Cảm nhận Hiến Pháp nhìn từ vụ án Hồ Duy Hải

  • Bởi Admin
    22/05/2020
    0 phản hồi

    Thạc sĩ Lưu Đức Quang, Giảng viên môn Hiến pháp, Đại học Kinh tế Luật TP HCM.

    Pháp luật như khối rubik mà mỗi góc nhìn đều cho thấy sự thú vị của học thuật thông qua vụ án cụ thể.

    Nguyên tắc suy đoán vô tội hay quyền được suy đoán vô tội

    Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.

    Đây chính là nguyên tắc suy đoán vô tội trong lĩnh vực tư pháp hình sự hay quyền được suy đoán vô tội của nghi can. Nguyên tắc này là nguyên tắc chủ đạo của nền tư pháp đương đại của nhân loại văn minh. Nó trái ngược với nguyên tắc suy đoán có tội trong nền tư pháp man rợ trước đó, nơi coi việc trọng cung hơn trọng chứng, mớm cung, bức cung, dùng nhục hình là lẽ thường.

    Nội hàm của suy đoán vô tội gồm ba yêu cầu gắn chặt với nhau: (1) Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc và chỉ thuộc về chính quyền; (2) Chính quyền chứng minh tội phạm theo và chỉ theo trình tự luật định do Quốc hội ban hành (BLHS, BLTTHS); (3) Chỉ Tòa án mới được quyền phán quyết về tội phạm và hình phạt theo và chỉ theo trình tự luật định.

    Do vậy, nếu kết tội mà không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu này tức là phủ nhận nguyên tắc suy đoán vô tội về mặt bản chất. Quý vị nào còn đặt câu hỏi theo kiểu: “Anh có dám khẳng định HDV không phải là hung thủ?” tức là đang suy đoán có tội đấy! Phải hỏi ngược lại rằng: “Anh có dám khẳng định HDV là hung thủ?” mới là chuẩn hiến định".

    Xin thưa thêm rằng, nguyên tắc này xuất phát điểm từ việc cổ vũ cho giá trị Công lý hoàn mỹ với công thức: Công lý = Công lý thủ tục + Công lý nội dung. Thứ nhất, Công lý thủ tục (ngôn ngữ pháp lý Tây phương gọi là “due process of law”) chính là việc áp dụng thủ tục công bằng và chính đáng trong quá trình chứng minh tội phạm và kết tội nghi can;

    Ai xem phim hình sự Mỹ ngày nay đều có thể thuộc nằm lòng câu nói của các cảnh sát viên khi bắt giữ nghi can: “Anh đã bị bắt. Anh có quyền im lặng. Kể từ lúc này, mọi hành động anh làm và lời nói anh nói sẽ trở thành bằng chứng để chống lại anh trước Tòa. Anh có quyền mời luật sư và yêu cầu họ có mặt khi được thẩm vấn”.

    Lời cảnh báo dành cho nghi can (Lời cảnh báo Miranda) chính là kết quả một án lệ có tính Hiến pháp của Tòa án tối cao nước này từ năm 1966. Thứ hai, Công lý nội dung chính là việc tìm ra và trừng phạt hung thủ thực sự. Như vậy, kết luận của Hội đồng thẩm phán TANDTC trong Quyết định giám đốc thẩm (“Mặc dù, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử có những thiếu sót, vi phạm nhưng những thiếu sót, vi phạm này không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và không làm thay đổi bản chất của vụ án”) đã phủ nhận một nửa công thức vừa nêu, tức là phủ nhận Công lý thủ tục.

    Từ góc độ Hiến pháp, OAN có thể thuộc một trong các trường hợp sau đây: (1) Nghi can thực tế không phạm tội nhưng bị kết tội; (2) Nghi can thực tế phạm tội và bị kết tội NHƯNG chính quyền không chứng minh được (ví dụ: căn cứ kết tội chỉ là lời khai nhận tội của nghi can); (3) Nghi can bị cáo buộc phạm tội và bị kết tội NHƯNG chính quyền chứng minh chưa đầy đủ việc phạm tội của họ (ví dụ rất rõ trong vụ án HDH với không ít chứng cứ ngụy tạo, lời khai bất nhất, giám định sơ sài, lập luận thô thiển và võ đoán được đã sử dụng làm căn cứ kết tội).

    Bằng không thì chỉ có thể là ngụy biện!

    #baosach
    #hoduyhai

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi