Phạm Xuân Đài: Đến Với Nước Nga (Kỳ 1)

  • Bởi Admin
    25/11/2019
    0 phản hồi

    Phạm Xuân Đài

    Cho đến khi tôi được đến với nước Nga thì cảm tưởng của tôi về nước này rất trái ngược nhau, vừa thân thiện, vừa ác cảm. Thân với nền văn học, ác cảm với chế độ chính trị đã qua của nó. Đó là nói một cách rất tổng quát, ngoài ra tôi chẳng biết gì cụ thể về đất nước và con người tại đó. Nếu nước Nga không thay đổi chế độ chính trị cách đây gần một thập niên thì chắc tôi khó lòng đến với nó được. Nhưng dù sao Nga vẫn là một thế giới riêng biệt trong thế giới ngày nay, và đến với nước Nga vẫn là một điều đầy háo hức, thậm chí hồi hộp.

    Tôi đi Nga với một người bạn, và người đón chúng tôi ở Mạc Tư Khoa là một người bạn khác. Thủ tục giấy tờ nói chung không nhiều, nhưng cũng có thể gọi là nhiêu khê, nhất là khi so với cách đi từ Mỹ đến những nước Tây Âu, chỉ việc mua vé máy bay, bỏ giấy thông hành vào túi và ra đi, chẳng phải bận tâm về một thứ giấy tờ nào khác, ngoài giấy đô-la, dĩ nhiên. Nhưng Nga là một nước thuộc một hệ thống khác hẳn, độc tài, khép kín, đối đầu với Tây phương đằng đẵng bảy mươi năm, thì những gì đã thành thâm căn cố đế trong nếp liên hệ quốc tế dễ gì thay đổi trong vòng chưa đầy mười năm, việc đụng phải những thủ tục xa lạ thì không có gì là lạ. Từ hai tháng trước khi đi chúng tôi đã phải liên lạc với anh chị Nguyễn Minh Cần - Inna ở Moscow để nhờ “mời” chúng tôi qua Nga. Chữ “mời” trong ngoặc kép là chữ dùng cho thủ tục giấy tờ, còn thực tế thì anh chị Cần - Inna đã ngỏ ý muốn chúng tôi qua thăm Nga từ lâu. Sau khi nhận được bản “lý lịch” của chúng tôi, chị Inna phải đến Vụ Lãnh sự thuộc bộ Ngoại giao Nga để làm đơn xin mời chúng tôi sang, với lý do là công việc tôn giáo, vì anh chị đang hoạt động cho Hội Phật giáo Thảo Đường bên ấy. Vụ Lãnh sự nhận đơn, cấp một biên nhận có số, anh chị Cần phải cho chúng tôi biết ngay con số đó để chúng tôi kèm với đơn xin Visa gửi cho Tòa Lãnh sự Nga tại San Francisco, gần nơi chúng tôi ở nhất. Nhờ tìm trên Internet, chúng tôi biết được bây giờ có thể xin Visa đi Nga bằng thư chứ không cần đích thân đến Sứ quán hay Lãnh sự quán như trước kia. Với đơn từ tài liệu in ra từ Internet, chúng tôi hoàn tất hồ sơ, gửi Bưu điện lên San Francisco vào cuối tháng Năm, và hai tuần sau thì nhận được Visa gửi về.

    Về hình thức, Visa của Nga khác hẳn Visa các nước khác mà chúng ta thường thấy. Nó gồm một tờ giấy to màu xám, in toàn chữ Nga, ngay tên của mình cũng viết theo vần Nga, trên đó có dán hai tấm ảnh của người được cấp. Tuy không đọc được chữ Nga, nhưng tôi đoán biết đây là cả một hồ sơ an ninh của một người nước ngoài “xâm nhập” vào Nga. Dòng chữ tiếng Anh duy nhất người ta đọc được trên đó là lời căn dặn trong vòng ba ngày sau khi vào Nga, du khách phải trình diện với công an để được thị thực trên tấm Visa này. Đọc dòng chữ đó, tôi nghĩ đây có lẽ là những ấn chỉ của chế độ cũ còn lại, bây giờ vì tiết kiệm người ta vẫn dùng, chứ cái việc trình diện và chứng nhận thì chắc là không có nữa trong một nước Nga dân chủ. Đó là cái lầm đầu tiên của tôi về nước Nga. Giữa nhiều cái rất chung của thế giới ngày nay trên quả đất, Nga vẫn là một thế giới riêng. Hãy vào thám hiểm trong thế giới ấy.

    Rời Los Angeles bằng máy bay của hãng Air France chiều ngày 01 tháng Bảy năm 2000, chúng tôi phải hạ cánh tại phi trường Charles De Gaulle, Paris, để thay máy bay. Có vẻ như là chuẩn bị cần thiết để vào một vùng đất lạ, nhưng thật ra Paris là giao điểm để gửi hành khách từ xa đi tiếp, theo những chuyến bay vùng. Sau một chuyến bay “lớn” từ châu Mỹ sang, hành khách đi đến các phi trường địa phương châu Âu đều phải đổi qua những chuyến nhỏ hơn. Chúng tôi đã bay 11 tiếng từ Los đến Paris với Boeing 747, bây giờ đi nốt ba giờ 45 phút nữa từ Paris đến Moscow, với máy bay Boeing 737. Sáu giờ chiều ngày 2/7 hạ cánh xuống phi trường Sheremetyevo của Moscow, trời mùa hè hãy còn sớm lắm, điều đầu tiên tôi để ý là chiếc máy bay của Hàng Không Việt Nam đậu trên phi trường, có vẻ là loại tàu Air Bus của Âu châu, trang trí đơn giản, chỉ một dòng chữ màu xanh trên nền trắng hai bên thân máy bay, và một lá cờ đỏ sao vàng tương đối nhỏ ở đằng đuôi. Theo thói quen thời chiến tranh lạnh, thấy một cái gì thuộc thế giới cộng sản thì đều rất tò mò, bây giờ tôi đứng trên đất Nga đã là thế giới tự do, nhìn thấy tàu bay của Hà Nội thì một cảm giác tò mò rất đột nhiên lại nổi lên. Dù là thế giới cộng sản bây giờ chỉ còn là cỏn con, nhưng dù sao cũng là thế giới, chẳng thế, ông Lê Khả Phiêu, Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam đã không đề nghị với Trung Quốc thành lập một “quốc tế” của dăm nước còn lại, chắc lại để... dắt năm châu đến đại đồng. Tôi nhìn máy bay của Hàng Không Việt Nam với cái tò mò thấy vật lạ bay từ cái “quốc tế” ly kỳ ấy ra, chứ đối với một người rời Việt Nam chưa đầy mười năm như tôi thì cái hãng hàng không ấy nào có xa lạ gì.

    Phi cảng Sheremetyevo có một lối kiến trúc và trang trí khá lạ. Trên đường từ cửa máy bay ra chỗ nhận hành lý, đoàn hành khách chúng tôi đột nhiên phải dừng lại để nhường cho một đoàn khác đi cắt ngang con đường của chúng tôi. Đó là một sự lạ tôi chưa gặp ở một phi trường nào, vì thông thường người ta sắp xếp các lối đi từ các cửa ra không bao giờ cắt nhau để đoàn người này khỏi phải mất thì giờ chờ đoàn khác đi qua. Và trên khắp phi cảng, trần nhà được trang trí bằng những ống đồng đường kính độ một tấc, cắt ngắn xếp sát vào nhau miệng chĩa xuống dưới, giống như những ống đèn. Nhìn lên trần thì thấy toàn là những lỗ đen ngòm dòm xuống, trông cứ như một tổ ong khổng lồ. Kim loại đồng khi cũ màu xỉn lại làm cho khắp diện tích trần nhà mang một sắc màu thật u ám, với bao nhiêu vẻ bí mật ẩn giấu ở trong hàng ngàn cái lỗ đen, lối trang trí này đem lại một cảm giác nặng nề, nếu không nói là hơi ghê rợn.

    Cũng như tại mọi phi cảng khác, khách quốc tế phải xếp hàng chờ trình thông hành. Nhưng sự xếp hàng ở đây cũng có chỗ khác các nơi khác. Thứ nhất là ít nhân viên và nhân viên làm việc chậm, phải chờ hơi lâu. Thứ hai là luôn luôn có những người xé rào đưa ngang giấy tờ vào quầy, với một mảnh giấy nhỏ cua ai đó hoặc thì thào cái gì đó, thế là giấy tờ ấy được ưu tiên giải quyết, mặc kệ những người đang xếp hàng nóng ruột chờ nhích lên để đến lượt mình. Một ông du khách Mỹ không quen với lối làm việc unfair như thế liền lên tiếng phản đối, thì chỉ nhận được sự im lặng của những nhân viên người Nga. Sự im lặng như có vẻ muốn thay cho câu nói: “Biết rồi, khổ lắm! Nhưng đây là đất Nga, xin ngài nhớ cho điều đó.”

    Đất Nga, đúng thế, đất của bảy mươi năm cai trị độc đoán, đối với nhân viên nhà nước người ta chỉ có quyền nghe lời một cách nhẫn nhục chứ không có quyền phản đối. Nhân viên công lực là đại diện cho một thế lực to lớn ẩn phía sau, lúc nào cũng nhìn chằm chằm vào mọi diễn tiến của thế giới này với con mắt vừa nghi ngờ vừa kẻ cả, và những mảnh giấy nhỏ, những lời truyền miệng có giá trị hơn bất cứ thứ luật pháp thành văn nào.

    Rồi cũng đến phiên mình. Đưa tờ khai viết sẵn từ trên máy bay, nhân viên khoanh tròn vào số tiền đô-la mà khách khai mang vào, đóng dấu chứng nhận bên cạnh, xem qua thông hành, nhất là tờ Visa, rồi cho qua. Không xét hành lý.

    * * *

    Anh Cần và Long, chồng của Lan Hương đón chúng tôi đưa về khách sạn trên chiếc xe Volga nhỏ và cũ của Long. Đây là xe sản xuất dưới thời Xô Viết, loại thông dụng để bán cho dân chúng, kiểu dáng đơn sơ, ít để ý đến khía cạnh mỹ thuật và tiện nghi. Mà nghĩ cũng đúng, có cạnh tranh với ai đâu mà phải làm ra những sản phẩm đẹp đẽ tiện nghi, một người dân xô viết trước kia muốn mua chiếc xe này phải làm đơn nộp cho nhà nước và chờ ít nhất... mười năm mới có xe. Trong một nền sản xuất mà nhà chế tạo có quá nhiều ưu thế như vậy với khách hàng, thì làm ra một chiếc xe chạy được là coi như tốt quá rồi. Thời nay thì dân chúng được thoải mái nhiều, trên đường phố thấy có nhiều xe hiệu nước ngoài, từ Mercedes, BMW của Đức đến Renault, Citroen của Pháp, từ Ford của Mỹ đến Toyota của Nhật đua nhau chạy bên cạnh phần lớn những chiếc xe cũ kỹ thô kệch thời xô viết. Các hãng xe Nga bây giờ vẫn còn sản xuất, và giá rẻ đến không ngờ: một chiếc Volga vào hạng sang nhất kéo ở hãng ra (kéo tức thời sau khi trả tiền, không phải chờ đợi một phút nào) chỉ vào khoảng bốn, năm nghìn đô-la, còn loại thường chỉ vào khoảng hai nghìn là có ngay một chiếc mới toanh. Giá xăng ở Nga cũng rẻ, có lẽ đây là nước duy nhất ở Âu châu có giá xăng tương đương với giá ở Mỹ.

    Chúng tôi chạy thẳng về khách sạn của bộ Quốc Phòng. “Khách sạn của bộ Quốc Phòng,” nghe kinh quá, chắc nhiều độc giả hỏi chúng tôi làm cái gì mà nước Nga mời vào ở khách sạn đặc biệt thuộc giới quân sự của họ như thế. Chính tôi vào ở đây mà cũng phải buồn cười cho mình. Hơn một thập niên trước đây khi còn ở trong trại cải tạo bên cạnh núi Chứa Chan, Xuân Lộc, có khi nào tôi có thể tưởng tượng ra một chuyện hoang đường đến mức này: tôi đi từ Mỹ sang Nga với passport một công dân Mỹ, từ phi trường Mạc Tư Khoa về thẳng cư trú tại khách sạn của bộ Quốc Phòng Nga... Các biến đổi của thế giới đã hóa phép biến cái hoang đường như thế thành những chuyện rất đời thường, rất gần gũi, rất người. Chính cuộc chiến tranh lạnh đã chia hai thế giới, khiến người phía bên này nhìn về phía bên kia chỉ thấy đầy cái bí ẩn và cái ghê gớm, nào ngờ bí ẩn và ghê gớm ấy chỉ là những cái giả dối người ta đặt ra để hù dọa nhau, còn sự sống chân thật, con người tự căn bản thì đâu có khác gì nhau. Tôi ở khách sạn của bộ Quốc Phòng Nga chỉ đơn giản là vì khách sạn đó đã đi vào kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, giá rẻ, độ ba mươi đô-la một ngày, và nhất là lo chuyện thị thực trên Visa cho khách nước ngoài rất nhanh chóng. Té ra cái câu tiếng Anh dặn phải trình diện công an để thị thực trên Visa là một câu rất nghiêm chỉnh, không phải là điều rơi rớt lại từ thời cộng sản xa xưa như tôi đã nghĩ. Anh Cần chọn cho chúng tôi ở khách sạn này cũng chỉ vì ưu điểm thị thực nhanh giấy tờ cho khách — chỉ qua một đêm là xong tất cả — mà không cần trình diện gì cả.

    Dù là kinh doanh nhận khách dân sự, khách sạn này vẫn là của bộ Quốc Phòng với tất cả cung cách nhà nước và quân sự của nó. Một tòa building độ hai mươi tầng, bề ngoài trông cũ kỹ, hơi u ám, nếu so với chức năng một nơi cần khoe vẻ hấp dẫn mỹ miều của mình để thu hút du khách. Nhân viên ngồi sau quầy có kính che chắn là các bà các cô, hầu hết không biết nói tiếng Anh, tất cả mọi giao dịch trả tiền, lấy phòng, trao giấy tờ... hoàn toàn anh Cần và Long lo hộ chúng tôi. Có lẽ ít du khách ngoại quốc nào biết đến khách sạn này để tự họ đến ở, trừ những người có sẵn bạn bè ở Nga như chúng tôi. Cách bài trí trang hoàng bên trong hơi “cứng,” chỉ vừa đủ để khỏi quá tẻ nhạt chứ không đưa lại một cảm quan mỹ thuật cho khách. Là sản phẩm của nhà nước xã hội chủ nghĩa, mà lại dành riêng cho giới quân sự, thì phong cách này là điều hiểu được. Nó không có một chút nào xa hoa sang trọng, nhưng đâu ra đấy, vừa đủ, sạch sẽ, tươm tất, giống như hình ảnh một quân nhân kiểu mẫu.

    Chen nhau trong một cái thang máy rất hẹp, chúng tôi lên tầng thứ 12, việc đầu tiên là phải đi tìm phòng của người quản lý tầng 12 để nhận phòng, đồng thời cũng để nhận ra cái cách quản lý rất rườm rà, quan liêu và phí phạm trong hệ thống cộng sản cũ. Mỗi tầng khách sạn lại có thêm một phòng làm việc, với một bàn giấy có nhân viên ngồi đằng sau để lo việc quản lý mấy chục phòng của tầng ấy. Chúng tôi thuê phòng hai giường, nhưng khi vào phòng thì chỉ thấy có một cái giường cá nhân rất hẹp, và một cái xô-pha. Long lại phải chạy đi kiếm người quản lý, lát sau một người đàn bà đi vào với một ôm chăn gối, loay hoay biến cái xô-pha thành một cái giường thứ nhì. Thế là chúng tôi có một phòng ngủ hai giường, với phòng tắm riêng và tiện nghi căn bản tạm đủ. Tính chất đơn sơ, đơn điệu, vừa đủ, kiểu nhà binh (hay tu viện) vẫn là nét chính nơi đây, và riêng tôi, tôi lại thấy thích hợp với mình. Xa hoa mà làm gì, mình đến xứ này để đi tìm những cái khác, chứ đâu phải sự xa hoa của một nơi mình chỉ cần đặt lưng để ngủ qua đêm? Cả cái thành phố Mạc Tư Khoa trải dài dưới kia, cả cái nước Nga mênh mông nhiều bí ẩn mới là cái tôi ao ước được đến, tiếp xúc, tìm hiểu; công việc của tôi đâu có phải để đi so đo hơn kém về tiện nghi của một nước mới bước ra khỏi cơn kinh hoàng của lịch sử?

    Lấy phòng xong xuôi, chúng tôi đi ăn tối ngay trong restaurant của khách sạn. Phòng ăn lớn, trần cao vút, hai dãy bàn đặt song song chạy dài, một đầu phòng là quầy rượu, đầu kia là một bức tranh lớn treo trên tường, và hình như ngay dưới là một cái sân khấu nhỏ. Vẻ uy nghi của gian phòng làm tôi liên tưởng đến những bữa tiệc hội quân với thành phần tướng tá cao cấp có thể đã có lần diễn ra ở đây. Những phái đoàn quân sự “các nước xã hội chủ nghĩa anh em” trước đây dĩ nhiên rất nhiêu lần đã cư ngụ tại khách sạn này và đã dự “chiêu đãi” tại phòng ăn này. Suốt cuộc chiến của Việt Nam đã có biết bao phái đoàn quân sự của Bắc Việt đã đến đây. Ngay cả mới đây thôi, trước khi chúng tôi đến, một phái đoàn quân nhân cao cấp của Hà Nội vừa cư ngụ tại khách sạn này, hình như họ qua để thương lượng mua vũ khí tàu bè gì đấy. Ngày nay dĩ nhiên căn bản thương lượng đã đổi khác, không còn là anh em, mà là khách hàng, và trong chuyện họ nói với nhau biết đâu chẳng có những mục bí mật, ví dụ như “rửa tiền” chẳng hạng. Tính chất chung của những nước từ cộng sản đang chập chững đi vào nền kinh tế thị trường là thế lực Mafia rất mạnh, và có gì ngăn cản mafia của nước này thương lượng với mafia của nước kia trong những cuộc trao đổi mua bán như thế?

    Chúng tôi đến hơi trễ, phòng ăn rất vắng, chỉ có một cặp vợ chồng người Nga đang ngồi ăn. Tôi hơi hồi hộp, vì đây là lần đầu tiên tôi ăn một bữa ăn Nga. Thức ăn một nước rất quan trọng đối với người lạ, đó là lời giới thiệu trực tiếp nhất sự sống hàng ngày, sản phẩm, nghệ thuật biến chế thức ăn, và có thể, cả nhân sinh quan của dân tộc ấy. Các nước Âu châu thì hình thức dọn bữa ăn đều giống nhau, dùng muỗng nĩa và ăn trên đĩa, và có lẽ một số món ăn cũng na ná như nhau, đều dùng bánh mì và cách nấu nướng các món thịt cá phần nhiều chỉ khác nhau về tiểu tiết.

    Tôi được giới thiệu hai món thuần túy Nga, là xúp borsh và món xà-lách nga. Về món xà-lách, tôi hơi ngờ ngợ, ngày xưa ở Sài Gòn trong những tiệm ăn tây thấy trong thực đơn hay có món salade russe, có phải là món này không? Thập niên 60 tôi rất mê món này ở tiệm Chez Albert ở đường Đinh Tiên Hoàng, Đa Kao, Sài Gòn, một món xà-lách thập cẩm trộn với kem sữa và tôm cua. Khi món xà-lách được mang ra, tôi thấy quả nhiên về hình thức đúng là món ngày xưa ở Sài Gòn. Dễ đến mấy chục năm, ít ra từ sau 1975, tôi mới có dịp nếm lại món mình thích, mà lần này may mắn thay, tại ngay thủ đô của nước gốc đã khai sinh ra nó. Nhưng khi ăn thì thấy hương và vị không giống như ngày xưa mình đã ăn, và tôi hiểu ngay chuyện tam sao thất bổn trên thế giới này, nhất là một món ăn được sao đi chép lại qua nhiều nước thì làm sao khỏi sinh ra những dị bản? Món salade russe của Sài Gòn, như tên gọi theo lối Pháp của nó, dĩ nhiên là do người Pháp mang vào: may ra đó chỉ mới là lần sao chép thứ nhất, do người Pháp trực tiếp bắt chước người Nga. Có gì bảo đảm người Pháp đã không thêm bớt gia vị để cho hợp với khẩu vị của mình hơn? Điều này nếu xảy ra, và tôi chắc là phải xảy ra, thì dị bản thứ nhất đã ra đời. Khi nó sang Việt Nam, các đầu bếp bản xứ tại đây gồm chủ yếu là người Việt Nam và người Tàu được người Pháp dạy cho, và khi làm món đó cho người bản xứ ăn thì một lần nữa phải điều chỉnh sao cho hợp miệng người Á đông. Bản sao đến đây chắc đã xa bản gốc khá nhiều rồi. Ở Sài Gòn tôi đã thưởng thức một phiên bản được sao chép ít ra đến hai lần, nay gặp bản gốc thì ngỡ ngàng là phải, thậm chí lúc mới nếm tôi còn nhăn mặt cho đây không phải là salade russe nữa kìa! Thô thiển hơn một tí, nhạt nhẽo hơn một tí, nhưng có lẽ đó đúng là cái “gu” gốc của người Nga.

    Đây không phải là lần đâu tiên tôi trải qua kinh nghiệm này. Nhớ thời mới vào đi học ở Sài Gòn vào cuối thập niên 50, đầu 60, mỗi lần nhận được tiền ở nhà gửi cho thì thế nào tôi cũng đi ăn một bữa đồ tây, ở những tiệm cơm tây do người Việt hay người Tàu làm chủ, như Thanh Bạch, Chí Tài. Cũng không tốn kém gì nhiều, đó là những tiệm ngon giá rẻ, một miếng beefsteak giá mười đồng, chỉ nhích hơn tô phở chút đỉnh. Mà “cơm tây” của tôi lúc đó cũng chỉ có nghĩa là một đĩa bít-tếch với xà-lách hay mì ống, và một chai bia, ít khi dám mạo hiểm gọi những món lạ. Beefsteak của những tiệm đó đối với tôi thời ấy là ngon nhất, bổ nhất, kiến thức và sự sành sỏi khẩu vị về đồ ăn tây phương của tôi thời đi học hầu như chỉ có thế. Bỗng có một lần tôi được một người bà con dẫn đi ăn ở nhà hàng Continental ở đường Tự Do, trước thực đơn rắc rối toàn tiếng Tây của nhà hàng lớn nổi tiếng chính cống Pháp này thì tôi cũng không biết gọi gì hơn là bít-tếch xà-lách, dĩ nhiên với sự khuyến khích của ông anh họ nhiều tiền sành sõi thì tôi gọi thêm một đĩa xúp hành. Đến món thịt bò thì tôi thấy dở quá, lạt lẽo vô duyên, thua xa Thanh Bạch hay Chí Tài. Tôi không ngại ngùng bày tỏ ý kiến của tôi với ông anh, ổng cười:

    “Vấn đề là cái ’gu’ thôi. Lâu nay chú chỉ quen cơm tây theo gu Việt Nam hay ba Tàu, nay ăn đồ tây chính cống thì thấy lạ. Thực ra beefsteak theo kiểu tây thì Continental là ngon nhất, đúng nhất, nghĩa là miếng thịt bò thật tươi, không ướp tẩm gì cả, chỉ chiên lên và ăn với gia vị muối và tiêu mà thôi. Như thế mới cảm thấy hết cái ngon ngọt của vị thịt tươi. Còn Thanh Bạch hay Chí Tài thì người ta đã ướp miếng thịt theo thói quen của người mình, ăn vào nghe mặn mòi và thơm hành tỏi thì người mình mới thích. Cơm tây kiểu đó đã bị lai căn theo gu Á đông, không còn đúng nữa. Tôi đã đi nhiều nơi, một món rất phổ thông của người Tàu là mì vịt, thế mà giữa Chợ Lớn, Hồng Kông, Đài Loan, Bangkok mỗi nơi vẫn một vị khác nhau, và tôi thì vẫn thích mì Lakay Nguyễn Tri Phương hơn cả. Quen rồi.”

    Cách đây hơn mười năm, sau khi đi thăm Hà Nội, tôi đã có viết: “Có lẽ không thể một sớm một chiều mà có thể thưởng thức hết cái ý nhị của món ngon một xứ, nhất là các món dân gian. Phải quen với khí hậu, phong thổ, cách sống xứ ấy mới nắm bắt được cái ’thần’ của món ăn.” Cùng trong một nước đã vậy, huống hồ xa xôi cách trở như Nga với Việt Nam!

    Nhưng khác với thức ăn vật chất, các món ăn tinh thần của người Nga, là nền văn học của họ, thì đã chinh phục thế giới từ lâu. Trong lãnh vực này, họ có những thức ăn siêu việt. Tâm hồn Nga thâm trầm lớn lao, đời nào cũng được nhà văn Nga bộc bạch trên tác phẩm của họ, và con người trên khắp thế giới rất thân thuộc với những Natacha, Pierre, các anh em nhà Karamasov, với anh chàng ngố, với Zhivago, Lara... mà đâu có cần phải đặt chân đến đất Nga!

    (Còn tiếp)

    Chủ đề: Thế giới
    Từ khóa: Phạm Xuân Đài

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi