"Chuông nguyện hồn ai?"

  • Bởi Admin
    12/01/2020
    0 phản hồi

    Lê Nguyễn Duy Hậu

    Nhiều người yêu lịch sử vì nó hun đúc lòng yêu nước và dạy cho chúng ta tinh thần tự hào dân tộc. Bản thân mình không phủ nhận có những lúc cảm thấy thật bé nhỏ trước những bậc tiền nhân và sự hiển hách của họ. Mình cũng yêu những người theo chân chúa Nguyễn đổi giọng vào Nam mở cõi, vượt qua bao chông gai thử thách để tìm ra đất Gia Định. Mình cũng khiêm nhường trước hình ảnh mười ba tử sĩ Quốc Dân Đảng với tiếng hô “Việt Nam vạn tuế” trên đoạn đầu đài tại Yên Bái. Mình cũng không phủ nhận tinh thần dân tộc chảy cuồn cuộn trong người (cho dù có ai nói nó là tưởng tượng đi chăng nữa) khi nhớ đến sự bất khuất của dân tộc trước người Hoa, người Pháp, người Nhật, người Mỹ. Hay đơn giản là khi xem Việt Nam đá bóng. Đó là những cảm xúc rất tự nhiên.

    Nhưng mình yêu lịch sử hơn cả là vì một lý do mà ít người có thể chia sẻ được. Lịch sử dạy cho mình biết về “nỗi đau”, về “sự mất mát”, về “dã man”, và về “hèn kém”. Càng hiểu những điều đó, mình càng thêm yêu quý con người, yêu quý đồng bào, yêu quý đồng loại mình hơn. Đối với mình đó là bài học quý giá hơn cả.

    Lịch sử suy cho cùng là câu chuyện của vinh quang được viết bằng chất liệu là những nỗi đau. Điều đau xót là nếu không có sự dã man của Đức Quốc Xã, sẽ không bao giờ có ai hiểu được vinh quang của các nước Đồng Minh. Nếu không có sự tham lam của quân Nguyên Mông, sẽ không bao giờ có được Hịch Tướng Sĩ. Nhưng nỗi đau, sự mất mát thường bị lãng quên.

    Mình lần dở lại sách lịch sử Việt Nam, những cuốn phim tài liệu, những bộ phim lịch sử. Lịch sử chính thống có thể dạy cho mình mọi thứ về sự anh hung, về lòng yêu nước, về tinh thần dân tộc. Nhưng nó không bao giờ dạy cho mình về sự chết chóc và bi thương. Sáu triệu người Do Thái biến mất khỏi mặt đất bằng cỗ máy giết người mang tên Đức Quốc Xã không bao giờ được đề cập như một phần của lịch sử thế chiến thứ hai. Tám vạn chiến sĩ hy sinh tại Campuchia không bao giờ được nhắc đến trên nền của chiến công tiêu diệt Pol Pot. Nhưng ngay cả khi cái chết và sự mất mát được nhắc đến, hoặc là nó chỉ là thoáng qua, hoặc là nó… đẹp quá. Nguyễn Văn Trỗi ra pháp trường vẫn hiên ngang, Võ Thị Sáu vẫn cài hoa trên tóc… Không ai nhắc đến cái chết của những người Khâm Thiên đêm Hà Nội 1972. Không ai kể câu chuyện của người làng Mỹ Lai năm 1968.

    Đó có thể là cái dở của lịch sử và của những người yêu lịch sử. Trong dòng chảy cuồn cuộn tự hào, sự đau thương có vẻ được dùng để khơi gợi lòng hận thù. Nếu không thể giáo dục cho con người về hậu quả của chiến tranh, sẽ không bao giờ có ai hiểu được ý nghĩa thực sự của hoà bình. Nếu ta học về chiến tranh chỉ toàn là những chiến công, đứa trẻ lớn lên sẽ mong trở thành chú bộ đội cầm súng giết thù (mà thù nào bây giờ?) thay vì trở thành một người mong muốn hoà bình. Có lẽ điều này thế hệ cha mẹ của mình hiểu rõ hơn là bản thân. Lớn lên sau chiến tranh, chúng ta không còn quá nhiều ký ức về nó. Nhưng đổi lại, chúng ta cũng ít biết sợ hãi nó. Cứ nhìn cách người ta xem bạo lực như một trò chơi điện tử, chiến tranh như cơ hội trở thành anh hùng lưu danh sử sách thì sẽ hiểu. Chắc không ai được học rằng người ta đã cuồng nhiệt thế nào khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Họ nghĩ họ đang được chiến đấu cho quê hương.

    Những năm qua là một trải nghiệm đáng quý với bản thân mình, và cũng là một may mắn khi mình bắt đầu làm việc nhiều hơn với thân phận con người và được thấy sự đau khổ. Đôi lúc nó khiến mình nghĩ rằng câu chuyện của một người sống sót sau thảm hoạ Holocaust nó cũng đáng để kể, để học hỏi tương tự như câu chuyện của anh hùng xả thân vì nước. Hoặc câu chuyện của sự tha hoá mà Adolf Eichmann đã trải qua cũng chứa đầy bài học ý nghĩa tương tự như sự trưởng thành của thánh Gióng. Giá mà chúng ta được nghe nhiều hơn những câu chuyện đó.

    Có lần, mình nghiên cứu về cuộc thảm sát Thạnh Phong như một cách để cố gắng hiểu hơn điều gì đã xảy ra với Bob Kerrey mà nó ám ảnh sự nghiệp của ông đến ngày hôm nay. Đó là một câu chuyện đau đến thắt tim (các bạn có thể đọc ở đây: https://www.facebook.com/notes/le-nguyen-duy-hau/%C4%91i%E1%BB%81u-g%C3%AC-%C4%91%C3%A3-x%E1%BA%A3y-ra-%E1%BB%9F-th%E1%BA%A1nh-phong/10154056623925491/). Nhưng điều đọng lại của mình là câu nói của ông: “Tôi đã từng nghĩ chết cho Tổ quốc là điều kinh khủng nhất, nhưng hóa ra giết chóc nhân danh Tổ quốc mới là điều tồi tệ hơn cả.” Trong phút chốc, mình nhìn hình ảnh của Kerrey và nghĩ về ông và những gì ông đã trải qua. Nhiều năm sau, Kerrey – người mà rất nhiều người Việt Nam căm ghét vì những gì ông đã làm ở Thạnh Phong – trở thành một người vận động hàng đầu cho sự bình thường hoá quan hệ Việt – Mỹ. Mình không có quá nhiều can đảm để phán xét ông, nhưng mình chợt thấy chạnh lòng khi nghĩ về Kerrey, và nghĩ về cả những nạn nhân ông đã giết (dù là vô tình lạc đạn, hay hữu ý vì muốn bịt đầu mối, hoặc ác tâm vì muốn trả thù). Suy cho cùng, nếu không có chiến tranh, có lẽ Kerrey đã là một du khách được người dân Thạnh Phong đón tiếp. Chắc hẳn Kerrey đã để lại Việt Nam mãi mãi nhiều hơn là một phần cái chân của ông.

    Hồi ở Đức, mình từng đến thăm hai trại tập trung của Đức Quốc Xã để cố gắng mục sở thị chứng tích về thời kì đen tối nhất của dân tộc này. Nhưng đáng tiếc rằng sau chiến tranh, người Đức (cả Đông lẫn Tây) đã cho san bằng tất cả các dấu vết của trại tập trung. Có lẽ họ không muốn vết sẹo đó nằm trên người dân tộc mình. Mãi đến tận tháng Ba năm ngoái, mình mới có dịp chứng kiến một chứng tích khác không kém phần tàn bạo, đó là nhà tù Tuol Sleng ngay tại thủ đô Phnom Penh. Tuol Sleng vốn là trường học, phòng tra tấn vốn là lớp học, bàn tra tấn vốn là bàn học, và viên chỉ huy “ngôi trường” chết chóc đó vốn là một giáo viên dạy Toán. Vậy mà suốt gần 4 năm tại vị, “ngôi trường” đó đã là địa ngục trần gian của bao nhiêu con người mà bây giờ có thể những gì còn sót lại của họ chỉ là những bức ảnh. Mình đã chuẩn bị tâm lý rất nhiều trước khi đến Tuol Sleng, nhưng điều kì lạ rằng điều khiến bản thân mình lay động nhất lại không phải là những buồng giam chật hẹp, hay những bàn tra tấn, mà lại là một cây dừa được trồng ngay giữa sân trường yên tĩnh. Cây dừa đó vẫn tồn tại ở đó sau bao cuộc bể dâu. Nó là biểu tượng của sự thanh bình, có lẽ cũng đã che bóng mát cho các cán binh Pol Pot, hoặc cũng có thể đã là hình ảnh cuối cùng của một nạn nhân nào đó trước khi bao quanh anh chỉ còn là bóng tối. Bất chợt, mình bắt gặp bản thân đi lang thang trong sân trường đó, và lại nghĩ về những thân phận con người đã từng trải qua cuộc binh đao kia. Và mình gặp một trong 7 con người duy nhất còn sống sót đến ngày Tuol Sleng được bộ đội Việt Nam giải phóng. Ông ngồi đó, đeo kính râm, nhìn xa xăm, và hàng ngày làm công việc kể chuyện cho du khách và bán sách mình viết. Mình rất tò mò không biết bản thân ông đã nghĩ gì, nhưng lại sợ không dám đến bắt chuyện với ông. Chỉ biết rằng đã 20 năm nay, hầu như ngày nào ông cũng ở đó. Tuol Sleng trở thành một “mái nhà” thứ hai của ông, trở thành một “danh tính” của ông, hoặc có thể đối với ông, lịch sử Campuchia không là gì khác hơn ngoài Tuol Sleng.

    Khi chúng ta nhìn thấy chết chóc, hay sự bất công (mà chết chóc là đỉnh cao của sự bất công), máu căm hờn có thể sẽ sôi sùng sục và công lý đối với chúng ta có thể không là gì khác hơn sự báo thù. Điều may mắn rằng chưa bao giờ (và mong ơn trên giúp đỡ để không bao giờ) mình có cảm giác căm thù và muốn bào thù đến như vậy. Máu căm hờn cho chúng ta chỗ dựa về mặt đạo đức (cho dù đó là chỗ dựa yếu ớt) để biện minh cho hành vi giết chóc kẻ thù. Những phiên toà giết người, án tử gần như là điều gia đình nạn nhân luôn mong muốn kẻ thủ ác phải chịu. Nhưng chẳng phải rằng hoạ chiến tranh, hay tội ác suy cho cùng là từ ước ao trả thù hay sao? Mình nhớ đến một phúc trình về tội ác Mỹ Lai, khi ở đó người ta nói rằng một trong những yếu tố khiến cho những binh sĩ bình thường ra tay hạ sát dân làng đó chính là sự căm thù và ước muốn trả thù cho đồng đội đã bị giết trước đó (đơn vị ra tay ở Mỹ Lai mất một trung sĩ rất được lòng trước vụ thảm sát hai ngày, và suốt quá trình ở Việt Nam mất thêm nhiều người nữa nhưng chưa bao giờ có cuộc đụng độ trực tiếp với Việt Cộng). Có thể cách kiến giải đó chỉ là phiến diện, nhưng liệu nó có nói lên được gì không? Rất ít những người gây ra cái ác vì cái tâm tà ác thuần tuý mà họ cũng phải báu víu vào niềm tin nào đó rất chính nghĩa để tin rằng mình làm đúng (ví dụ như tin rằng mình chỉ ăn hối lộ của bọn vi phạm pháp luật chứ không làm gì sai, mình giết người vì hắn đã gây ra bất công và tổn thương cho mình…). Chỉ là trong giây phút đớn đau đó về mặt tinh thần, có lẽ họ không có cái gì khác để xoa dịu. Hoặc có khi tệ hơn là họ tin rằng hồn thiêng sông núi đứng về phía họ, chính nghĩa đứng về phía họ.

    Chiến tranh, do đó, dù “chính nghĩa” đến đâu, cũng là đỉnh cao của sự bạo lực và là cái kết của quá trình phi nhân tính một con người.

    Trong chuyến bay từ Hà Nội về Sài Gòn cách đây không lâu, mình vô tình được xem một bộ phim “cúng cụ” có tên là “Những đứa con của làng”. Hoá ra đó là một bộ phim rất hay và là số ít nói về mất mát. Phim lấy bối cảnh những năm 80 ở một làng quê nghèo Quảng Trị, nơi có chiếc cầu bắt qua con sông mãi không được xây. Nhân vật chính là một trưởng làng, với mối thù muôn kiếp với tên địa chủ năm xưa đã dẫn quân về giết hại dân làng. Cứ thế, vào ngày giỗ làng hàng năm, vị trưởng làng sẽ dẫn dân đến mộ tên địa chủ để đánh vào nó như một sự căm thù. Vị trưởng làng căm thù đến mức không cho đứa con trai duy nhất của tên địa chủ về thăm mộ ba, hay thậm chí là bốc mộ hắn đi. Chỉ đến một đêm, vị trưởng làng nằm mơ thấy tên địa chủ và các nạn nhân năm xưa về thăm mình. Những hồn ma người đã khuất khuyên vị trưởng làng hãy bỏ qua mọi chuyện, vì thật ra chết là hết và họ đã bỏ qua cho nhau lâu rồi. Chỉ có người sống là nuôi hận thù.

    Trong những ngày qua, mình không sao bỏ tâm trí mình ra khỏi những sự kiện đang diễn ra. Mình thú nhận rằng trái tim mình nghĩ nhiều về những người đã khuất hơn là những gì sẽ diễn ra tiếp theo. Cho dù họ làm đúng, họ làm sai (nhưng là đúng và sai so với cái chuẩn gì?), mình vẫn thấy nghẹn ngào khi nghĩ về giây phút cuối cùng của họ. Họ nghĩ gì trong giây phút kinh khủng nhất của cuộc đời một con người? Càng nghĩ, mình càng thấm thía câu văn sau chót của Hemingway khi viết Chuông Nguyện Hồn Ai: “Đừng hỏi chuông nguyện hồn ai, chuông nguyện hồn anh đó”.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi