bài này của GS Nguyễn Tuấn, thay vì đã làm như đại đa số báo tiếng Việt khác chỉ đi sao chép lại báo chí thiên tả của Anh và Mỹ.

    WSJ viết tiếp, "Lời đại tự sự trái với sự thật ấy về chính sách thiên vị có hệ thốngcủa cảnh sát đã gây ra nhiều vụ sát các hại nhân viên công lực khi Obama còn làm tổng thống. Cảnh sát bị bị tấn công và bị bắn khi họ tìm cách bắt các nghi can có súng trong tay, hay là trong khi tìm cách kiểm soát các cuộc bạo động. Các trạm cảnh sát và trụ sở tòa án đã bị phá hủy mà không bị trừng phạt, việc này dẫn đến sự gia tăng của của các hành vi bạo động tiêu hủy nền văn minh [...] hàng ngàn công dân Mỹ gốc Phi châu, những người biết tôn trọng pháp luật, mà xưa nay vẫn nhờ đến cảnh sát để bảo vệ sự an toàn căn bản đã trở thành nạn nhân."

    Thẩm Phán Potter Steward viết:
    "But racial discrimination has not been proved, and I put it to one side."

    Bởi vậy, đấy chỉ là ý kiến của ông thẩm phán mà thôi. Nếu ông này, hay ai khác mà chứng minh được, thì CNN, The New York Times, The Guardian, Washington Post, The Daily Beast, Slate, Vox, LA Times, MSNBC, NBC, BuzzFeed News, The Nation, Mother Jones, báo lá cải Huffington Post vv. đã chạy tin ấy lên trang nhất rồi, mọi người (và cả thế giới) đã đều biết hết rồi, ta khỏi cần phải đi tìm thông tin ấy ở Wikipedia.

    Cộng đồng da đen thua kém các sắc dân khác về nhiều mặt (trừ ra thể thao loại lãnh tiền lương bạc triệu, ca nhạc, phim ảnh). Tại sao điều gây ra tình trạng không thuận lợi cho họ lại không thể là một hay vài yếu tố gì khác, mà phải là sự phân biệt chủng tộc? Điều này nghe giống như một loại lý thuyết âm mưu, một đoạn nhạc cứ phát đi phát lại mãi trên cái dĩa hát bị trầy trụa. Ở Mỹ có cả ngàn trường đại học, đại đa số có chính sách và toàn ban giáo sư theo khuynh hướng đi từ liberal đến thiên tả, đặc biệt là các ngành nhân văn và xã hội học. Họ thường không có thiện cảm với (và ít khi nào tài trợ) các dự án nghiên cứu về IQ, nhưng sẽ sẵn sàng tài trợ cho nhà nghiên cứu nào chứng minh được là xã hội Mỹ vẫn duy trì kỳ thị chủng tộc một cách có hệ thống, hay là chứng minh rằng nạn kỳ thị đã làm cho người da đen nói chung bị thua thiệt trong xã hội. Chẳng có ai làm được chuyện này cả từ nửa thế kỷ nay, mặc dù có hàng trăm cuốn sách được soạn ra để sửa hay diễn giải lịch sử lại cốt để nhắc nhở chuyện kỳ thị ngày xưa, giống như người Do Thái tại Hollywood cứ liên tục cho ra phim để nhắc nhở về Hitler hay là Holocaust.
    Nhưng làm sao chứng minh được là ma có thật, nếu ma không có thật?

    Giáo sư kinh tế người da đen tại Đ.H. Stanford, ông Thomas Sowell, đã từng nói, "Nếu con người, sinh ra cùng cha cùng mẹ và sống trong cùng gia đình, mà còn không đạt được thành quả như nhau, thì tại sao ta lại hoài vọng một xã hội không có sự khác biệt về mức độ năng khiếu hay thành tựu, trong khi hoàn cảnh của mỗi người lại mỗi khác."

    Bác Ngự trích lời Thẩm phán Tòa Tối cao Potter Steward kiểu gì kỳ vậy? Đây là câu ngay sau đoạn được trích: "But racial discrimination has not been proved, and I put it to one side." (Nghĩa: "Nhưng kỳ thị chủng tộc chưa được chứng minh, và tôi đặt nó sang một bên.")

    Cảm ơn tác giả Nguyễn Tuấn đã có bài viết về George Floyd và người da đen ở Mỹ. Tình cảnh người da đen ở Mỹ, và nhất là kinh nghiệm của họ với hệ thống hình sự tư pháp (criminal justice systems) rất phức tạp, và không đúng như ý kiến của tác giả Nguyễn Tuấn. Trong khuôn khổ của phần phản hồi, tôi xin có một số ý kiến ngắn gọn về những nhận xét của tác giả trong bài viết:

    Nguyễn Tuấn viết:
    Nghiên cứu khoa học xã hội cố gắng tìm câu trả lời có phải hệ thống tư pháp gây bất công cho người da đen, và một cách ngắn gọn: kết luận của rất rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống công lí Mĩ không có tính kì thị chủng tộc. Hai trăm năm trước đây thì có thể có, nhưng ngày nay thì không có chuyện kì thị chủng tộc trong hệ thống tư pháp Hoa Kì.

    Một nghiên cứu (năm 1993) về mối liên quan giữa chủng tộc và mức độ hoặc hình phạt đối với các tội phạm về ma tuý, và tác giả không tìm ra bất cứ mối liên quan nào. Số lượng thuốc bán ra, tiền sử tội phạm, tội phạm có vũ khí hay không, và các đặc điểm khác về tội phạm giải thích tất cả những khác biệt về hình phạt giữa người da đen và da trắng. Chủng tộc không có ảnh hưởng đến mức độ phạt.

    Các nghiên cưu khoa học xã hội, đăc biệt là nghiên cứu về hình sự tư pháp (criminal justice research) cho thấy người da đen vẫn còn bị đối xử khác biệt. GS. Marjorie Zats tham khảo hàng trăm nghiên cưú về hình phạt (sentencing) được thực hiện từ 1930s đến 1980s cho thấy sự kỳ thị người da đen trong hệ thống tư pháp thay đổi với thời gian và trải qua 4 giai đoạn khác nhau:
    1- Giai đoạn 1: các nghiên cưú trong khoảng 1930s - mid-1960s: sự kỳ thị người da đen rất rõ ràng trong mọi trường hợp (bị hình phạt nặng hơn người da trắng trong cùng hoàn cảnh).

    2. Giai đoạn 2 va 3: các nghiên cứu trong khoảng late 1960s - 1980s: Sự kỳ thị người da đen không còn trực tiếp mà trở thành gián tiếp. Thí dụ: nghèo không có tiền đóng thế chân nên bị tạm giam, không có điều kiện tham khảo luật sư một cách đầy đủ, thường có nhiều thành tích về bắt giữ (arrest records) một phần vì cảnh sát tuần tiểu ở các khu vực nghèo khổ nhiều hơn, không có việc làm, tức là những yếu tố không liên quan đến mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm pháp.

    3. Giai đoạn 4: Các nghiên cứu trong thập kỷ 1980s: có sự tương tác (interactions) của nhiều yếu tố không liên quan đến tội phạm khiến người da đen thường chịu hình phạt nặng nề hơn người da trắng trong cùng hoàn cảnh như: thành phần nam giới trẻ tuổi, có mức học vấn thấp và không có việc làm; bị tâm giam trong khi chờ xét xử, xử dụng luật sư miễn phí, nạn nhân là người da trắng, bị kết án tại phiên toà (tried) thay vì thú nhận tội (plead guilty).

    Samuel Walker, Cassia Spohn và Mariam DeLone, những nhà nghiên cứu kỳ cựu về hình sự tư pháp tại Hoa Kỳ (The Color of Justice: Race, Ethinicty, and Crime in America), đã phân loại nhiều hình thức kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ:
    1. Kỳ thị có hệ thống (systematic discrimination): kỳ thị trực tiếp trong mọi lãnh vực của cuộc sống, hiện hữu trong thời kỳ phân biệt chủng tộc (racial segregation)

    2. Kỳ thị do định chế xã hội đã ăn sâu (Institutional discrimination): không có kỳ thị trực tiếp, nhưng sự tổ chức các định chế trong xă hội đưa đến kết quả thiệt thòi của người da đen. Thí dụ, school zoning áp dụng cho mọi người, không biệt màu da. Tuy nhiên, người da màu thường sống trong những khu vực nghèo khổ nên con cái họ không được hưởng một nền giáo dục tốt như trẻ em ở những khu khá giả. Việc này dẫn đến các hậu quả khác nhau thường kéo dài nhiều thế hệ.

    3. Kỳ thị tuỳ nơi tuỳ chỗ (contextual discrimination): sự kỳ thì người da đen ở nơi này nhưng không ở nơi khác.

    4. Kỳ thị do cá nhân: có nhũng cá nhân trong xã hội vẫn còn quan điểm và hành động một cách kỳ thì người da đen.

    Sau bài tổng hợp của Marjori Zatz (1987), vô vàn nghiên cứu xã hội học và hình sự tư pháp đã chỉ ra sự đối xử khác biệt giữa người da đen và da trắng trong xã hội (disparities in criminal justice treatments of Blacks and Whites) và xác nhận sự đóng góp của những yếu tố kể trên, nhiều nhất là institutional discriminations, sau đó là contextual discrimination. Sư kỳ thị cá nhân của các nhân viên hình sự tư pháp khó có thể xác định, nhưng trong nhiều nghiên cứu định tính (qualitative research) biến số chủng tộc (race variable) đóng góp vào việc giải thích sự khác biệt đối xử giữa người da đen và da trắng.

    Nguyễn Tuấn viết:
    Có sự kì thị về án tử hình giữa nguời da đen và da trắng? Năm 1994, Giáo sư Stanley Rothman và Stephen Powers điểm qua các chứng cớ nghiên cứu khoa học xuất bản sau 1972 và họ đi đến kết luận rằng không có sự khác biệt về án tử hình giữa phạm nhân da đen và da trắng. Tính từ 1976 đến 1993, có 2716 người đang chờ tử hình, 36% trong số này là người da đen; và trong số 226 người bị tử hình, 38% là người da đen.

    Nếu nói không có sự đối xử khác biệt về chủng tộc trong việc kết án tử hình ở Mỹ thì cũng như nói nước CHXHCNVN dân chủ gấp vạn lần tư bản. Ngay từ 1972, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ đã tuyên bố án tử hình ở nước Mỹ vi hiến do cách người ta xử dụng nó (chứ không phải án tử hình tự nó là vi hiến). Justice Stewart, đại diện cho đa số tuyên bố:

    Trích dẫn:
    These death sentences are cruel and unusual in the same way that being struck by lightning is cruel and unusual. For, of all the people convicted of rapes and murders in 1967 and 1968, many just as reprehensible as these, the petitioners are among a capriciously selected random handful upon whom the sentence of death has in fact been imposed. My concurring Brothers have demonstrated that, if any basis can be discerned for the selection of these few to be sentenced to death, it is the constitutionally impermissible basis of race

    https://en.wikipedia.org/wiki/Furman_v._Georgia#Decision
    Sau Furman, nước Mỹ ngưng không thi hành án tử hình trong hai năm để các tiểu bang sửa đổi lại luật về án tử hình, đưa ra các tiêu chuẩn rõ ràng để tránh việc kết án tử hình một cách vô nguyên tắc. Tuy nhiên các nghiên cứu về việc kết án tử hình sau 1974 (khi án tử hình bắt đầu trở lại) cho thấy vẫn có sự khác biệt về chủng tộc trong các các vụ đại án (có thể bị tử hình):
    1. Chủng tộc của nạn nhân có ảnh rất lớn đến quyết định của công tố yêu cầu án tử hình và quyết định của bồi thẩm cho án tử hình. Công tố có khuynh hường yêu cầu án tử hình cao gấp 4 lần khi nạn nhân là người da trắng và thủ phạm là người da đen (so với trường hợp thủ phạm là da trắng và nạn nhân là da đen).
    2. Thủ phạm giết người da trắng có triển vọng bị kết án tử hình cao gấp 4 lần so với thủ phạm giết người da đen.
    Thành kiến chủng tộc (racial biases, racial stereotypes) của cá nhân công tố viên và bồi thầm đoàn đóng góp vào sự khác biệt chủng tộc trong án tử hình. Một nghiên cứu năm 1991 do Bộ Tư Pháp bảo trợ (Capital Jury Project) xem xét thành kiến của các bồi thẩm trong các phiên xử mà công tố yêu cầu án tử hình. Cuộc nghiên cứu cho thấy:
    1. Nhiều bồi thẩm có quyết định cá nhân từ trước khi phiên xử bắt đầu.
    2. Trong các vụ nạn nhân là da trắng, và thủ phạm là da đen, các bồi thầm thường có quyết định về hình phạt trước khi phiên xử bắt đầu
    3. Bồi thẩm thường ít khi quan tâm đến các yếu tố giảm khinh khi thủ phạm là da đen so với khi thủ phạm là da trắng.

    Ngoài ra trong các giai đoạn mặc cả (plea bargaining), phẫm chất của luật sư biện hộ đưa đến kết quả là người da đen có khả năng bị kết án tử hình nhiều hơn người da trắng. Phẩm chất của luật sư ảnh hưởng rất lớn đến kết quả plea bargaining các vụ đại án. Tuyệt đại đa số phạm nhân da đen thường nghèo (O.J. Simpson là cá biệt) nên không thể thuê các luật sư nổi tiếng và thực hiện các cuộc điều tra độc lập để phản bác lại chứng cớ của công tố. Trong khi đó, nghiên cứu cũng vạch ra thẩm phán thường chỉ định các luật sư tồi nhất cho các vụ đại án; mục đích để đạt được án tử hình dể dàng. Luật sư Stephen Bright, một người chuyên bảo vệ những ca đại án, cho rằng án từ hình ở Mỹ không phãi dành cho những người phạm tội nặng nhất mà là dành cho những người có luật sư tồi nhất (Stephen Bright, The Death Penalty Is Not for the Worst Crime, but the Worst Lawyers. The Yale Law Journal, vol. 103, n, 7 pp.1835-1883).

    Những thông tin trên cho thấy dù ngày này không còn có kỳ thị trực tiếp và có hệ thống, người da đen thường bị kết án tử hình nhiều hơn người da trắng vì những lý do không liên quan đến sự nghiêm trọng của tội phạm mà vì những lý do liên quan đến chủng tộc.

    Nguyễn Tuấn viết:
    Thập niên 1980s là thời gian những người da đen cho rằng chiến dịch chống lại vấn nạn ma tuý làm cho người da đen dễ bị … cầm tù. Nhưng số liệu thực tế cho thấy một bức tranh khác: năm 1980, gần 47% tù nhân trong các nhà tù tiểu bang là người da đen, và 34% tù nhân trong các nhà tù liên bang là người da đen. Mười năm sau (1990), người da đen chiếm 49% dân số tù tiểu bang và 31% dân số tù liên bang. Thời gian bị giam trung bình ở người da đen là 25 tháng, so với 24 tháng ở người da trắng – không có sự khác biệt đáng kể.

    Khác biệt chủng tộc trong việc đối xử với các trường hợp ma tuý liên quan đến nhiều yếu tố từ bắt giữ, truy tố, tuyên phạt, chứ không phải chỉ nhìn vào con số trong tù. Trước hết, người da đen chiếm 14% dân số, nhưng chiếm 34% số người bị bắt giữ vì drugs, 55% những người bị kết án tù vì drugs.

    Thống kê về dùng drugs cho thấy người da đen dùng drugs nhiều hơn người da trắng một chút, nhưng đa số bị bắt là do "drug possession" (để bán lẻ - street runners). Bởi vì cảnh sát hay tuần tiểu trong các khu ghettoe nơi người người da đen sinh sống, và vì người da đen thường buôn bán drugs ngoài đường phố công cộng nên dể bị bắt hơn các drug dealers người da trắng, vốn thường xử dụng pager và giao drugs tại nhà hay university dorms (hảy tìm đọc: Dorm Room Dealers: Drugs and the Privileges of Race and Class).
    Trong thời ký chống drugs (wars on drugs), với chiến dịch "Operation Pipeline" cảnh sát xử dụng phương pháp "pre-text stop" để stop bất cứ ai, dùng vi phạm luật lưu thông là cái cớ, để dòi khám và tìm drugs mà không cần probable cause. Do thành kiến chủng tộc, những người da màu gồm da đen và Latino bị stop với tỷ lệ cao hơn rất nhiều người da trắng. Khi lục soát thì người da đen và Latino bị bắt giữ vì drugs với tỷ lệ cao hơn nhiều so với người da trắng (có drugs nhưng không bị stop).

    Cũng trong thời gian có wars on drugs, một đạo luật của tiên liên bang nhằm củng cố hình phạt đã trừng phạt những người possess crack cocaine nặng hơn gấp 100 lần những người possess powder cocaine: những người possess 5g crack cocaine và những người possess 500g powder cocaine có cùng hình phạt như nhau là tự động 5 năm tù giam (mandatory 5 years in prison). Đạo luật này được cho là mang tính kỳ thị bời vì người da đen được cho là hay dùng crack (giá rẻ) trong khi người da trắng được cho hay dùng powder cocaine, và các giới chuyên môn về drugs cho thấy không có sự khác biệt (nguy hiểm hơn) giữa hai loại drugs (crack được chế tạo bằng cách nấu powder cocaine với baking soda, tạo ra khối lượng lớn hơn và giá thành rẻ hơn). Luật này bị bãi bỏ năm 2010 và thay thề bằng Fair Sentencing Act, giãm sư khác biệt xuống . . . 18 lần (28g crack bị phạt ngang với 500g powder cocaine).
    Cũng vì đạo lụật này, thời gian người da đen ngồi tù vì drugs lâu hơn rất nhiều so với người da trắng.
    Chưa kể, cũng trong thời gian này, các luật lệ hành chánh còn giới hạn rất nhiều cơ hội của những người có đã án hay từng ngồi tù (không xin được việc làm, không được xin trợ cấp xã hội, không được trọ cấp giáo dục, không có quyền đi bầu) được gọi chung là invisible punishment. Tóm lại những người này trở thành social outcasts, và con đường tái phạm có thể coi như đương nhiên. Vì người da đen bị bắt và phạt tù vì drugs với tỷ lệ cao hơn người da trắng, người da đen chịu nhiều hậu quã tiêu cực của bắt giữ và nguồi tù hơn người da trắng.

    Nguyễn Tuấn viết:
    Tương tự, một nghiên cứu của RAND năm 1991 về cướp của và ăn trộm trên 14 thành phố lớn của Mĩ cũng không tìm ra bất cứ mối liên quan nào giữa chủng tộc và mức độ phạt. Năm 1995, nhà thống kê học Patrick Langan phân tích dữ liệu của 42,500 bị cáo thuộc 75 quận hạt lớn của nước Mĩ, và ông cũng không tìm thấy mối liên quan nào giữa chủng tộc (da đen) và mức độ phạt. Người da đen cũng như người da trắng có cùng hình phạt và mức độ phạt (“no evidence that, in the places where blacks in the United States have most of their contacts with the justice system, that system treats them more harshly than whites.”) Một nghiên cứu tổng quan mới đây cũng đi đến kết luận rằng không có sự kì thị, hệ thống tư pháp áp dụng bình đẳng cho người da đen cũng như người da trắng [8].

    Tôi không có dịp được đọc nghiên cứu của Rand hay của Patrick Langan, tuy nhiên kết luận của tác giả Nguyễn Tuấn có vẻ trái nguợc với hàng trăm nghiên cứu khác nhau về ảnh hưởng của chủng tộc trong các quyết định về hình sự tư pháp. Như đã trình bày trong phần nói về án tử hình hay ma tuý, chỉ những nghiên cứu bao gộp nhiều giai đoạn hình sự tư pháp mới có thể giải thích sự khác biệt đối cử (disparities in criminal justice treatment) dù rằng sự đối xử khác biệt không phải do kỳ thị mà do thành kiến chủng tộc hay những yếu tố liên quan đến quan hệ chủng tộc (racial relations) đã đẩy người da đen vào chỗ thiệt thòi, mà không liên quan gì đến tính phạm tội (criminality) của họ.

    Nguyễn Tuấn viết:
    Nhưng có lẽ thay vì đổ thừa người da trắng và công lí Mĩ, có lẽ cộng đồng người da đen nên nhìn lại mình. Tại sao đã hơn 100 năm với những cơ chế pháp lí và điều kiện kinh tế - xã hội ưu tiên, mà khoảng cách giữa người da đen và da trắng vẫn còn quá xa?

    Có thể tác giả Nguyễn Tuấn không sống ở Mỹ và chưa thấu hiểu quan hệ chủng tộc ở Mỹ nên mới cho rằng người da màu ở Mỹ có những cơ chế bình đẳng hay ưu tiên. Theo tôi, thành kiến chủng tộc (không phải là kỳ thị chủng tộc) sâu đậm và vốn là hậu quả của của chế độ nô lệ và thời kỳ segregation là những bước cản trở lớn nhất cho người da đen hội nhâp vào xã hội Mỹ. School zoning và defacto residential segregation là một trong những yếu tố quan trọng khiến người da đen có mức học vấn thấp hơn nhiều với người da trắng và Á chấu (từ 1965 đa số đến Mỹ đã có bằng đại học). Với mức học vấn thấp và thành kiến (người da đen lười nhác, dốt nát, chỉ biết chơi thể thao, ngu đần, v.v.), người da đen khó tìm được việc làm, nhất là sau khi kinh tế Mỹ tái cấu trúc trong sau thập kỷ 1970s. Hai cuốn "When Work Disapears" và "the Truly Disadvantaged" của William J. Wilson, người đã dành cả cuộc đời để nghiến cúu về người da đen ở Mỹ, sẽ giãi thích rỏ ràng tại sao tngười da đen có tỷ lệ thất nghiệp cao, có thu nhập thấp nhất nước Mỹ hay vướng vào vòng pháp luật.

    Nguyễn Tuấn viết:
    Ai cũng biết vào thế kỉ 17 và 18 người da đen bị bọn cai trị da trắng bắt cóc từ Phi Châu và chở sang Mĩ làm nô lệ.

    Châu Phi từ giữa thế kỷ 15 trở đi đã có nạn buôn bán nô lệ dù chưa có "bọn cai trị da trắng". Các vua châu Phi trong những thế kỷ này là các nhà xuất cảng nô lệ. Giới trung gian nhận nô lệ của họ đưa sang các thuộc địa châu Mỹ là các nhà buôn Anh, Pháp, Hòa Lan và Bồ Đào Nha. Trong giai đoạn đầu còn có vương triều Tây Ban Nha tham gia việc vận chuyển nô lệ sang Nam Mỹ.

    Tại châu Mỹ mới xuất hiện giới chủ nô da trắng. Một trong những cái ác của giới chủ nô ở châu Mỹ là họ coi con cái của người nô lệ cũng là nô lệ, trong khi ở châu Phi không có sự kế thừa này. Con cái của người nô lệ không bị coi là nô lệ ở châu Phi.

    Các thống kê tác giả nêu ra trong bài đều có giá trị. Nhưng có một thống kê khác cũng nên được chú ý -- dù nhiều người dường như đang cố tình làm ngơ -- là tỉ lệ trẻ em da đen ở Mỹ sinh ra trong gia đình vắng mặt người cha. Tỉ lệ này tăng từ 24% vào năm 1965 (Moynihan Report) lên tới 64% vào năm 1990 rồi hơn 70% vào năm 2015:

    https://www.brookings.edu/research/an-analysis-of-out-of-wedlock-births-in-the-united-states/

    https://cis.org/Camarota/Births-Unmarried-Mothers-Nativity-and-Education

    Đối với nhiều nhà quan sát và hoạt động xã hội da đen, sự gia tăng tỉ lệ trên là nguyên nhân chính giải thích thực trạng thanh thiếu niên da đen phạm luật với tỉ lệ cao hơn mọi nhóm chủng tộc khác ở Mỹ. Một số nhà hoạt động bảo thủ da đen còn chấp nhận bị cộng đồng chỉ trích nặng nề khi chỉ ra rằng các chính sách phúc lợi xã hội ban hành giữa thập niên 1960 dưới thời Tổng thống Lyndon Johnson là thủ phạm tạo ra sự sụp đổ cấu trúc gia đình người da đen.

    Mới hơn, một số nhà hoạt động da đen cũng cáo buộc đạo luật Kiểm soát Tội ác Bạo lực và Thực thi Luật pháp, ban hành năm 1994 dưới thời Tổng thống Bill Clinton (Violent Crime Control and Law Enforcement Act, gọi tắt "1994 Crime Bill"), đã đưa một tỉ lệ lớn đàn ông da đen vào tù với những bản án dài hạn.

    Nguyễn Tuấn viết:
    Tôi nghiệm ra rằng những hành động phản xã hội của cộng đồng người da đen chính là yếu tố gây nên sự bất bình đẳng giữa cộng đồng da đen và da trắng. Và, cái vòng tròn luẫn quẫn: người da trắng sợ người da đen, và nỗi sợ đó nuôi dưỡng sự thù hằn của người da trắng; ngược lại, thực tế nuôi dưỡng sự hoài nghi của người da đen về công lí nước Mĩ.

    Trên chính trường Mỹ hiện nay, có những nhà hoạt động da đen đang cố gắng tuyên truyền rằng không còn tồn tại nạn kỳ thị chủng tộc có hệ thống. Những người này đã nhiều lần lên tiếng cảnh báo sớm mỗi khi truyền thông dòng chính thiên tả chơi lá bài chính trị căn cước chủng tộc, nhất là vào năm bầu cử. Tiếc rằng đa số cộng đồng da đen không lắng nghe những ý kiến trầm tĩnh dựa trên các số liệu thống kê, mà dễ bị kích động bởi những hình ảnh tàn nhẫn xuất hiện liên tục trên các báo đài.

    https://twitter.com/larryelder/status/1267719398539751426

    https://twitter.com/RealCandaceO/status/1265818856205029376