Trần Thị Ngự - Thế nào là dân chủ? (1)

  • Bởi Admin
    21/02/2020
    19 phản hồi

    Trần Thị Ngự

    Đề tài dân chủ đã xuất hiện khá nhiều trên truyền thông tiếng Việt trong và ngoài chính phủ. Được nói đến nhiều nhất có lẽ là trường hợp BS Phạm Hồng Sơn dịch sang tiếng Việt để phổ biến một tài liệu mang tên “Thế nào là dân chủ” (What is democracy) từ trang điện tử của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Việc làm này dẫn đến việc ông bị bắt, bị khám nhà, bị truy tố về tội gián điệp và bị kết án tù 13 năm. [1]

    Cũng được nói đến nhiều là phát biểu về dân chủ của bà GS/TS Nguyễn Thị Đoan lúc còn đang giữ chức Phó Chủ Tịch nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN). Trong bài nói chuyện mang tên “Vai trò lãnh đạo của Ðảng đối với cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới,” bà cho rằng nền dân chủ ở Việt Nam (CHXHCNVN) “khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản... ” [2]

    Gần đây, nguyên Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Quyền Con Người (thuộc Học Viện Chính Trị Quốc Gia Hồ Chí Minh) Cao Đức Thái đã nói về dân chủ ở Viet Nam như sau:

    Đặc trưng nền dân chủ của Việt Nam là tất cả mọi người đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ; chế độ dân chủ của Việt Nam dựa trên hệ thống chính trị các cấp-đó là chế độ sinh hoạt của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; là tiếng nói của Mặt trận Tổ quốc và của các đoàn thể xã hội luôn luôn được tôn trọng. Ở đây tiếng nói, nguyện vọng của người dân được bảo đảm thông qua các đại diện của mình. Một trong những đặc trưng của nền dân chủ ở Việt Nam là chế độ dân chủ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và cầm quyền. [3]

    Trong khi đó, các tổ chức quốc tế đã nhận xét về dân chủ ở Việt Nam (CHXHCNVN) một cách rất khác. Việt Nam xếp hạng gần chót (hạng 136 trong 167 quốc gia) về Chỉ Số Dân Chủ 2019 (Democracy Index 2019) do Economist Intelligence Unit (EIU) thiết lập và được xếp vào loại độc tài (authoritarian).[4] Theo Freedom House, Việt Nam có tổng số điểm 20 trên 100 về tự do, cũng gần chót.[5] Căn cứ theo dữ liệu của Polity, Việt Nam đạt 0 điểm trên 10 về dân chủ và được xếp vào loại độc tài (autocracy).[6]

    Vậy dân chủ là gì? Tại sao Việt Nam lại bị các tổ chức quốc tế đánh giá thấp về dân chủ?

    Nói một cách ngắn gọn, dân chủ là một hình thức chính phủ trong đó quyền lực tối cao thuộc về nhân dân thông qua bầu cử (election). Mặc dù bầu cử là một yếu tố cơ bản của dân chủ, không phải các quốc gia có tổ chức bầu cử đều là các quốc gia dân chủ, hay có mức độ dân chủ như nhau. Hiện nay có hàng trăm nước trên thế giới tổ chức bầu cử để thành lập chính phủ, nhưng mức độ dân chủ ở những nước này rất khác nhau. Thật ra, ngoài bầu cử, dân chủ cần có nhiều yếu tố khác để bảo đảm người dân có thể thật sự thực thi quyền lực tối cao trong việc điều hành hay quản lý đất nước.

    Dân chủ là một tiến trình nên khái niệm về dân chủ được hình thành và phát triển qua thời gian. Hiện nay, các học giả, các nhà nghiên cứu cũng như các tổ chức cổ võ cho dân chủ đã đồng ý về nhiều yếu tố (elements) cũng như các thuộc tính (attributes) của dân chủ. Bài viết này tổng hợp các yếu tố và thuộc tính (hay đặc tính) của dân chủ được ba tổ chức đánh giá dân chủ trên thế giới và một số học giả ngành chính trị học (political Science) ghi nhận. Ba tổ chức này gồm có:

    1. Freedom House, một tố chức bất vụ lợi có trụ sở tại Hoa Kỳ, chuyên nghiên cứu và cổ võ cho dân chủ, tự do chính trị và nhân quyền. Hàng năm, Freedom House công bố các báo cáo Freedom in the World, đánh giá mức độ tự do dân chủ (democratic freedoms), Press Freedom Survey, khảo sát tự do báo chí ở các nước trên thế giới và Freedom on the Net, báo cáo về tự do internet ở các quốc gia trên thế giới. [7]

    2. The Polity Study là một tổ chức nghiên cứu học thuật với sự tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ. Hàng năm, Polity cung cấp dữ liệu cho các nghiên cứu về khoa học chính trị (political science research) bao gồm các thông tin về mức độ dân chủ ở các quốc gia độc lập có trên nửa triệu dân. [8]

    3. Economist Intelligence Unit (EIU) là một công ty tư nhân có trụ sở ở Anh Quốc cung cấp Chỉ Số Dân Chủ (Democracy Index) để đo lường tình hình dân chủ ở các quốc gia có chủ quyền (167 nước). [9]

    I. Yếu Tố Bầu Cử

    Bầu cử là phương tiện cốt yếu cho tiến trình dân chủ và bao gồm hai thành phần: bỏ phiếu (voting) và ứng cử (candidacy). Thông qua bầu cử, người dân ứng cử vào các chức vụ trong chính phủ để trực tiếp tham gia vào việc điều hành đất nước hay bầu người đại diện vào các cơ quan thuộc chính phủ để thực hiện quyền điều khiển/quản trị đất nước. Nhưng không phải bầu cử nào cũng đưa đến dân chủ. Bầu cử cần có những đặc tính sau đây để bảo đảm quyền điều khiển đất nước của người dân.

    a. Tranh đua chính trị (political competitiveness). Cần phải có tranh đua trong việc ứng cử để việc lựa chọn của người dân thật sự có ý nghĩa, và người được bầu thật sự là người đại điện cho dân. Tranh đua chính trị được thể hiện qua mức độ tham gia ứng cử của cá nhân, đảng phái và các tổ chức. Khi có nhiều người hay tổ chức tham gia ứng cử thì cử tri có nhiều lựa chọn hơn. Trong thực tế, tranh đua chính trị thường bị giới hạn bằng nhiều cách, khiến cho tính cách dân chủ của một quốc gia bị biến mất hay giảm đi.

    · Tranh đua chính trị bị giới hạn khi nhà cầm quyền hạn chế tham gia ứng cử. Thí dụ Việt Nam (CHXHCNVN) hạn chế ứng cử bằng chính sách “đảng cử dân bầu,” để đảng CSVN lựa chọn ứng cử viên bằng thủ tục “hiệp thương” do nhà cầm quyền điều khiển.

    · Tranh đua chính trị cũng bị giới hạn khi nhà cầm quyền vi phạm nhân quyền bằng cách hạn chế quyền ứng cử của những người bất đồng chính kiến (dissidents). Thí dụ, trường hợp Joshua Wong không được phép ứng cử vào các Hội Đồng Quận Hạt ở Hong Kong mới đây (2019).

    · Tranh đua chính trị cũng bị giới hạn khi những người đang cầm quyền tạo ra các trở ngại cho những đối thủ chính trị (political opponents). Thí dụ, đảng People’s Action Party (PAP) của Lý Quang Diệu, vốn cầm quyền liên tục ở Singapore trên nửa thế kỷ, được cho là đã đưa các đơn kiện về phỉ báng chống lại các đối thủ chính trị khiến họ bị phá sản và không còn khả năng tài chánh cũng như không đủ tiêu chuẩn để ứng cử. [10]

    b. Bầu Cử Công Khai, Tự Do và Công Bằng. Bầu cử phải được tổ chức công khai để mọi công dân biết mà tham gia với tư cách cử tri hay ứng cử viên, đồng thời giám sát xem bầu cử có được tự do và công bằng. Bầu cử tự do khi cử tri và ứng cử viên được tự do tham gia, và không cảm thấy an toàn cá nhân và gia đình bị đe dọa bởi nhà cầm quyền hay các tổ chức ngòai chính quyền. Trước thập kỷ 1960s, cử tri da màu ở một số địa phương ở Hoa Kỳ đã từng bị các nhóm kỳ thị chủng tộc (như KKK) tìm cách đe dọa và ngăn cản họ đi bỏ phiếu. Ngoài ra, có bầu cử tự do khi các lựa chọn chính trị của cử tri không bị áp lực hay khống chế bởi quyền lực của quân đội, các thế lực từ nước ngoài, hệ thống và đẳng cấp tôn giáo, các thế lực kinh tế, và các nhóm quyền lực khác. Bầu cử được xem là công bằng khi các ứng cử viên có các cơ hội đồng đều trong việc vận động tranh cử và không bị ảnh hưởng bởi các thế lực từ nước ngoài, những người đang tại chức và các thế lực ngoài chính quyền. Ở VN, ngòai việc thiếu cạnh tranh, cử tri từng được/bị nhà cầm quyền gợi ý nên bầu cho ứng cử viên nào đó. Như thế là trái với nguyên tắc bầu cử tự do.

    c. Quyền Bầu Cử Phổ Quát. Quyền bầu cử được coi là phổ quát khi mọi công dân, đến một tuổi nào đó, không phân biệt giới tính, chủng/sắc tộc, trình độ học vấn, hoàn cảnh kinh tế đều có quyền bỏ phiếu. Thí dụ, quyền bầu cử phổ quát được thực hiện ở Hoa Kỳ năm 1965 khi luật Voting Rights Act được ban hành. Trước đó, hiến pháp Hoa Kỳ đã công nhận quyền bỏ phiếu cho tất cả nam giới từ năm 1870 và cho tất cả nữ giới từ năm 1920, nhưng nhiều tiếu bang miền Nam đã thay đổi hiến pháp tiểu bang và đưa ra nhiều giới hạn cho việc bỏ phiếu. Cử tri phải bị sát hạch về đọc-viết và đạo đức, phải đóng thuế thân (poll taxes), hay phải có tài sản (property ownership), v. v. Những đòi hỏi này đã loại bỏ quyền bỏ phiếu của người da màu, nhất là người Mỹ gốc Phi Châu và người nghèo. [11]

    d. Quyền Ứng Cử Vào Các Chức Vụ Dân Cử Trong Chính Phủ. Trong một xã hội dân chủ, quyền điều khiển và quản lý đất nước thuộc về người dân nên mọi công dân phải được quyền ứng cử vào các chức vụ dân cử trong chính phủ. Thí dụ, Hoa Kỳ là quốc gia có rất nhiều chức vụ dân cử mở rộng cho mọi công dân tham gia. Về hành pháp, các chức vụ dân cử gồm có tổng thống, phó tổng thống, các thống đốc tiểu bang, các thị trưởng, các thành viên hội đồng giáo dục địa phương, cảnh sát trưởng (chief police hay sheriff), v.v. Ngành lập pháp có các chức vụ dân cử như dân biểu, nghị sĩ, và thành viên hội đồng thành phố. Đặc biệt Hoa Kỳ có rất nhiều chức vụ dân cử trong ngành tư pháp, như thẩm phán (judges) và công tố viên (district attorneys) cấp tiểu bang. Ngược lại, quyền ứng cử vào các chức vụ dân cử bị xóa bỏ hay thu hẹp tại các nước độc tài hay theo khuynh hướng độc tài. Thí dụ, tại Việt Nam (CHXHCNVN) các chức vụ dân cử chỉ bao gồm đại biểu quốc hội và thành viên các hội đồng tỉnh, thành phố và quận/huyện. Ngoài ra, không phải ai cũng có thể ứng cử vào các chức vụ dân cử kể trên. Đảng CSVN nắm quyền chấp thuận cho phép ai được trở thành ứng cử viên thông qua chính sách “đảng cử, dân bầu” và các thủ tục “hiệp thương.”

    e. Thay Đổi Lãnh Đạo Thường Xuyên. Tính cách dân chủ của một quốc gia cũng được thể hiện qua việc thay đổi lãnh đạo theo định kỳ (regular leadership turnover). Các quốc gia dân chủ phương tây thường qui định thời gian cho nhiệm kỳ và giới hạn số nhiệm kỳ cho các chức vụ lãnh đạo cao cấp nhất. Thí dụ, nhiệm kỳ của tổng thống Hoa Kỳ là bốn năm, và mỗi tổng thống chỉ được làm tối đa hai nhiệm kỳ. Việc thay đổi lãnh đạo theo định kỳ, ngoài việc ngăn chặn sự củng cố quyền lực qua thời gian của cá nhân, nhóm hay đảng phái, còn tạo cơ hội cho các công dân được bầu vào vị trí lãnh đạo cao cấp nhất để trực tiếp tham gia việc quản lý và điều hành đất nước. Lãnh tụ các nước độc tài thường nắm giữ vị trí quyền lực rất lâu, có khi tới vài thập kỷ, không chia sẻ quyền điều khiển đất nước với các công dân khác. Như vậy, dù có tổ chức bầu cử theo định kỳ nhưng người được bầu lên không thay đổi (như trường hợp Lý Quang Diệu ở Singapore) thì chưa thật sự dân chủ.

    II. Nguyên Tắc Đa Số

    Có bầu cử thì phải có đa số và thiểu số. Dân chủ áp dụng nguyên tắc “đa số” để phản ảnh quan điểm theo đó chủ quyền thuộc về ý nguyện của đa số, và số đông thắng số ít. Mặc dù đa số nắm quyền điều khiển quốc gia, nguyên tắc đa số của dân chủ thể hiện giá trị cốt lõi của việc bảo vệ quyền cá nhân và quyền của thiểu số chống lại sự chuyên chế (tyranny) của đa số để bảo đảm quyền lực của đa số sẽ không đưa đến việc áp bức thiểu số hay làm triệt tiêu tự do cá nhân. Việc này được thực hiện thông qua các quyền tự do dân sự (civil liberties) được hiến pháp bảo vệ, một nhà nước pháp quyền (rule of law) mạnh mẽ, cũng như chính sách kiểm tra và cân bằng (check and balance) có hiệu quả để giới hạn quyền lực của hành pháp.

    III. Chủ Nghĩa Tự Do

    Chủ nghĩa tự do là một yếu tố cốt lõi của dân chủ. Chủ nghĩa tự do bảo vệ quyền của cá nhân và thiểu số chống lại tiềm năng chuyên chế của phe đa số. Chủ nghĩa tự do chú trọng vào quyền tự do ngôn luận và tư tưởng, tự do lập hội, tự do cá nhân và tự do tín ngưỡng.

    a. Quyền tự do ngôn luận và tư tưởng bao gồm truyền thông độc lập và tự do, tự do internet, tự do học thuật, cũng như tự do biểu đạt về chính trị.

    · Truyền thông (dạng in ấn hay điện tử) độc lập và tự do là khi truyền thông đưa tin mạnh mẽ, có các thảo luận tự do và công khai về các vấn đề của công chúng, và phản ảnh sự đa dạng của các ý kiến. Ngoài ra, ký giả không bị đe dọa, quấy rối hay tấn công trong khi tham gia các hoạt động nhà báo hợp pháp. Hiện nay có 12 ký giả ở Việt Nam và 48 ở Trung Quốc đang ở tù do thực hiện chức năng nhà báo của họ. [12] Đó là thí dụ điển hình của tình trạng không có truyền thông độc lập và tự do ở Việt Nam và Trung Quốc.

    · Có tự do internet khi chính quyền không đặt ra các giới hạn có tính chất chính trị cho việc tiếp cận internet (kết nối mạng) và không kiểm duyệt trực tiếp hay gián tiếp internet và truyền thông. Luật An Ninh Mạng ở Việt Nam hiện nay là thí dụ điển hình của tình trạng không có tự do internet.

    · Tự do biểu đạt ý kiến cá nhân về chính trị là khi mọi công dân có quyền phát biểu ý kiến về các vấn đề chính trị hay các vấn đề nhạy cảm mà không sợ bị giám sát, bắt bớ hay trả thù. Tình trạng nhiều bloggers ở Việt Nam bị công an thẩm vấn, bắt giam hay kết án tù chỉ vì phát biểu những ý kiến khác với quan điểm của nhà cầm quyền là thí dụ không có quyền tự do biểu đạt ở Việt Nam.

    · Tự do học thuật (academic freedom) là khi hệ thống giáo dục không bị ảnh hưởng bởi giáo điều chính trị. Ở Hoa Kỳ và các nước dân chủ tây phương, công dân, học sinh, sinh viên, các nhà nghiên cứu có quyền tìm hiểu, học hỏi, nghiên cứu các chủ nghĩa tư bản, xã hội, cộng sản, cũng như các hình thức tôn giáo, các hiện tượng xã hội, các hình thức kinh tế, v.v. Ở Việt Nam, hệ thống giáo dục được chỉ đạo bởi chủ nghĩa Marxist Leninist là thí dụ điển hình không có tự do học thuật.

    b. Quyền tự do lập hội: Trong xã hội dân chủ, người dân có quyền tự do hội họp cũng như thành lập các tổ chức ngoài chính phủ, các tổ chức nghề nghiệp chuyên môn và nghiệp đoàn lao động. Tại Việt Nam người dân chưa có quyền tự do lập hội.

    · Quyền tự do hội họp tạo điều kiện cho người dân trao đổi ý kiến hay thảo luận các vấn đề liên quan đến đời sống của họ (chính trị, kinh tế, khoa học, văn hoá, môi trường, v.v.). Biểu tình ôn hòa là một hình thức của quyền tự do hội họp.

    · Quyền thành lập các tổ chức ngoài chính phủ (non-government organizations, NGOs), nhất là các tổ chức tham gia vào các hoạt động nhân quyền hay các công việc liên quan đến quản trị, tạo điều kiện cho việc giám sát các hoạt động cũng như điều tra các vi phạm của guồng máy chính quyền.

    · Quyền tự do thành lập các tổ chức nghề nghiệp chuyên môn và nghiệp đoàn lao động độc lập giúp các người hành nghề chuyên môn có cơ hội thảo luận các vấn đề liên quan đến quyền lợi của những người làm chuyên môn và công nhân, cũng như phát triển ngành nghề. Việt Nam hiện nay có tổ chức công đoàn và nhiều hội nghề nghiệp chuyên môn, nhưng những tổ chức này không độc lập vì đều do đảng CSVN điều khiển.

    c. Quyền tự do cá nhân và quyền tự chủ: Trong xã hội dân chủ, các cá nhân có quyền tự do di chuyển, cư trú, làm việc, học hành. Chính sách quản lý hộ khẩu tại Việt Nam hiện nay là trái với quyền tự do di chuyển và cư trú. [13]

    d. Quyền tự do tín ngưỡng và lòng khoan dung về tôn giáo: Xã hội dân chủ có tự do tín ngưỡng và mức độ cao về lòng khoan dung tôn giáo (religious tolerance). Tất cả các tôn giáo đều được phép hoạt động tự do, không tôn giáo nào bị ngăn cấm; tín đồ có quyền thực hành các nghi thức tôn giáo một cách công khai hay riêng tư. Không tôn giáo nào cảm thấy bị đe dọa bởi các tôn giáo khác mặc dù có pháp luật qui định và bảo vệ bình đẳng tôn giáo. Trường hợp một số tu sĩ Phật giáo quá khích tấn công người Hồi giáo Rohingya ở Myanmar là thí dụ về sự vi phạm tự do tín ngưỡng. [14]

    IV. Yếu Tố Thảo Luận và Cân Nhắc

    Người dân trong một nước dân chủ có quyền tự do thảo luận về chính trị và cân nhắc kỹ lưỡng (deliberative) các quyết định chính trị (thí dụ, bỏ phiếu cho ai). Giá trị cốt lõi của quyền thảo luận và yếu tố cân nhắc nằm ở chỗ những quyết định chính trị nhằm mục đích công ích phải căn cứ vào các cuộc đối thoại trong đó có sự tôn trọng lẫn nhau cũng như các thảo luận hợp lý ở tất cả các cấp. Do đó, ngoài việc chính quyền phải tạo điều kiện cho các cuộc thảo luận hay đối thoại công khai, người dân cần tích cực tham gia vào việc lựa chọn theo tinh thần dân chủ.

    Mặc dù các cá nhân có quyền tự do lựa chọn trong việc bỏ phiếu hay ra tranh cử, quyết định cá nhân mang tính dân chủ phải căn cứ vào lợi ích chung của xã hội, chứ không dựa vào sự kêu gọi tình cảm, những gắn bó cá nhân, những quyền lợi cục bộ, hay do bị ép buộc. Thí dụ, quyết định mang tính dân chủ là trước khi bỏ phiếu cử tri đã tìm hiểu kỹ lưỡng dựa theo các thông tin từ nhiều phía cùng các cuộc thảo luận hay đối thoại để xem ứng cử viên nào có khả năng hay có thể làm tốt cho xã hội về các phương diện kinh tế, ngoại giao, quốc phòng, y tế, giáo dục, văn hoá, và nhân quyền mà không quan tâm đến giới tính hay màu da, tính cách hấp dẫn (charisma) do ngoại hình của ứng cử viên, cũng như tình đồng hương hay cùng niềm tin tôn giáo với ứng cử viên. Ngoài ra, lựa chọn một ứng cử viên có những quan điểm kỳ thị chủng/sắc tộc, giai cấp và giới tính, hay có khuynh hướng phản nhân quyền cũng là trái với tinh thần dân chủ.

    V. Nhà Nước Pháp Quyền

    Nhà nước pháp quyền hay thượng tôn luật pháp (rule of law) là một thuộc tính (attribute) không thể thiếu của dân chủ. Khi người dân tham gia bầu cử để lựa chọn người đại diện cho họ trong cơ quan lập pháp mà luật pháp không được tôn trọng thì dân chủ chỉ là cái bánh vẽ. Thượng tôn luật pháp nhấn mạnh vào quyền lực và ảnh hưởng của luật pháp trong xã hội, theo đó mọi người dù ở địa vị hay chức vụ nào cũng phải tuân theo luật pháp. Thượng tôn luật pháp bao gồm các yếu tố sau đây:

    a) Tư pháp độc lập (judicial independence) là khi các hoạt động của ngành tư pháp không bị ảnh hưởng bởi các ngành khác trong chính phủ (hành pháp hay lập pháp) hay bởi các lợi ích cá nhân hay đảng phái. Tư pháp phải độc lập thì mọi người dân mới bình đẳng trước pháp luật. Thí dụ, tư pháp độc lập không nương tay khi xét xử các viên chức cao cấp trong chính phủ hay các nhân vật nổi tiếng (celebrity). Trái lại Việt Nam không có tư pháp độc lập vì đảng CSVN chỉ đạo hệ thống tư pháp, đặc biêt là các vụ án mang tính chính trị. Ngoài ra, các đảng viên cao cấp hay các nhân vật có thế lực khi can tội hình sự thường bị án nhẹ hơn so với thường dân trong trường hợp tương tự. Trường hợp tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump mới đây chỉ trích hình phạt do công tố đề nghị cho một nhân vật thân cận với tổng thống (Roger Stone, Jr.), vốn đã được kết luận phạm các tội cản trở quốc hội (điều tra vụ Nga can thiệp vào bầu cử năm 2016), nói dối quốc hội và lung lạc nhân chứng, cũng trái với nguyên tắc tư pháp độc lập. [15]

    b) Thủ tục công bằng (due process) có nghĩa là chính quyền phải tôn trọng các quyền hợp pháp của cá nhân trong các vụ xét xử (dân sự, hình sự, thương mại, v.v.). Các quyền hợp pháp của công dân được qui định trong các văn bản pháp luật, kể cả hiến pháp. Thí dụ, Điều 20 Hiến Pháp Việt nam (CHXHCNVN), khoản 1 và 2 qui định:

    1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

    2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định. [16]

    Tại Hoa Kỳ, một số Tu Chính Án (TCA) của Hiến Pháp chứa đựng các qui tắc căn bản của thủ tục công bằng. Thí dụ, TCA Số 4 qui định thủ tục bắt giữ, lục soát và tịch thu tang vật; TCA Số 5, quyền giữ im lặng, quyền không bị xử quá một lần về một tội, quyền không bị tra tấn về thể xác hay tinh thần trong lúc điều tra; TCA Số 6, quyền được xét xử công khai (public trial) và nhanh chóng (speedy trial), quyền được xử bởi bồi thẩm đoàn, quyền có luật sư đại diện, quyền đối chất với nhân chứng; TCA số 8, quyền được bảo lãnh để tại ngoại (bail) và cấm hình phạt quá mức hay tàn ác. [17]

    Nhưng có qui định thì chưa đủ mà cần phải thi hành. Nếu trong các vụ xét xử mà các qui định về thủ tục công bằng không được áp dụng tức là không có thủ tục công bằng và không có dân chủ. Ngoài ra, khái niệm thủ tục công bằng được phát triển theo thời gian. Các nước càng dân chủ thì các qui định về thủ tục công bằng càng sát với các nhân/dân quyền và được áp dụng triệt để. (Còn tiếp)

    Chú thích:

    1. Phạm Hồng Sơn:

    - https://en.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m_H%E1%BB%93ng_S%C6%A1n;
    - Vietnam net dissident jailed: http://news.bbc.co.uk/2/hi/3000278.stm;
    - Amnesty blasts Vietnam for jailing net dissident: https://www.smh.com.au/technology/amnesty-blasts-vietnam-for-jailing-net-dissident-20030619-gdgyim.html

    2. Dân chủ Viet Nam cao gấp vạn lần dân chủ tư bản: https://caulacbonhabaotudo.wordpress.com/2011/11/08/dan-ch%E1%BB%A7-vi%E1%BB%87t-nam-cao-g%E1%BA%A5p-v%E1%BA%A1n-l%E1%BA%A7n-dan-ch%E1%BB%A7-t%C6%B0-s%E1%BA%A3n/

    3. Ở đâu mà dân chủ và quyền con người được đảm bảo hơn Việt Nam?: https://giaoduc.net.vn/tieu-diem/o-dau-ma-dan-chu-va-quyen-con-nguoi-duoc-dam-bao-hon-viet-nam-post203809.gd

    4. Democracy Index 2019: https://www.eiu.com/public/topical_report.aspx?campaignid=democracyindex2019

    5. Freedom in the World Countries 2019: https://freedomhouse.org/report/countries-world-freedom-2019?order=title&sort=asc

    6. Polity Data Series – Scores for 2018: https://en.wikipedia.org/wiki/Polity_data_series#Scores_for_2018

    7. Freedom House: https://en.wikipedia.org/wiki/Freedom_House#History

    8. Polity Data Series: https://en.wikipedia.org/wiki/Polity_data_series

    9. Democracy Index: https://en.wikipedia.org/wiki/Democracy_Index

    10. Andrews, Sally. "'Soft' Repression: The Struggle for Democracy in Singapore". https://thediplomat.com/2015/02/soft-repression-the-struggle-for-democracy-in-singapore/; Foong Lian, Hah (12 May 2010). "Defeating rivals through defamation lawsuits – SEAPA: https://www.seapa.org/defeating-rivals-through-defamation-lawsuits/

    11. Universal Suffrage: https://en.wikipedia.org/wiki/Universal_suffrage#cite_note-55.

    12. Việt Nam có 12 nhà báo bị cầm tù, đứng thứ 2 Châu Á: https://www.bbc.com/vietnamese/world-50754003

    13. Điều kiện, thủ tục nhập hộ khẩu Hà Nội mới nhất: https://luatvietnam.vn/tin-phap-luat/dieu-kien-va-thu-tuc-nhap-ho-khau-ha-noi-moi-nhat-230-18060-article.html

    14. Myanmar failing to stop spread of religious violence, UN envoy says: https://www.theguardian.com/world/2017/may/19/myanmar-failing-to-stop-spread-of-religious-violence-un-envoy-says

    15. Trump criticizes 'very unfair' sentencing recommendation for Roger Stone: https://thehill.com/homenews/administration/482471-trump-criticizes-very-unfair-sentencing-recommendation-for-roger

    16. Hiến Pháp năm 2013: http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/NuocCHXHCNVietNam/ThongTinTongHop?categoryId=920&articleId=10053009

    17. Bill of Rights of the United States of America: https://billofrightsinstitute.org/founding-documents/bill-of-rights/

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    19 phản hồi

    Phản hồi: 

    Hiện đang có câu chuyện thời sự có thể minh họa cho vai trò của truyền thông tự do trong việc hổ trợ làm sáng tỏ nhận thức trong xã hội.

    Câu chuyện thuyền trưởng hàng không mẫu hạm USS Theodore Rooservelt của hải quân Mỹ bắt đầu vào ngày 30/3, được BBC tiếng Việt đưa tin ngày 1/4: https://www.bbc.com/vietnamese/world-52102027

    Hôm sau 2/4 thuyền trưởng Brett Crozier bị quyền Bộ trưởng Hải quân Mỹ Thomas Modly cách chức. Ngày 3/4 BBC loan tin: https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-52147049

    Chuyện 140 thủy thủ trên USS Theodore Rooservelt bị nhiễm COVID-19 đã là nghiêm trọng, chuyện cách chức thuyền trưởng còn nghiêm trọng hơn. Cách chức là đúng hay sai? Nên hay không nên trong lúc xã hội đang hoang mang tột độ giữa cơn đại dịch. Bô trưởng quốc phòng và TT Trump đều biểu lộ sự ủng hộ việc cách chức, nhưng Quốc hội lại muốn điều tra! Vậy thì có điều gì bất ổn ở đây không?

    Ngày 3/4 đài Fox News mời đại tướng hồi hưu Jack Kean bình luận về vụ việc, video có thể xem ở đây: https://www.youtube.com/watch?v=SEzjAT4nPFU&t=278s

    Tôi mạn phép dịch một số đoạn, lời của ông tướng:

    "Tôi cho rằng đây là chuyện không hay, nên tránh. Những người liên quan ở đây đều hành động rất cương quyết (well-intentioned). Vấn đề đầu tiên tôi muốn nói là ông quyền BT Hải quân, ông ấy cho rằng ông ấy hoàn toàn đúng với những lý do như ông ấy đã nói. Nhưng tại sao ông ấy làm như vậy (cách chức)? Đây là câu tôi muốn hỏi. Có 4 cấp Đô đốc giữa ông ấy và người thuyền trưởng, đó là tập hợp hơn một trăm năm kinh nghiệm trong hoạt động của binh chủng Hải quân. Khi bạn gặp bất đồng với một người chỉ huy phương tiện quân sự thuộc loại mạnh nhất như tàu sân bay hãy để các vị Đô đốc xem xét và thẩm định sự việc. Ở đây ông BT đã xử lý như là vấn đề cá nhân...Đó là vấn đề thứ nhất. Vấn đề thứ hai là tại sao làm chuyện đó (cách chức) vào lúc này? Con tàu không đang trong lúc làm nhiệm vụ, các sĩ quan trong đường dây chỉ huy vẫn làm việc bình thường, con tàu chỉ tập trung yêu cầu được cập bến, được cung cấp chỗ ở cho thuỷ thủ để cách ly, xét nghiệm để kiểm soát và điều trị những người đã bị lây nhiễm. Chúng ta đều biết rằng trong Hải quân thuyền trưởng thuờng được coi lớn hơn sinh mạng của thủy thủ trên con tàu. Mọi thùy thủ đều biết vị thuyền trưởng đó, phần lớn kính phục ông ta , mà đây là những người rất đáng kính đang phục vụ đất nước. Cách chức thuyền trưởng giữa cơn khủng hoảng đang đe dọa sinh mạng các thủy thủ trên tàu, với tôi có vẻ quá gấp. Đáng lẽ phải dành thời gian đánh giá sai lầm của anh ta đã. Cứ để anh ta ở đó cho tới khi có thẩm định đầy đủ đã. Phải loại bỏ mọi xúc cảm cá nhân khi xử lý vụ này. Vấn đề thứ ba là chính bản thân thuyền trưởng. Tại sao anh ta lại viết bức thư như vậy sau khi đã đặt vấn đề, đã bàn bạc với một loạt các sĩ quan trong đường dây chỉ huy của anh ta trên một mạng lưới thông tin không được bảo mật. Rồi lại đưa vào bức thư cả ý kiến của những người không nằm trong đường dây chỉ huy, có nhiều người là cấp dưới của anh ta. Đó là những việc quá dại dột, theo ý tôi, dù biết là anh ta rất cương quyết. Rõ ràng anh ta đã nói chuyện nhiều lần với các chỉ huy cấp cao trước khi tàu đến Guam. Họ biết lo lắng của anh ta, họ đang thu xếp để đáp ứng những gì anh ta cần. Cho nên tôi tin chắc sau mấy ngày cuối tuần anh ta kết luận không thể tiếp tục chờ cấp trên, phải làm một cái gì đó. Đây là lúc bức thư bật ra. Nên nhớ, có thể làm bằng cách khác. Còn có những đường dây chỉ huy khác anh ta có thể liên lạc yêu cầu, ví dụ với VPC, nếu anh ta thỉnh cầu VPC tôi nghĩ anh ta sẽ được đáp ứng, không có vấn đề gì. Tại sao lại viết thư, quyết định này thành vấn đề..."

    Bị cách chức nhưng ngày 4/4 khi thuyền trưởng Crozier rời hàng không mẫu hạm USS Theodore Rooservelt ông được rất đông thủy thủ và các sĩ quan đưa tiễn với thái độ ủng hộ, như được thấy trong đoạn video clip ở đây: https://www.youtube.com/watch?v=iF0MrfyO5Eg

    Ngày 6/4 quyền BT Hải quân Thomas Modly bay thẳng đến con tàu ở Guam, huấn thị trước thủy thủ đoàn ông chỉ trích người chỉ huy tàu bằng những lời lẽ khiếm nhã.

    Ngày 7/4 quyền BT Hải quân Thomas Modly từ chức. BT Quốc phòng và TT Trump cùng lên tiếng về vụ việc, tin được BBC loan đi ngày 8/4: https://www.bbc.com/vietnamese/world-52210569

    Vậy là chỉ trong vòng 7 ngày hệ thống công quyền Mỹ mất hai nhân vật thuộc hàng siêu xuất sắc! Tại sao lại phải mất cả hai? Đáng lẽ chỉ mất một thôi chứ. Nếu thuyền trưởng Crozier đưa thư ra công luận là sai thì ông bị quyền BT cách chức là đúng. Vậy thì tại sao thủy thủ lại biểu lộ ủng hộ ông mạnh mẽ - một cách gián tiếp chống lại quyết định của quyền BT? Nếu quyền BT cách chức Crozier là đúng thì tại sao ông lại từ chức? Nóng giận nói vài lời khiếm nhã thì cũng là chuyện thường. Đã biết bao lần TT Trump văng tục, dùng tiếng lóng miệt thị người khác mà có sao đâu? Rồi cả BT quốc phòng và Tổng thống đều nói cách chức là đúng, rồi lại nói từ chức cũng đúng! Vậy nghĩa là sao? Một bên sai thì một bên phải đúng chứ. Rồi Hạ viện đòi điều tra việc cách chức nữa!

    Giữa những thắc mắc của dư luận, ngày 8/4 một lần nữa bình luận của tướng hồi hưu Jack Kean: https://video.foxnews.com/v/6148127067001#sp=show-clips

    "...Điểm chung là hai bên đều nhiều kinh nghiệm và hành động một cách cương quyết. Rõ ràng nhất là ông quyền BT đã xử lý vụ việc một cách rất cá nhân ngay bước đầu. Cách xử lý cho thấy ông ấy không tuân thủ kỷ luật kiềm chế cảm xúc, thứ ông cần có để thấy vai trò của mình xuyên suốt cuộc khủng hoảng, và dùng toàn bộ các cấp trong đường dây chỉ huy, cả 4 Đô đốc ở giữa ông và thuyền trưởng. Nếu ông ấy xủ lý theo đường dây này ông ấy đã có những kết luận hợp lý hơn, chẳng hạn quan tâm giải quyết chính sẽ tập trung vào chuyện sức khỏe của thủy thủ đoàn chứ không phải là chuyện thất bại trong quan hệ với công chúng. Những chuyện chiếm lĩnh tâm trí đến mức ông phải bay tận đến Guam. Bay đến đến Guam để biện minh cho điều gì? Tại sao ông ấy cách chức thuyền trưởng. Và tôi nghĩ ông ấy sẽ không bay tới Guam nếu các thủy thủ không bày tỏ sự ủng hộ với thuyền trưởng. Ở đây chúng ta có một Bộ trưởng Hải quân và Adam Smit đang tìm lý do tại sao ông ta lạc đường. Tôi chỉ giải thích một cách hợp lý chuyện gì đã xảy ra.... Thuyền trưởng, đã liên lạc nhờ BT giúp và chỉ vài ngày trước khi thuyền trưởng viết bức thư BT đã đến tàu để bàn xem cần làm gì, khi chia tay BT cho thuyền trưởng số cell phone để liên lạc, đây là lý do khi thư ra công luận BT cảm thấy vấn đề rất cá nhân.... Với thuyền trưởng Crozier tôi nghĩ anh ta đã chấp nhận việc mình bị cách chức khi đưa thư ra công luận, có nghĩa anh ta đã xin chỉ thị nhưng gặp trục trặc với cấp chỉ huy, không khắc phục được các trở ngại và anh ta quyết định làm to chuyện."

    Tôi thấy những lời bình luận của tướng Kean đã giải tỏa hầu hết các nút thắt trong câu chuyện.

    Bình luận của đội ngũ cộng tác viên chuyên gia trong truyền thông tự do hết sức quan trọng trong việc hổ trợ người dân nhận thức các vấn đề phức tạp trong xã hội.

    Phản hồi: 

    [quote="TRẦN THỊ NGỰ"] Tôi nghĩ là BS Phạm Hồng Sơn đã dịch từ tài liệu sau đây (trong phần tài liêu tham khảo trong bài viết của tôi). Bác đọc thử xem như thế nào:
    International Information Programs (US Department of State). Democracy in Brief. https://static.america.gov/uploads/sites/8/2016/07/Democracy-in-Brief_In...
    Ngoài ra tôi có tìm thấy trên net bài viết của BS Phạm Hồng Sơn, theo link sau đây:
    The nao la dan chu – pham hong son: http://hoctapdanchuonline.blogspot.com/2014/12/the-nao-la-dan-chu-pham-h... [/quote]

    Cám ơn bác Ngự, tôi cũng tìm cái này mà không thấy. Vậy là có tài liệu dồi dào hơn để bạn đọc tham khảo nếu muốn. Link tiếng Việt tôi mới đọc sơ qua vài đoạn, để có thời gian sẽ đọc kỹ.

    Phản hồi: 

    [quote=Mở Miệng] Tôi có tìm phiên bản của toà đại sứ Mỹ mà BS Phạm Hồng Sơn đã dịch rồi bị đàn áp nhưng đến nay trên trang web của TĐS không còn . Tôi nhớ có đọc qua phiên bản này và thấy nó đủ rộng, tức là bao gồm hết tất cả các yếu tố, nhưng thiếu chiều sâu[/quote]
    Tôi nghĩ là BS Phạm Hồng Sơn đã dịch từ tài liệu sau đây (trong phần tài liêu tham khảo trong bài viết của tôi). Bác đọc thử xem như thế nào:
    International Information Programs (US Department of State). Democracy in Brief. https://static.america.gov/uploads/sites/8/2016/07/Democracy-in-Brief_In...
    Ngoài ra tôi có tìm thấy trên net bài viết của BS Phạm Hồng Sơn, theo link sau đây:
    The nao la dan chu – pham hong son: http://hoctapdanchuonline.blogspot.com/2014/12/the-nao-la-dan-chu-pham-h...

    Phản hồi: 

    [quote="TRẦN THỊ NGỰ"]Cảm ơn bài bình luận của bác Mở Miệng. Nếu có thời gian, xin bác tiếp tục triển khai thêm những khái niệm khác trong bài viết về dân chủ của tôi để giúp bạn đọc hiểu về dân chủ một các cụ thể hơn. Cảm ơn bác trước. [/quote]

    Phiên bản "Thế nào là dân chủ?" này của bác có 11 mục lớn và 32 mục nhỏ. Tôi cũng có một phiên bản với tên gọi tương tự (Democracy: What is it?). Theo phiên bản của tôi dân chủ có 4 mặt ( faces), 3 nguyên tắc chính (basic principles), 3 hình thái (forms) 42 điểm (points) và hơn 100 khái niệm phải định nghĩa ( definitions). Kết hợp 2 phiên bản tôi nghĩ đã khá đủ để nói về cách quản trị xã hội này, cả chiều rộng lẫn chiều sâu (Tôi có tìm phiên bản của toà đại sứ Mỹ mà BS Phạm Hồng Sơn đã dịch rồi bị đàn áp nhưng đến nay trên trang web của TĐS không còn . Tôi nhớ có đọc qua phiên bản này và thấy nó đủ rộng, tức là bao gồm hết tất cả các yếu tố, nhưng thiếu chiều sâu)

    Tài liệu không thiếu, tuy nhiên nếu chúng ta trình bày đề tài này như một bảng danh mục các yếu tố thì, như có bạn đọc đã phản ánh, sẽ rất rời rạc, khô khan; nó như một cỗ máy bị tháo rời thành nhiều bộ phận. Cỗ máy hoạt động rất tốt nhưng bị tháo rời ra, nhìn vào người ta chỉ thấy một mớ các bộ phận lộn xộn, không thể hình dung làm sao cỗ máy có thể hoạt động, chưa nói tới cỗ máy hoạt động sẽ mang lợi ích đến cho chính bản thân mình. Thành ra theo ý tôi, sau khi trình bày các yếu tố ta phải ráp các bộ phận để thành một cỗ máy trở lại và phải chứng minh làm sao nó có thể hoạt động.

    Tôi đã ráp lại một số. Tôi làm việc này theo phương châm từng bước, đúng lúc, đúng chỗ, tức là theo thời sự và theo các câu hỏi, ý kiến của bạn đọc. (Tất nhiên cũng tùy vào điều kiện tôi có thời gian hay không).

    Ngoài việc ráp các bộ phận lại thành một bộ máy có thể hoạt động còn phải làm sao đặt cỗ máy ấy vào VN. Đây mới là mục tiêu chính và sẽ là thử thách lớn nhất. Để thành công, theo tôi phải chỉ ra những điểm thuận tiện và không thuận tiện. Phải chỉ ra những trở ngại và nguồn gốc những trở ngại ấy. Và quan trọng nhất là phải chỉ ra cuộc sống người dân có gì tốt hơn dưới chế độ dân chủ so với sống dưới chế độ toàn trị hiện nay.

    Hiểu biết dân chủ qua các tài liệu tôi nghĩ chưa đủ. Còn phải làm sao vận dụng nó vào cuộc sống. Đây là chặng đường dài mà nhiều người đang cố gắng.

    Phản hồi: 

    Yếu tố tư nhân trong truyền thông tự do

    [quote="Trần Thị Ngự"]a. Quyền tự do ngôn luận và tư tưởng bao gồm truyền thông độc lập và tự do, tự do internet, tự do học thuật, cũng như tự do biểu đạt về chính trị.[/quote]

    Truyền thông độc lập và tự do sẽ cho ra đời trong xã hội một hệ thống truyền thông tư nhân. Sẽ có các đài phát thanh tư nhân, các kênh truyền hình tư nhân, các tờ báo (báo in và online) tư nhân. Môi trường hoạt động tư nhân đòi hỏi các cơ quan này phải cạnh tranh với nhau. Và vì phải cạnh tranh họ phải đưa ra các sản phẩm thông tin nổi trội (tức là có độ chính xác) hơn so với các đối thủ. Rồi để có các bản tin có độ chính xác cao các cơ quan truyền thông tư nhân này phải thuê mướn một đội ngũ các chuyên gia, thuê mướn theo ngạch phóng viên chính thức hoặc theo ngạch cộng tác viên, trong nước cũng như từ nước ngoài. Với đội ngũ các chuyên gia thuộc đủ ngành nghề, khi xã hội phải đối mặt với một vấn đề một chuyên gia, theo đúng chuyên môn của mình, sẽ phân tích vấn đề đó và đưa ra một bản tin hay một bài bình luận "chất lượng có thể cạnh tranh". Đến đây đã có thể hình dung xã hội sẽ nhận được những gì từ hệ thống truyền thông tự do, độc lập.

    Ví dụ, có sự kiện tranh chấp ngoài biển đảo, báo, đài sẽ gửi phóng viên của mình đến hiện trường. Từ hiện trường phóng viên gửi hình ảnh, âm thanh, các thông tin thu thập được về trụ sở. Ở trụ sở có cộng tác viên là một ông tướng đã hồi hưu. Ông tướng sẽ dựa theo các thông tin phóng viên gửi về mà phân tích. Kết quả xã hội có một bản tin hay một bài bình luận có độ chính xác "rất chuyên môn". Cứ tạm cho có 10 báo, đài săn tin vụ này, như vậy sẽ có 10 ông tướng hồi hưu phân tích và xã hội sẽ có 10 bản tin khác nhau. Sẽ có một số điểm nhận định giống nhau và chắc chắn cũng sẽ có một số điểm nhận định khác nhau. Sau một thời gian thực tế sẽ cho thấy nhận định nào chính xác hơn, có nghĩa báo đài nào hấp dẫn, uy tín hơn, đáng mua, đáng đọc hơn. Cứ vậy mà cạnh tranh, tồn tại.

    Hay như trường hợp muốn xây nhà máy điện hạt nhân hay làm đường sắt cao tốc. Mỗi một báo, đài sẽ có một chuyên gia thuộc các lĩnh vực này phân tích vốn đầu tư, phân tích nhà thầu, phân tích kỷ thuật mới hay cũ, phân tích lợi, hại. Sẽ có tương đồng, sẽ có bất đồng, và người dân sẽ có nhiều mảng thông tin chuyên sâu để nhận thức nên hay không nên làm.

    Một ví dụ quan trọng hơn nữa là trường hợp chính phủ phải mua từ nước ngoài những mặt hàng thuộc loại kỷ thuật siêu cao như máy bay Airbus hay Boeing chẳng hạn. Khi phái đoàn chính phủ ra nước ngoài thương lượng mua, báo đài sẽ gửi phóng viên theo. Từ bàn thương lượng phóng viên gửi thông tin về. Ở trụ sở có cộng tác viên là chuyên gia hàng không phân tích. Nếu giá mua quá cao xã hội sẽ có một bản tin đại khái như "Vietnam Airlines vứt tiền qua cữa sổ". Với những thông tin và sự phân tích hợp lý cùng với áp lực của dư luận thương vụ mua này sẽ không thể thực hiện (hãy nhớ lại những vụ mua ụ nổi của Vínashin). Ở đây truyền thông tư nhân đóng vai trò hàng đầu trong việc chống tham nhũng và làm thất thoát của công.

    Quan trọng hơn nữa là phân tích chính trị. Đội ngũ cộng tác viên là những chính khách hồi hưu, những người rất am hiểu chính trị và công việc của viên chức chính quyền. Những người này sẽ phân tích những vấn đề hệ trọng, những vấn nạn của đất nước và khả năng lãnh đạo của các ứng cử viên. Qua đó người dân sẽ có đủ thông tin để quyết định mình nên chọn ai dù "dân trí" rất thấp, rất mơ hồ về chính trị mà cũng chẳng biết gì về chuyên môn.

    Nói sơ vài điểm như vậy đủ để thấy tự do ngôn luận sẽ đưa một quốc gia vượt qua một số vấn nạn như:

    1) "Dân trí thấp"
    2) Tham nhũng hay làm thất thoát của công ở cấp cao
    3) Môi trường thông tin phục vụ lợi ích nhóm

    Ngoài ra, tự do ngôn luận còn đóng vai trò hổ trợ hoặc giải tỏa các khó khăn, nếu có, trước các yếu tố được nêu trong bài chủ như:

    - Tranh đua chính trị (political competitiveness)
    - Bầu Cử Công Khai, Tự Do và Công Bằng
    - Thay Đổi Lãnh Đạo Thường Xuyên

    Phản hồi: 

    Cảm ơn bài bình luận của bác Mở Miệng. Nếu có thời gian, xin bác tiếp tục triển khai thêm những khái niệm khác trong bài viết về dân chủ của tôi để giúp bạn đọc hiểu về dân chủ một các cụ thể hơn. Cảm ơn bác trước.
    TT Ngự

    Phản hồi: 

    [quote="Mở Miệng"]Sắp tới tôi sẽ tiếp tục nối các mảng còn lại; phần của Howard Nguyễn chỉ là gợi ý và tôi cần nhiều hơn những gợi ý tương tự.[/quote]
    Ok, còm sĩ Mở Miệng có thể liên kết nhưng khi dùng ý tưởng của tên Howard Nguyễn thì phải cẫn thận !, có thật linh mục Hòang Quỳnh nói câu này "thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa" hay lại bị tên Trần Ngọc Chung của Giao Điểm xuyên tạc, mà Howard Nguyễn là một thành viên.

    [quote="Tên tác giả"]2- Đòi tôn giáo phải “đồng hành” với Đảng CSVN
    Bài “Tôn giáo chân chính đồng hành cùng dân tộc” của Trần Chung Ngọc được đăng trên tờ Nhân Dân với mục đích kêu gọi Công Giáo phải đi con đường của Phật Giáo là làm công cụ cho Đảng CSVN. Trần Chung Ngọc đã mô tả việc Phật Giáo “đồng hành với dân tộc” như sau:
    “Từ xưa tới nay Phật giáo ở Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc. Khi thực dân Pháp xâm lăng và dưới thời Pháp thuộc, nhiều chùa đã trở thành nơi nuôi giấu, bảo vệ những người yêu nước chống Pháp. Trong cuộc kháng chiến ở Việt Nam gần đây cũng vậy, nhiều tu sĩ bỏ áo cà sa đi theo kháng chiến, vì theo truyền thống yêu nước, xét đúng ưu tiên của thời thế, giặc đến nhà đàn bà phải đánh, nền độc lập của nước nhà trên hết, không như bọn Việt gian vô Tổ quốc, phi dân tộc, chủ trương “thà mất nước chứ chẳng thà mất Chúa…”.[/quote]

    Phản hồi: 

    [quote="BA LÚA"]VN làm gì có tự do bầu cử - VN làm gì có tự do cho các cá nhân hay các tổ chức đề cử người của mình được là ứng cử viên[/quote]

    Chưa có nhưng khi thấy cần có nhiều người lại thắc mắc ở chỗ bị các thế lực bên ngoài tác động hoặc làm sao chọn được người xứng đáng trong xã hội VN dân trí thấp. Tôi nói phần này thứ nhất là để xóa tan những nỗi lo đó; thứ hai, quan trọng hơn, là để liên kết các mảng "yếu tố dân chủ" có vẻ rời rạc lại với nhau, từ đó cấu trúc, cách hoạt động và lợi ích của thể chế dân chủ sẽ hiện ra rõ, sẽ làm nhiều người thoải mái, tự tin hơn. Thoải mái, tự tin trong ý tưởng sẽ dẫn tới thoải mái tự tin trong hành động.

    Cho tới lúc này tôi đã liên kết được: 1- mảng "quyền của người dân" liên kết với mảng "nhà nước pháp quyền". 2- mảng "bầu người xứng đáng" liên kết với mảng "tự do ngôn luận". Sắp tới tôi sẽ tiếp tục nối các mảng còn lại; phần của Howard Nguyễn chỉ là gợi ý và tôi cần nhiều hơn những gợi ý tương tự.

    Phản hồi: 

    [quote="Mở Miệng"]Kể lại chuyện này để nói về "ảnh hưởng La Mã" với các cử tri Thiên chúa giáo trong một cuộc bầu cử chính quyền đúng nghĩa.[/quote]

    Cái thằng cha Howard Nguyễn lấy tôn giáo, quí cha quí thầy trong tranh luận và lồng vào chuyện bầu cử ở VN và còm sĩ Mở Miệng cũng vô tình mắc vào cái bẫy tranh luận của hắn bởi: VN làm gì có tự do bầu cử - VN làm gì có tự do cho các cá nhân hay các tổ chức đề cử người của mình được là ứng cử viên. Vì vậy chuyện còm sĩ lo xa hay tên Howard Nguyễn quan tâm chính là chuyện đặt chiếc cày trước con Trâu, chuyện không tưởng thì bút mực làm chi để mà bàn!

    Nói chuyện ảnh hưởng La Mã, dường như còm sĩ đang nói chuyện ở một xứ dân chủ Tây Phương. Một thí dụ đúng không sai khi giáo hội Công Giáo La Mã hay tại địa phương như Mỹ quan tâm phù sự sống mà không phù sự chết như phá thai, trợ giúp được chết, hôn nhân là Nam và Nữ mà không là đồng tình luyến ái vv... Nhưng các linh mục Mỹ có rao giảng trong nhà thờ thì họ cũng chỉ nói lên cái luân lý, đạo đức và tín giáo của họ, họ KHÔNG BAO GIỜ áp đặt hay gợi ý giáo dân của họ phải bầu cho ông A hay bà B, nhưng luôn nhắn nhủ rằng là người công dân thì phải biết xữ dụng quyền của mình và bầu cho người mà mình thấy xứng đáng, người ứng viên có quan điểm phù hợp với mình và lá phiếu bầu là cả một lương tâm trong sáng trong đó chứ không bị khuẩn đục.

    Phản hồi: 

    [quote="Howard Nguyen"]Tại những quốc gia nhược tiểu, do thiếu kiến thức, thông tin, nên người dân rất dễ bị lợi dụng, dẫn dắt bởi các phe nhóm lợi ích. Thí dụ như tại các xóm đạo ở Việt Nam, đa số con chiên sẽ bầu cho các ứng viên đã được chọn lựa bởi các ông linh mục. Và điều nguy hiểm ở đây là các ông linh mục lại được chỉ định bởi giáo hoàng La Mã. Như vậy thì tuy mang tiếng là dân chủ nhưng thực sự vận mệnh quốc gia lai đặt dưới sự chỉ đạo của một ông da trắng bên trời Ấu. Nhiều ông linh mục Việt đã coi trọng La Mã hơn cả tổ quốc và dân tộc của mình. Chẳng hạn như linh mục Hoàng Quỳnh đã tuyên bố "Thà mất nước chứ không chịu mất chúa". Và gần đây có ông Ngô quang Kiệt phàn nàn, chê bai cái hộ chiếu của Việt Nam. Đây là lý đó tại sao các quốc gia Thiên chúa giáo như Phi luật Tân, các quốc gia Nam Mỹ châu, Phi châu, mặc dầu áp dụng chính sách tự do dân chủ nhưng vẫn bị độc tài, nghèo đói, tham nhũng và bất công. [/quote]

    Đọc đoạn này làm tôi nhớ lại những lần có dịp nghe tranh luận về chuyện tương lai "lên/xuống", phe này phe kia của các "ông lớn" trong đảng. Tranh luận cũng sôi nổi lắm. Ông này thì giỏi, có học nhưng "dính tiền, dính gái". Ông kia thì trung bình nhưng có gốc bự. Ông nọ thì giỏi, "sạch" nhưng không có ai "đỡ đầu". Tranh luận mãi, hết ý nhưng vẫn không thấy nhân vật nào đáng được chọn vào cái chức đang chờ phía trước. Loay hoay mãi không xong người ta quay lại hỏi tôi: ở nước ngoài chuyện này giải quyết ra sao? Tôi trả lời: ở đó người ta chọn viên chức theo khả năng giải quyết các vấn đề xã hội. Tôi chỉ ra dòng xe dày đặc trước đường và nói thêm: chẳng hạn vấn đề xã hội ở đây là kẹt xe và tai nạn quá nhiều, người nào đưa ra những giải pháp được xem xét thích hợp với việc khắc phục tình trạng này nhất, ngưòi đó sẽ đưọc chọn vào chức vụ lãnh đạo ngành giao thông vận tải. Câu trả lời của tôi làm cuộc tranh luận sôi nổi lắng xuống, một lát sau chuyển qua đề tài khác.

    Kể lại chuyện này để nói về "ảnh hưởng La Mã" với các cử tri Thiên chúa giáo trong một cuộc bầu cử chính quyền đúng nghĩa.

    Cứ cho là cử tri Công giáo bỏ phiếu theo lựa chọn của các linh mục, và cũng cứ cho là các linh mục lựa chọn theo chỉ đạo của La Mã. Ở đây sẽ có hai tình huống. Một là cử tri Công giáo bầu theo lựa chon của các "Cha", các "Cha" thì lựa chọn theo ý của Tòa thánh nhưng người được chọn lại giải quyết tốt các vấn đề xã hội, tốt tức là đa số người dân hài lòng, ủng hộ. Vậy thì ảnh hưởng của các Cha và Tòa thánh có gì sai? Ảnh hưởng đến "chủ quyền" của VN ở chỗ nào? Hai là người được chọn không giải quyết được các vấn đề của xã hội, tệ hơn nữa là người này phân biệt tôn giáo khi nắm giữ chức vụ. Tình huống này sẽ làm nổi bật ít nhất hai yếu tối đã nêu ra trong bài chủ: một là Quyền tự do ngôn luận và tư tưởng bao gồm truyền thông độc lập và tự do, tự do internet, tự do học thuật, cũng như tự do biểu đạt về chính trị; hai là Thay Đổi Lãnh Đạo Thường Xuyên.

    Thay Đổi Lãnh Đạo Thường Xuyên sẽ bảo đảm người được cử tri Công giáo bầu theo ý các Cha sẽ không ngồi lâu, tối đa là bốn/năm năm. Hơn nữa còn có cơ chế truyất quyền, bãi nhiệm (chưa được nêu ra ở đây) mà người dân sẽ dùng tới khi thấy người mình chọn thay đổi hoặc phạm lỗi không thể bỏ qua. Cơ chế "thu hồi" này bảo đảm một viên chức dù được bảo trợ bỡi bất cứ thế lực nào cũng có thể bị nhanh chóng tước quyền. Ở VN chưa tới 7% dân số theo Công giáo.

    Tự do ngôn luận bước đầu sẽ đưa ra thông tin tương đối đầy đủ về các ứng cửa viên. Tự do ngôn luận sẽ cho phép các cơ quan truyền thông phân tích ở mức chính xác nhất khả năng giải quyết các vấn đề xã hội, cũng như quan điểm và các thế lưc ảnh hưởng của các ứng cử viên. Qua đó người dân có cơ hội lựa chọn người phù hợp nhất vào chức vụ được bầu dù không có mấy hiểu biết chuyên ngành (tôi sẽ nói rõ mấy đìểm này trong các phần góp ý về sau). Sai khi được bầu, tự do ngôn luận sẽ bảo đảm người dân có thông tin tương đối đầy đủ về thành tích cũng như sai lầm của viên chức đang cầm quyền. Qua đó người dân lựa chọn phải "cho về vườn" ngay, phải chịu đựng bốn/năm năm, hay tiếp tục bầu lại trong nhiệm kỳ sau.

    Nói sơ qua vài điểm như vậy để thấy sợ "nguy hiểm" khi Công giáo hay Tòa thánh La Mã ảnh hưởng tới "chủ quyền" của VN là lo sợ (nếu là thật) của những người chưa có đủ hiểu biết về thể chế dân chủ.

    Phản hồi: 

    [quote=KIÊN GIANG] Tôi hiểu dân chủ thì dân là chủ của đất nước, xã hội như cha mẹ là chủ của gia đình. Nhưng muốn làm chủ thì phải có quyền . Do vậy, dân phải có quyền, quyền ấy là dân quyền. Dân chủ chỉ có ý nghĩa và thành sự thật khi có dân quyền. Dân chủ và dân quyền là cặp khái niệm chỉ tồn tại song đôi, thiếu một trong hai thì chỉ là trò mị dân của kẻ cầm quyền.[/quote]
    Đồng ý với bạn đọc Kiên Giang. Ngoài phần giải thích của bác Mở Miệng, dân quyền được nói đến trong nhiều phần của bài viết (Phần III: Chủ Nghĩa Tự Do; Phần VII: Chính Trị Đa Nguyên; Phần IX: Các Hoạt Động Của Chính Phủ; Phần X: Hạn Chế Quyền Hành Pháp) như sau:
    [quote=Trần Thị Ngự]
    III. Chủ Nghĩa Tự Do

    Chủ nghĩa tự do là một yếu tố cốt lõi của dân chủ. Chủ nghĩa tự do bảo vệ quyền của cá nhân và thiểu số chống lại tiềm năng chuyên chế của phe đa số. Chủ nghĩa tự do chú trọng vào quyền tự do ngôn luận và tư tưởng, tự do lập hội, tự do cá nhân và tự do tín ngưỡng.

    a. Quyền tự do ngôn luận và tư tưởng bao gồm truyền thông độc lập và tự do, tự do internet, tự do học thuật, cũng như tự do biểu đạt về chính trị.
    . . .
    b. Quyền tự do lập hội: Trong xã hội dân chủ, người dân có quyền tự do hội họp cũng như thành lập các tổ chức ngoài chính phủ, các tổ chức nghề nghiệp chuyên môn và nghiệp đoàn lao động. Tại Việt Nam người dân chưa có quyền tự do lập hội.
    . . .
    c. Quyền tự do cá nhân và quyền tự chủ: Trong xã hội dân chủ, các cá nhân có quyền tự do di chuyển, cư trú, làm việc, học hành. Chính sách quản lý hộ khẩu tại Việt Nam hiện nay là trái với quyền tự do di chuyển và cư trú. [13]
    . . .
    d. Quyền tự do tín ngưỡng và lòng khoan dung về tôn giáo: Xã hội dân chủ có tự do tín ngưỡng và mức độ cao về lòng khoan dung tôn giáo (religious tolerance).

    VII. Chính Trị Đa Nguyên.

    a) Có quyền thành lập các tổ chức chính trị độc lập với chính quyền mà không bị chính quyền can thiệp hay giám sát (surveillance).
    . . .
    IX. Các Nguyên Tắc Về Hoạt Động Chính Phủ
    . . .
    d) Các hoạt động của chính phủ phải trong sáng và rõ ràng (transparancy), và mọi công dân đều có thể tiếp cận các thông tin về hoạt động của chính phủ. Freedom of Information Act là một thí dụ về quyền của công dân Hoa Kỳ được tiếp cận các thông tin về hoạt động của chính phủ.

    X. Hạn Chế Quyền Hành Pháp
    c) Nhiệm vụ giám sát quan trọng của các tổ chức ngoài chính phủ như truyền thông và xã hội dân sự cùng sự hữu hiệu của các tổ chức này trong việc theo dõi hoạt động của viên chức chính phủ và đòi hỏi họ phải chịu trách nhiệm về các hành vi của họ. [/quote]

    Phản hồi: 

    Góp ý với bạn (bác) Kiên Giang

    [quote=KIÊN GIANG""] Tôi hiểu dân chủ thì dân là chủ của đất nước, xã hội như cha mẹ là chủ của gia đình. Nhưng muốn làm chủ thì phải có quyền . Do vậy, dân phải có quyền, quyền ấy là dân quyền. Dân chủ chỉ có ý nghĩa và thành sự thật khi có dân quyền. Dân chủ và dân quyền là cặp khái niệm chỉ tồn tại song đôi, thiếu một trong hai thì chỉ là trò mị dân của kẻ cầm quyền.[/quote]

    "Dân quyền" mà bạn đặt thành điều kiện để có một thể chế dân chủ đích thực có thể thấy trong phần nói về "nhà nước pháp quyền hay thượng tôn pháp luật" của tác giả như sau:.

    [quote="TRAN THI NGỰ"] Nhà nước pháp quyền hay thượng tôn luật pháp (rule of law) là một thuộc tính (attribute) không thể thiếu của dân chủ. Khi người dân tham gia bầu cử để lựa chọn người đại diện cho họ trong cơ quan lập pháp mà luật pháp không được tôn trọng thì dân chủ chỉ là cái bánh vẽ. Thượng tôn luật pháp nhấn mạnh vào quyền lực và ảnh hưởng của luật pháp trong xã hội, theo đó mọi người dù ở địa vị hay chức vụ nào cũng phải tuân theo luật pháp. [/quote]

    Thượng tôn pháp luật bảo đảm có dân quyền. Tại sao?

    Bước đầu tiên của tiến trình dân chủ là soạn ra bản Hiến pháp. Đây là văn bản luật đầu tiên. Trong bản Hiến pháp sẽ có một điều hay một đoạn xác định quyền cai trị (quản trị hay quản lý) quốc gia (governance power). Ví dụ, trong Hiến pháp của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1946:

    [quote="Điều thứ 1"] Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo." [/quote]

    Hay trong Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa năm 1967 phần nói về Lập pháp có đoạn:

    [quote= Điều 30]
    Quyền Lập Pháp được quốc dân ủy nhiệm cho Quốc Hội.
    Quốc Hội gồm hai viện :
    - Hạ Nghị Viện
    - Thượng Nghị Viện[/quote]

    Tiếp theo là:

    [quote="Điều 39"]Quốc Hội có thẩm quyền :
    1- Biểu quyết các đạo luật.
    2- Phê chuẩn các hiệp ước và hiệp định quốc tế.
    3- Quyết định việc tuyên chiến và nghị hòa.
    4- Quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh.
    5- Kiểm soát chính phủ trong việc thi hành chánh sách Quốc Gia.
    6- Trong phạm vi mỗi viện, quyết định hợp thức hóa sự đắc cử của các Dân Biểu hay Nghị Sĩ.[/quote]

    Hay trong Hiến pháp Mỹ, ngay ở dòng mở đầu:

    [quote=" US Constitution"]We the People of the United States, in Order to form a more perfect Union, establish Justice, insure domestic Tranquility, provide for the common defence, promote the general Welfare, and secure the Blessings of Liberty to ourselves and our Posterity, do ordain and establish this Constitution for the United States of America.[/quote]

    Tạm dịch: " Chúng tôi, những người Mỹ ..... cùng xác lập bản Hiến pháp này cho nước Mỹ."

    Trực tiếp hoặc gián tiếp Hiến pháp xác định quyền của người dân (dân quyền).

    Sau khi được thông qua bỡi một cuộc trưng cầu dân ý hoặc bỡi một Quốc hội lập hiến, Hiến pháp chính thức thành luật, và luật này quy định người dân có quyền quản trị quốc gia.

    Có luật rồi, tiếp theo là tôn trọng luật. Đối tượng đặc biệt cần thượng tôn pháp luật, thứ nhất là các lưc lượng vũ trang như quân đôi, công an, tinh thần thượng tôn pháp luật của các thành phần này sẽ bảo đảm không có đảo chánh lật đổ hay gây bạo động làm tê liệt chính quyền. Thứ hai là các viên chức dân cử, thượng tôn pháp luật của thành phần này sẽ bảo đảm không có những điều luật đưa ra về sau mâu thuẫn với Hiến pháp.

    Như vậy: có Hiến pháp để luật hóa quyền quản trị quốc gia của người dân và có tinh thần tôn trọng luật để người dân không mất cái quyền đó. Dân chủ là như vậy.

    Phản hồi: 

    [quote="Kiên Giang"]Tôi hiểu dân chủ thì dân là chủ của đất nước, xã hội như cha mẹ là chủ của gia đình. Nhưng muốn làm chủ thì phải có quyền . Do vậy, dân phải có quyền, quyền ấy là dân quyền. Dân chủ chỉ có ý nghĩa và thành sự thật khi có dân quyền. Dân chủ và dân quyền là cặp khái niệm chỉ tồn tại song đôi, thiếu một trong hai thì chỉ là trò mị dân của kẻ cầm quyền.[/quote]

    Tôi đồng ý với bác Kiên Giang. Dân chủ và Dân quyền phải đi chung với nhau.

    Dân chủ là khái niệm, lý thuyết. Dân quyền, bao gồm Nhân quyền là thực hành.
    Ở VN, người dân được nhà nuớc "ta" ban bố cho một số quyền (lý thuyết), nhưng thực hành thì tuỳ theo
    đối tượng và tuỳ theo trường hợp, nghĩa là những quyền hạn này được áp dụng thiếu công bằng, nghĩa là người dân không thực sự làm chủ những quyền hạn đó. Nhà nước "ta" sẽ có vô số nhưng biện minh, lý giải tuỳ theo đối tượng và tuỳ theo trường hợp.
    Dân chủ và Dân quyền bao gồm Nhân quyền phải được thực thi từ 2 chiều: Dân và Chính quyền.
    Dân chủ và Dân quyền sẽ không có, nếu người dân không đòi và Chính quyền không nhượng bộ, hay chỉ nhượng bộ cho một số đối tượng, trường hợp.
    Để người dân hiểu được và đòi, thì lý thuyết rất cần thiết. Để làm áp lực với Chính quyền là số đông. Đại diện cho người dân là các ông bà Nghị sĩ, Dân biểu, không ngủ và không gật liên tục những quyết định của Quốc hội.

    Nguyễn Jung

    Phản hồi: 

    Tôi hiểu dân chủ thì dân là chủ của đất nước, xã hội như cha mẹ là chủ của gia đình. Nhưng muốn làm chủ thì phải có quyền . Do vậy, dân phải có quyền, quyền ấy là dân quyền. Dân chủ chỉ có ý nghĩa và thành sự thật khi có dân quyền. Dân chủ và dân quyền là cặp khái niệm chỉ tồn tại song đôi, thiếu một trong hai thì chỉ là trò mị dân của kẻ cầm quyền.

    Phản hồi: 

    Howard Nguyễn viết:

    Tất cả những nguyên tắc dân chủ mà tác giả đưa ra ở trên đã áp dụng thành công ở các quốc gia tân tiền như Mỹ, Úc, Canada, một số quốc gia Âu châu, Nhật, v.vv. Nhưng tác giả quên rằng khi áp dụng các điều kể trên vào những quốc gia nhỏ, nhược tiểu thì phần lớn lại không thành công bởi các lý do sau đây.

    Trình độ hiểu biết của người dân.

    Bác Ngự viết :
    Lập luận trên đây của còm sĩ Howard Nguyễn giống y chang lập luận của những người cầm quyền hiện nay ở VN, lấy lý do dân trí VN còn thấp để không thực thi dân chủ. Như tôi đã viết ở phần mở đầu, dân chủ là một tiến trình (process) chứ không phải là một hiện tượng "bừng con mắt dây là thấy dân chủ." Dân chủ phát triển và trưởng thành với thời gian nên nếu không có khởi đầu thì sẽ không bao giờ đến đích.

    Tôi đồng ý với bác Ngự, vê đoạn trên.

    Thực tế cho thấy chính các nhóm lãnh đạo tham nhũng, phá hoại ... mới là những kẻ có trình độ hiểu biết thấp.
    Các bọn tham nhũng tham quyền đều là các lãnh đạo cao cấp (trong đảng cs VN).

    Phản hồi: 

    Xin cảm ơn các comments của bạn đọc. Tôi cũng xin được trả lời một số comments sau đây:

    @ bác NGT: Hoàn toàn đồng ý với bác. Khi viết về "nguyên tắc đa số" tôi chỉ muốn nói nguyên tắc chung chứ không đi vào chi tiết liên quan đến nhiều hình thức bầu cử tại các quốc gia khác nhau.
    [quote=Howard Nguyễn] Tất cả những nguyên tắc dân chủ mà tác giả đưa ra ở trên đã áp dụng thành công ở các quốc gia tân tiền như Mỹ, Úc, Canada, một số quốc gia Âu châu, Nhật, v.vv. Nhưng tác giả quên rằng khi áp dụng các điều kể trên vào những quốc gia nhỏ, nhược tiểu thì phần lớn lại không thành công bởi các lý do sau đây.

    Trình độ hiểu biết của người dân.[/quote]
    Lập luận trên đây của còm sĩ Howard Nguyễn giống y chang lập luận của những người cầm quyền hiện nay ở VN, lấy lý do dân trí VN còn thấp để không thực thi dân chủ. Như tôi đã viết ở phần mở đầu, dân chủ là một tiến trình (process) chứ không phải là một hiện tượng "bừng con mắt dây là thấy dân chủ." Dân chủ phát triển và trưởng thành với thời gian nên nếu không có khởi đầu thì sẽ không bao giờ đến đích. Khi quóc gia Hoa Kỳ được thành lập, trình độ hiểu biết của đa số dân chúng tại Mỹ chắc gì đã hơn trình độ dân trí của người Việt ở vùng xa vùng sâu ngày nay. Nhưng cái khung thể chế và các định chế pháp luật mang tính dân chủ đã tạo điều kiện cho người dân Hoa Kỳ tham gia vào các sinh hoạt dân chủ, giúp cho dân chủ ở Hoa Kỷ được trưởng thành như ngày nay. Phần (2) của bài viết (chờ admin cho đăng) bàn đến các yếu tố khác của dân chủ, trong đó yếu tố quan trọng nhất là sự tham gia của quần chúng để phát triền dân chủ.

    Phản hồi: 

    Trích :
    " II. Nguyên Tắc Đa Số
    Có bầu cử thì phải có đa số và thiểu số. Dân chủ áp dụng nguyên tắc “đa số” để phản ảnh quan điểm theo đó chủ quyền thuộc về ý nguyện của đa số, và số đông thắng số ít. "

    Tùy theo hệ thống bầu cử. Trong hệ thống đa đảng, nguyên tắc “đa số” không nhất định là của đảng có nhiều phiếu nhất.
    Ví dụ bỏ phiếu dạng thắng thua, cho dù phe thắng chỉ hơn phe thua chút đỉnh. Cách bỏ phiếu này vẫn tạo ra nhiều người không hài lòng nếu phe thua chỉ thua khoảng 1% số phiếu.
    Tuy nhiên cách bỏ phiếu thắng / thua này có kết quả ngay, mau chóng thành lập chính phủ cho dù chính phủ chỉ đại diện ý muốn của hơn 50% một chút.
    Cách bỏ phiếu này áp dụng cho các nước theo tổng thống chế như Mỹ hoặc bầu 2 vòng như Pháp, vòng hai chỉ còn hai đảng thắng / thua.

    Một cách bỏ phiếu khác cho đại biểu các đảng ở quốc hội, theo tỉ lệ số phiếu nhận được của mỗi đảng. Cách này thể hiện rõ nét cho thành phần quan điểm dân chúng hơn. Tuy nhiên nếu có hơn 2 đảng, ít có đảng nào nhận được hơn 50% số phiếu. Việc thành lập chính phủ, nhanh hay chậm, tùy thuộc vào thỏa thuận liên minh các đảng. Đảng có nhiều phiếu nhất, nhưng nếu chưa vượt 50% thi vẫn chưa đủ số ghế để thành lập chính phủ một mình. Các đảng khác có thể liên minh với nhau, hơn 50% số ghế

    Phản hồi: 

    [quote="TUAN344"]Sẽ bị Dân Quê và Ba Lúa, chỉ lướt nhìn chứ không đọc bài, chê hay miệt thị [/quote]
    Cà cuống chết đến đít vẫn còn cay.

    Chê hay khen chứ chưa bao giờ miệt thị ai, chỉ miệt thị kẻ khác khi chính kẻ đó không văn hoá.

    Với bà Ngự luôn kính nhi viễn chi, đồng chính kiến và không đồng chính kiến nên luôn có phản biện

    Phản hồi: 

    Tôi thấy mấy người này biên còm chê bai một cách lãng nhách, không ăn nhập gì đến mục tiêu viết bài của tác giả (Tran Thi Ngự):
    [quote]Trần Xuân Cầu
    Tác giả nói dài dòng, cộng sản chỉ là chủ nghĩa phong kiến nối dài ; thì làm gì có dân chủ !

    Thinh Nguyen Duc
    Chế độ tập quyền - vương quyền, đảng quyền làm gì có dân chủ thực sự. Nói lý thuyết nhiều nhưng túm lại cũng chỉ bi nhiêu thôi [/quote]

    Đây là một bài viết để giúp tham khảo, có tính cách bao hàm (comprehensive), với nhiều ghi chú và thư mục, có thể giúp những người nghiên cứu hay học sinh sinh viên nghiên cứu tìm hiểu thêm về khái niệm Dân Chủ. Không phải là một bài viết dễ nuốt dễ tiêu hoá đối với độc giả thông thường chỉ đọc tin qua loa hàng ngày.
    Sẽ bị Dân Quê và Ba Lúa, chỉ lướt nhìn chứ không đọc bài, chê hay miệt thị :) :>