Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu - "Sống không có tự do là chết"

  • Bởi Admin
    28/01/2020
    1 phản hồi

    Larry Berman
    Trần Quốc Việt lược dịch

    Vào ngày 18 tháng 10, Henry Kissinger bay trực tiếp từ Paris đến Sài Gòn để báo cáo Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về hiệp định hòa bình. Buổi họp ngày 19 tháng 10 kéo dài gần hai giờ. Sau khi lắng nghe Kissinger thuyết trình, ông Thiệu muốn có bản thảo hiệp định. Ông được trao cho bản tiếng Anh.

    Cuộc họp trở nên xấu đi. Đầu tiên, ông Hoàng Đức Nhã, cố vấn cho Tổng thống Thiệu, chỉ được trao cho bản tiếng Anh. Ông Nhã phẫn nộ đáp lại: "Chúng tôi không thể thương lượng số phận của nước mình bằng tiếng nước ngoài!" Ông rất tức giận đòi có bản tiếng Việt. Ông Nhã muốn thấy bản tiếng Việt mà những người cộng sản đã trao cho Kissinger.

    Kissinger nói, "À, chúng tôi quên." Ông Nhã đáp: "Ông muốn nói gì thế, ông quên ư?". Rồi ông Nhã chế giễu toàn bộ quá trình hội nghị và ông nói với Kissinger, "Ông muốn bảo tôi là người Mỹ có thể hiểu tiếng Việt hơn người Việt sao? Chúng tôi muốn thấy bản tiếng Việt."

    Về sau khi nhận được bản tiếng Việt, ông Nhã mới nhận ra rằng nhân dân Miền Nam được yêu cầu ký vào bàn hiệp định mà tương đương như bản tuyên bố đầu hàng.

    Trong buổi họp ấy ông Nhã nhớ lại, "Kissinger nói giải pháp mới này khiến vị thế của Bắc Việt suy yếu hoàn toàn, và ngay cả Lê Đức Thọ còn ôm tôi (tức Kissinger) khóc. Lúc đó tôi nhìn Kissinger chăm chú mà lòng rất hoài nghi. Tôi nói, Lê Đức Thọ ư? Một tay cộng sản cáo già? Mà khóc được sao? Rồi tôi nói đùa mà Kisinger không thích. Tôi nói: Coi chừng nước mắt cá sấu đấy."

    Sau này, ông Thiệu bảo ông Nhã, "Tôi muốn đấm vào miệng Kissinger."

    Còn John Negroponte, trợ lý cho Kissinger, hồi tưởng lại cuộc họp ấy theo ngôn ngữ ngoại giao:

    "Bầu không khí cuộc họp ấy rất căng thẳng và rất khó chịu. Chúng tôi đến Sài Gòn vào tháng 10 năm 1972 mang theo toàn bộ bản hiệp ước kết thúc chiến tranh mà có quan hệ trực tiếp, thật sự quan hệ gần như hoàn toàn đến sự tồn vong quốc gia của họ trong tương lai. Thế mà chúng ta yêu cầu họ ký ngay vào hàng cuối cùng. Vì thế bầu không khí rất căng thẳng, và Tổng thống Thiệu phản đối rất dữ dội bản thảo hiệp định."

    Ông Nhã thức khuya để đọc bản dịch tiếng Anh và ông nhận ra rằng có những điểm mà "chúng tôi đã hoàn toàn bác bỏ trong các cuộc mật đàm trước, và chúng tôi đã nghĩ rằng phía Mỹ đã đồng ý với chúng tôi là không nêu ra những vấn đề ấy nữa, nhưng bây giờ chúng tôi thấy rằng những người cộng sản lại nêu ra những vấn đề ấy dưới hình thức này hay hình thức khác."

    Chẳng hạn, bản thảo hiệp định đề cập đến ba quốc gia Đông Dương: Lào, Cambodia và Việt Nam. Như vậy, ngay từ đầu Việt Nam được mô tả như là một nước, chứ không phải hai nước. Nếu thế làm sao quân đội của nước mình rút ra khỏi nước mình được? Từ đấy, ông Nhã hỏi Kissinger chuyện gì đã xảy ra với "bốn quốc gia". Kissinger đáp là do đánh máy sai. Ông Nhã cười "Tôi biết tẩy các ông rồi. Số "3" không được viết ra ở đấy. Cái từ "ba" viết ra không phải là con số, nó là từ ba, B- A. Cho nên đây là điều chúng tôi không thích."

    nguyenvanthieu-hoangducnha-danlambao.jpg
    Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và ông Hoàng Đức Nhã.

    Kế tiếp, ông Nhã suy đoán rằng cái gọi là Hội đồng Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc thực tế chỉ là một "liên hợp trá hình vì những người cộng sản hơi khôn hơn Hoa Kỳ." Bản tiếng Anh đề cập đến hội đồng như là "cấu trúc hành chánh" nhưng bản tiếng Việt lại ghi hội đồng là "cơ cấu chánh quyền", qua đó nên được dịch sang tiếng Anh "cấu trúc chánh quyền", như thế ám chỉ một cấu trúc từ trung ương đến cơ sở và bao gồm toàn bộ chính quyền từ hành pháp, lập pháp đến tư pháp. Đây là vấn đề chính đối với Miền Nam.

    Cuối cùng sau khi trình bày xong, ông Nhã đưa ra 64 điểm cần phải thay đổi.

    Cuộc họp diễn ra cực kỳ tranh cãi, nhưng Tổng thống Thiệu vẫn giữ nguyên lập trường. Ông Nhã báo cho Tổng thống Thiệu biết Kissinger đến Sài Gòn để phản bội miền Nam Việt Nam, và vì đây là vấn đề sinh tử cho nên Tổng thống cần phải nghĩ ra chiến lược nhằm đối phó với Kissinger.

    Ông Nhã thuyết phục Tổng thống Thiệu hủy bỏ cuộc họp với Kissinger vào cuối ngày. Kissinger nổi giận, nói với ông Nhã "Tôi là Đặc sứ của Tổng thống Hoa Kỳ. Ông biết không nên đối xử với tôi như kẻ sai vặt. Tôi phải gặp Tổng thống Thiệu tối nay." Ông Nhã cứng rắn đáp trả: "Đừng cảm thấy bị xúc phạm, tôi không bao giờ coi ông là kẻ sai vặt. Tổng thống không thể tiếp ông vì quả thực có cuộc họp với các tướng lãnh. Cuộc họp sẽ kéo dài bốn giờ."

    Kissinger bấy giờ ắt hẳn nhận thức Tổng thống Thiệu sẽ từ chối ký hiệp định. Cho nên ông rời Sài Gòn sang Cambodia, nơi ông và Thủ tướng Lon Nol nâng ly chúc mừng "hòa bình ở Việt Nam". Khi ở Phnom Penh, Kissinger khiến Lon Nol có ấn tượng rằng Tổng thống Thiệu chấp thuận hiệp định. Khi biết chuyện, Tổng thống Thiệu lại càng tức giận trước sự trâng tráo của Kissinger.

    Hòa bình vẫn còn mờ mịt. Vào ngày 21 tháng Mười Kissinger trở về từ Phnom Penh và đi thẳng đến gặp Tổng thống Thiệu. Trong tâm trạng "căng thẳng và rất khích động", Tổng thống Thiệu nghĩ bản hiệp định được đưa ra này thậm chí còn tồi tệ hơn cả hiệp định 1954: "Tôi có quyền nghi ngờ Mỹ đã âm mưu với Liên Xô và Trung Cộng. Vì các ông thừa nhận sự hiện diện của Bắc Việt ở miền nam đây, cho nên nhân dân miền Nam cho rằng Hoa Kỳ đã bán đứng họ và Bắc Việt đã thắng cuộc chiến."

    Ông nói tiếp "Tiến sĩ Kissinger nói ngày hôm kia rằng Lê Đức Thọ bật khóc, nhưng tôi có thể đoan chắc với ông ta rằng nhân dân Miền Nam là những người đáng khóc, và người nên khóc là tôi... Nếu Mỹ muốn bỏ rơi nhân dân Miền Nam, đó là quyền của họ!"

    Tổng thống Thiệu nói dù chuyện gì xảy ra ông cũng cảm ơn Tổng thống Nixon về tất cả những gì ông ta đã làm cho Miền Nam Việt Nam. Ông biết Nixon phải hành động vì quyền lợi riêng của mình và vì quyền lợi của nhân dân ông ta. Ông cũng phải hành động vì quyền lợi của nhân dân Miền Nam Việt Nam.

    Kissinger nói với Tổng thống Thiệu con đường Tổng thống Thiệu đang đi sẽ là con đường tự sát. Tổng thống Thiệu đáp rằng có từ 200.000 đến 300.000 quân Bắc Việt ở miền Nam và Hội đồng Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc gồm có ba thành phần. "Nếu chúng tôi chấp nhận văn kiện như hiện nay, chúng tôi sẽ tự sát- và tôi sẽ tự sát."

    Kissinger cố gắng lần cuối cùng để thuyết phục Tổng thống Thiệu. Kissinger nói trong vòng sáu tháng, nếu Tổng thống Thiệu không ký, quốc hội Mỹ sẽ cắt viện trợ. Bất chấp những lời khẩn cầu của Kissinger, ông Thiệu vẫn từ chối ký hiệp định.

    Kissinger nói với ông Nhã, "Tổng thống đã chọn con đường tử vì đạo. Nếu chúng tôi phải làm, Hoa Kỳ có thể ký hiệp ước hòa bình riêng với Hà Nội. Còn về phần mình, tôi nhất định không bao giờ đặt chân lại Sài Gòn. Sau vụ này. Đây là thất bại lớn nhất trong nghề nghiệp ngoại giao của tôi!"

    "Chúng tôi rất lấy làm tiếc", Ông Nhã đáp lời, "nhưng ông phải nhớ rằng chúng tôi còn có cả một quốc gia để bảo vệ!"

    Tổng thống Thiệu chỉ bản đồ nói, "Đối với các ông chúng tôi không hơn gì là chấm nhỏ trên bản đồ thế giới. Nếu các ông muốn từ bỏ cuộc đấu tranh, thì chúng tôi sẽ chiến đấu một mình cho đến khi nào vô phương, và rồi chúng tôi sẽ chết... Đối với chúng tôi, sự chọn lựa là giữa sống và chết. Đối với chúng tôi ký vào hiệp định, mà chẳng khác gì đầu hàng tức sẽ chấp nhận bản án tử hình, vì sống không có tự do là chết. Không, sống như thế còn tệ hơn cả chết!"

    Kissinger trở về Washington vào ngày 23 tháng Mười mà lòng tràn ngập thất vọng.

    Ngày 24 tháng Mười Tổng thống Thiệu phát biểu với nhân dân Việt Nam trên hệ thống truyền thanh và truyền hình trong bài diễn văn hai giờ đồng hồ để bàn về hiệp định có thể có trong tương lai. Ông nói lý do chính người cộng sản muốn ngừng bắn là để đuổi tất cả người Mỹ đi nhằm để dễ dàng thôn tính Miền Nam. Ông cảnh cáo về nền hòa bình giả. Ông muốn đồng bào ông biết rằng ông không bao giờ cản trở nền hòa bình nào thật sự lâu dài và ông sẵn sàng từ chức một khi nền hòa bình ấy được bảo đảm.

    Ông ngừng nói hai lần để lấy khăn tay lau mồ hôi trên trán.

    Larry Breman là giáo sư chính trị ở Đại học University of California, Davis. Ông dùng nhiều tài liệu lưu trữ được coi là bí mật trước đây để viết tác phẩm này. Tác phẩm được coi là tác phẩm trung thực nhất bàn về Hiệp định Hòa bình Paris.

    Nguồn: Lược dịch từ tác phẩm" Không Hòa bình, Không Danh dự" (No Peace, No Honor) của giáo sư Larry Berman, chương 9, nhà xuất bản The Free Press, 2001.

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Được biết, ông THiệu phải ra đi vì áp lực lúc ấy của chính phủ mới, không muốn có tình trạng "chính quyền THiệu (mặc dầu) không có THiệu"

    Vả chăng, ông THiệu cũng nên bỏ đi, không nên ở lại để có thể bị cộng sản bắt giữ & làm nhục! Ông Thiệu mà ở lại để bị cộng sản bắt giữ làm nhục thì không chỉ cá nhân ông THiệu nhục, mà, vì cương vị Tổng Thống VNCH của ông ấy, dù ông ấy làm Tổng thống giỏi hay dở, nếu ông ấy bị cộng sản làm nhục, sẽ khiến nhiều người khác tổn thương chứ chẳng riêng ông Thiêu

    Tổng Thống DV Minh đấy, đáng lẽ cũng nên bỏ đi, (giống như Vua Trần tạm bỏ Thăng Long), để cho đạo quân viễn chinh cộng sản bắc kỳ đánh thuê cho giặc tàu tràn vào SG như quân NGuyên tràn vào Thăng Long khi Vua Trần bỏ đi,
    trong trường hợp ấy, đựoc dễ dàng tràn vào chiếm đóng SG như vậy, hẳn là đạo quân viễn chinh cộng sản bắc kỳ phải giữ Sài gòn cho nguyên vẹn,

    ngoài ra, vì ông Minh đã bỏ đi, không bị cộng sản bắt giữ, nên không phải ký giấy "đầu hàng", thì VNCH vẫn còn đó, vẫn còn cơ hội phục hồi, như Vua Trần đã đánh đuổi quân xâm lăng, trở lại Thăng Long !
    Tiếc là ông Minh đã "ở lại" chỉ để "ký giấy đầu hàng", (mà có luận điệu biện minh là "để SG khỏi bị đạo quân viễn chinh cộng sản tàn phá"! Thực ra đâu cần phải như vậy, vì, như đã nói trên, ông Minh cứ bỏ trốn khỏi SG, để cho đạo quân viễn chinh cộng sản chiếm đóng SG, thì SG vẫn nguyên vẹn mà!)

    Tiếc là ông Minh đã "ở lại" chỉ để ký giấy "đầu hàng", để bị cộng sản làm nhục, khiến, mặc dầu ông Minh chỉ làm Tổng Thống có mấy ngày, nhưng sự việc ông ấy, là Tổng Thống VNCH, bị cộng sản làm nhục, cũng đã khiến nhiều người cảm thấy không vui, đau lòng!

    *****

    Lại nói về cái giấy "đầu hàng" của ông MInh, cái giấy ấy đuọc viết tay nguệch ngoạc, không có con dấu TT & không có chữ ký phó thự (chữ ký nháy) mà một văn kiện chính thức phải có,

    (chẳng hạn như bản công hàm Hoàng Sa 1958, có đầy đủ giá trị pháp lý, chính thức: bên cạnh chữ ký của Phạm Văn Đồng, có chữ ký phó thự, có con dấu quốc huy của nhà nước tổ quốc xã hội chủ nghĩa mệnh danh VNDCCH,

    chẳng hạn, để khoe với nhân dân Hà nội, để được Pháp ban cho cái danh hiệu "có tư cách tiếp đón quân đồng minh", bản văn tự bán nước ngày 6-3-1946 đã được chính phủ hồ chí minh ký kết rất long trọng với viên chức thuộc địa Pháp, qua đó VN đuoc trao cho Pháp làm một bang trong Liên bang Đông Dương, qua đó Pháp lại có chủ quyền hợp pháp đối với VN sau khi VN đã thu hồi Độc Lập qua bản TUyên Ngôn Độc Lập do Hoàng ĐẾ Bảo Đại ban ra từ 11-3-1945, sau khi chế độ thực dân Pháp & nhà cầm quyền thực dân Pháp tại VN đã sụp đổ từ 10-3-1945, cáo chung 61 năm Pháp bảo hộ VN từ bản hòa ước Patenotre 1884

    chẳng hạn bản văn tự 14-9-1946, được soạn trên trên những tờ giấy đẹp đẽ, do đích thân bác hồ chí minh sang tận bên Pháp ký với các viên chức thuộc địa Pháp, qua đó cho 15000 quân Pháp tiến vào VN xó sổ nhà nước VNDCCH (*) tái lập ách cai trị Pháp tại VN, bảo vệ chủ quyền Pháp tại VN mà Pháp mới có lại qua bản văn tự 6-3-1946

    (*) cái nhà nước tổ quốc xã hội chủ nghĩa mệnh danh VNDCCH, có cái cờ tổ quốc nằm dưới đít cờ búa liềm, sinh ra từ bản hiệp định giơ ne vơ 1954, do Trung cộng chống lưng đỡ đầu bác hồ chí minh ly khai QGVN dựng nên ở miền bắc QGVN từ 1955, không phải là cái nhà nứoc VNDCCH (2-9-1945/19-12-1946, không có cờ búa liềm trên đầu "cờ tổ quốc"), tiếp theo nhà nước ĐẾ Quốc VIệt Nam (11-3-1945/2-9-1945).

    Cái nhà nước VNDCCH (không có cờ búa liềm ngồi trên đầu "cờ tổ quốc"), thì, như nói trên, đã bị xóa sổ bộ đời, đã 2 năm mươi từ 6-3-194, đã hui nhị tỳ từ 19-12-1946.

    Giữa 2 nhà nứoc, cùng mang tên "VNDCCH" nói trên, không hề có một "liên tục chinh quyền" nào )

    Cái tờ giấy "đầu hàng" của ông Minh, đuọc viết tay nguệch ngoạc, dập xóa lung tung, không có con dấu TT/VNCH & không có chữ ký phó thự (của "chánh văn phòng", hoặc "bộ truởng Phủ TT", hoặc "BTNG", chẳng hạn, một hình thức "làm chứng", "3 mặt một lời"), cho thấy cái tờ giấy ấy chỉ là tờ giấy đầu hàng của cá nhân ông MInh, trước mũi súng đe dọa của việt cộng, cầu mong sự sống cho riêng mình, (cũng bình thuờng thôi), hoàn toàn không phải là một bản văn & văn kiện chính thức của Tổng Thống VNCH, hoàn toàn không phải là bản văn đầu hàng của VNCH

    *****

    Mà đúng như vậy, sự việc diễn ra ở Sài Gòn trong ngày 30-4-1975 chỉ là hành động vi phạm luật pháp, chỉ là cộng sản bắc việt vi phạm bản hiệp định Paris 1973, xua đạo quân viễn chinh cộng sản đánh thuê cho giặc tàu xâm lăng chiếm đóng bất hợp pháp VNCH

    *****

    Một số trí thức hà nội & sĩ phu bắc hà, một mặt, có khi cũng ngậm ngùi nêu ra tính cách "nồi da xáo thịt" của cuộc chiến tranh hồ chí minh tội ác, mặt khác lại xưng tụng hành động phạm pháp của nhà nước tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong ngày 30-4-1975 khi cộng sản bắc việt & Lê Duẩn & trí thức hà nội & sĩ phu bắc hà xua đạo quân viễn chinh cộng sản vi phạm hiệp định Paris 1973 xâm lăng chiếm đóng VNCH,

    như vậy thì có khác gì, như vậy thì cũng y chang như mấy nhà đạo đức... giả cầy, một mặt lên án hành động trộm cắp cướp đoạt, một mặt không ngùng hý hởn suýt soa vì vừa mua đuọc, với "giá hời", một món đồ quý (bị ăn cắp)

    *****

    Chính là vì có những hành động vi phạm pháp luật bị bỏ qua, không những bị bỏ qua, mà còn đụơc trí thức bả chó hồ chí minh (= trí thức chuyên nghề tung bả chó hồ chí minh, chuyên nghề ra nơi công cộng thủ dâm với mấy cái sex toy "cách mạng tháng 8 đánh Pháp đuổi Nhật giành độc nập" & "ngày độc nập 2-9, tuyên ngôn độc nập 2-9" & kháng chiến thần thánh…, bla… bla (*), và trí thức hà nội & sĩ phu bắc hà các loại như Tương Lai & Nguyên NGọc, Nguyễn Trung, Khắc Mai, Nguyên Bình…, tung hô & xưng tụng, nên mới có hành động tội ác, vi phạm pháp luật ở Đồng Tâm ngày 9-1-2020 vừa qua

    (*) "kháng chiến thần thánh…" = bác hồ chí minh và đảng mao-ít lao động, và trí thức hà nội sĩ phu bắc hà như Văn Đồng (chuyên gia ký văn tự bán nuóc), Nguyên Giáp (đồ tể hà nội 1946), và, xếp hàng tiếp theo đó là Huy Cận, Nguyên Ngọc, Tương Lai, Nguyễn Trung…, đi làm Trần Ích Tắc mãi quốc cầu vinh, đội cái chiêu bài "chống thực dân & đế quốc & ngoại xâm" bịp bợm, dựa vào giặc Tàu & thực dân đỏ & đế quốc đỏ & ngoại xâm đỏ chống lưng đỡ đầu đánh phá nền Độc Lập & Thống Nhất của VIệt Nam, tiếp tay giặc Tàu & thực dân đỏ & đế quốc đỏ & ngoại xâm đỏ chia cắt VN, rước giặc Tàu & thực dân đỏ & đế quốc đỏ & ngoại xâm đỏ vào miền bắc VN cắm cờ búa liềm lên Hà nội, đăt cái "cờ tổ quốc" xuống dưới đít cờ búa liềm mở ra một thời kỳ bắc thuộc mới, bắc thuộc đỏ, khủng bố nhân dân miền bắc, đặt miền bắc vào trong bức mà sắt chế độ cộng sản tàn ác bưng bít thông tin, nhồi sọ thông tin, cho các bác trí thức hà nội sĩ phu bắc hà kiêm nghề trí thức việt cộng tiện bề múa gậy cộng sản mác lê mao đấu tranh giai cấp "khai thông dân trí miền bắc ],

    cuộc chiến tranh hồ chí minh tội ác, cuộc chiến tranh suốt 20 năm ròng hàng triệu nguời bắc bị kích thích & lừa gạt bởi những cái bả chó hồ chí minh, tiếp tục đội cái chiêu bài "chống thực dân đé quốc ngoại xâm" bịp bợm, vác cờ búa liềm, cầm súng đạn Tàu cộng xâm nhập bất hợp pháp vào VNCH lùng sục thảm sát hàng triệu người nam (vì người nam không chấp nhận cái cờ búa liềm & chế độ cộng sản hồ chí minh ác ôn côn đồ tay sai giặc Tàu & thực dân đỏ & đế quốc đỏ & ngoại xâm đỏ của bắc kỳ), phục vụ giặc Tàu & thực dân đỏ & đế quốc đỏ & ngoại xâm đỏ mở rộng tầm phủ của cái cờ búa lièm tội ác & nô lệ giặc Tàu từ Bắc kinh sang Hà nội vào Sài gòn, mở rộng kéo dài địa bàn bắc thuộc từ hà nội đỏ vào HNVD

    Trần Quốc Việt viết:
    Kissinger nói với Tổng thống Thiệu con đường Tổng thống Thiệu đang đi sẽ là con đường tự sát. Tổng thống Thiệu đáp rằng có từ 200.000 đến 300.000 quân Bắc Việt ở miền Nam và Hội đồng Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc gồm có ba thành phần. "Nếu chúng tôi chấp nhận văn kiện như hiện nay, chúng tôi sẽ tự sát- và tôi sẽ tự sát."

    Kissinger cố gắng lần cuối cùng để thuyết phục Tổng thống Thiệu. Kissinger nói trong vòng sáu tháng, nếu Tổng thống Thiệu không ký, quốc hội Mỹ sẽ cắt viện trợ. Bất chấp những lời khẩn cầu của Kissinger, ông Thiệu vẫn từ chối ký hiệp định.

    Rốt cuộc thì ông Nguyễn Văn Thiệu vẫn ký Hiệp Định ngày 27 Tháng Giêng năm 1973, Mỹ vẫn cắt viện trợ, hàng trăm ngàn quân đội từ miền Bắc vẫn ở lại miền Nam. Đến cuối tháng Tư năm 1975 ông Thiệu mới từ chức và lên máy bay đi Taiwan (ông Nhã cũng "di tản" ít này sau đó). Sau đó ông Thiệu định cư ở Anh Quốc, trong khi gần 1 triệu quân nhân và công chức thuộc chính quyền VNCH đã vào trại cải tạo.