Thomas J. Dodd - Ngụy biện về Phật giáo đấu tranh

  • Bởi Admin
    13/11/2019
    20 phản hồi

    Trần Quốc Việt dịch

    Lời người dịch: Thượng nghị sĩ Thomas J. Dodd (1907-1971) là chính khách Mỹ rất nổi tiếng. Trong bài diễn văn nổi tiếng tựa đề "Việt Nam và Chính sách Biệt lập mới" vào ngày 23 tháng Hai. 1965 ông kêu gọi Hoa Kỳ nên tham chiến tích cực hơn ở Việt Nam để ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản và giúp đỡ nhân dân Việt Nam yêu chuộng tự do ở miền Nam Việt Nam. Đây là bài diễn văn thay đổi chính sách của Hoa Kỳ. Trong bài diễn văn này ông chỉ ra những ngụy biện về cuộc chiến Việt Nam, đặc biệt trong đó có ngụy biện về cái gọi là phong trào Phật giáo đấu tranh ở các các thành phố ở miền Nam.

    Tưởng cũng nên nhắc rằng ông là công tố viên chính của Hoa Kỳ ở tòa án Nuremberg nhằm kết tội và xét xử các tội phạm Đức Quốc Xã. Chính từ kinh nghiệm này ông nhận thức rất rõ ràng mối hiểm nguy và tác hại của chủ nghĩa cộng sản-bạn đường của chủ nghĩa Quốc Xã, và về sau nhận thức sâu sắc về cái gọi là "phong trào Phật giáo đấu tranh" đưa đến cái chết bi thảm của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm cùng bào đệ Ngô Đình Nhu cách đây 55 năm, và từ đấy đưa đến cái chết của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa và mở đường cho tất cả bao đau thương, khổ nạn và thảm cảnh và tang tóc cho cá nhân và dân tộc Việt Nam dưới chế độ cộng sản.

    * * *

    Ngày 23 tháng Hai, 1965

    Bây giờ tôi muốn thảo luận về tình hình Phật giáo, mà trong vài năm qua chúng ta đã nghe nói đến rất nhiều.

    Do cái gọi là phong trào Phật giáo đấu tranh nên câu chuyện bịa đặt về đàn áp Phật giáo và câu chuyện bịa đặt tương tự là Phật tử chống lại Chính quyền đã trở thành những yếu tố chính trị quan trọng ở Việt Nam. Vì thế điều quan trọng là chúng ta nên tìm cách hiểu bản chất của phong trào này, động cơ của những người lãnh đạo phong trào, và mức độ ảnh hưởng thật sự phong trào có với người Việt.

    Thật sự chẳng đáng tranh luận về chủ đề Việt Nam và chính sách của chúng ta ở đấy mà không hiểu cái gọi là vấn đề Phật giáo. Đã có nhiều cuộc nói chuyện vô trách nhiệm về vấn đề này, nhưng cho đến nay có rất ít thông tin không thể phủ nhận và dựa trên sự thật.

    Đặc trưng của phong trào đưa đến sự lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm là tố cáo ông đã đàn áp Phật giáo tàn bạo; và, để phản đối cái gọi là sự đàn áp này, như thường lệ một vài nhà sư đã thực hiện những cuộc tự thiêu ghê sợ.

    Hết tuần này đến tuần khác, hết tháng này đến tháng khác, nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới thấy tràn ngập các tin tức chứng thực lời tố cáo rằng ông Diệm đang đàn áp Phật giáo. Có một vài phóng viên giàu kinh nghiệm có danh tiếng trong cả nước đã nghi ngờ sự xác thật của những tin tức này. Nhưng tiếng nói của họ bị đắm chìm dưới biết bao lời cáo buộc và tố cáo liên tục xuất hiện trên nhiều tờ báo lớn của chúng ta, và càng khiến người ta tin tưởng hơn khi các sở thông tin chính thức của chúng ta lặp lại.

    Theo lời mời của Tổng thống Ngô Đình Diệm, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc quyết định gởi phái đoàn đi tìm hiểu sự thật đến Nam Việt Nam để điều tra tình hình. Tôi thấy điều này hiếm khi được đề cập đến trong bất kỳ cuộc thảo luận nào về vấn đề Phật giáo, nhưng thật sự Liên Hiệp Quốc đã gởi phái đoàn đến đấy.

    Trong khi phái đoàn vẫn còn ở trong nước, Tổng thống Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu, bị lật đổ và sát hại.

    Phái đoàn quyết định không cần thiết phải công bố chính thức kết quả tìm thấy do ông Diệm đã bị lật đổ. Tôi tin điều ấy thật là vô cùng đáng tiếc. Nhưng bản tóm tắt những lời khai của nhân chứng mà phái đoàn ghi chép ở Việt Nam rõ ràng đều hướng đến kết luận là sự đàn áp Phật giáo hoặc là không có hay là bị phóng đại lên rất nhiều và cuộc biến động Phật giáo cơ bản là chính trị. Đây là chủ yếu những gì tôi được bảo trong cuộc trò chuyện riêng với Đại sứ FernandoVolio Jiminez của Costa Rica, người mà đã trình một kiến nghị kêu gọi thành lập phái đoàn Liên Hiệp Quốc và cũng là một thành viên trong phái đoàn.

    Tôi đi đến New York để gặp Đại sứ Volio. Tôi nói, "Thưa ông Đại sứ, tôi biết ông đã là thành viên trong phái đoàn Liên Hiệp Quốc đến Việt Nam. Tôi muốn hỏi ông sự thật là như thế nào." Đại sứ Volio đã cung cấp cho tôi sự thật như sự thật tôi cung cấp cho quý vị ở đây.

    Đại sứ Pinto, của Dahomey, một thành viên khác trong phái đoàn Liên Hiệp Quốc, cũng đã nói công khai những lời như vậy.

    Toàn bộ câu chuyện bi kịch chứng tỏ rằng thế giới tự do đã bị biến thành nạn nhân của trò lừa bịp tuyên truyền cực kỳ lớn khiến cho chính quyền hợp pháp của Tổng thống Diệm bị tiêu diệt và gây ra tình hình hỗn loạn mà tất yếu vô tình tiếp tay cho cộng sản.

    Nếu các vị Thượng nghị sĩ chưa có thời gian đọc bản báo cáo của phái đoàn Liên Hiệp Quốc đến Việt Nam để tìm hiểu sự thật thì tôi thúc giục họ nên đọc vì nó giúp cho họ hiểu được bản chất của những hoạt động hiện nay của giới Phật giáo đấu tranh. Tôi đang chuẩn bị cho gởi bản báo cáo đến từng vị Thượng nghị sĩ, và tôi hy vọng tất cả các vị Thượng nghị sĩ sẽ đọc bản báo cáo, vì từ nó họ sẽ biết được rất nhiều điều về tình hình Phật giáo hiện nay.

    Sự thật đầu tiên cần phải được xác định để đánh giá phong trào Phật giáo đấu tranh là người theo đạo Phật không chiếm đến 80 hay 85 phần trăm dân số, như đã được công bố rộng rãi vào lúc khủng hoảng Phật giáo. Theo cư sĩ Mai Thọ Truyền, một trong những học giả uyên bác nhất về Phật giáo Việt Nam, Phật tử người Việt ước chừng có 4 triệu người, hay độ 30 phần trăm dân số.

    Điểm thứ hai cần phải xác định là những người Phật giáo đấu tranh chỉ là một phần rất nhỏ của toàn bộ dân số Phật giáo. Hàng triệu nông dân theo đạo Phật, đại đa số họ, không tán thành những hành động đấu tranh chính trị và những âm mưu lật đổ chính quyền của giới Phật giáo đấu tranh ở Sài Gòn. Hành động của họ, thực ra, hoàn toàn đi ngược lại truyền thống hòa bình của Phật giáo.

    Ta hoài nghi chuyện những người Phật giáo đấu tranh đã có thể huy động đến 50.000 người ủng hộ tích cực trong các cuộc biểu tình họ đã tổ chức ở Sài Gòn và Huế và các thành phố khác. Nhưng vì quyền lực chính trị tập trung ở thành phố cho nên hàng chục ngàn người Phật giáo đấu tranh, qua những tiếng hô to của họ và qua những cuộc biểu tình liên tục của họ cùng với sự tuyên truyền khéo léo của họ, đã tạo ra cảm tưởng rằng họ đang nói thay cho nhân dân ở các thành phố và nói thay cho nhân dân Việt Nam.

    Những người Phật giáo đấu tranh muốn gì? Trước khi lật đổ Tổng thống Diệm Thích Trí Quang nói thật với Marguerite Higgins: "Chúng tôi không thể nào điều đình với miền Bắc cho tới khi chúng tôi loại trừ được Diệm và Nhu."

    Bằng chứng rõ ràng là Thích Trí Quang và một số kẻ tranh đấu khác của ông vẫn đang nhất định thỏa thuận với miền Bắc. Thật vậy, chỉ mới thứ Sáu vừa qua, Quang kêu gọi Mỹ thương lượng với Hồ Chí Minh.

    Nếu có lý do để tin rằng Thích Trí Quang là một người trung lập, thì càng có nhiều lý do để sợ rằng nhiều thành viên khác của phong trào đối lập Phật giáo công khai thân cộng hay sợ rằng họ đã trở thành công cụ thâm nhập khá sâu rộng của cộng sản mà được biết tồn tại trong giới tu sĩ Phật giáo ở tại nhiều nước ở Châu Á.

    Không ngạc nhiên khi có sự xâm nhập như thế vì không có gì cản trở nó.

    Người muốn trở thành nhà sư Phật giáo không cần phải học đạo để chuẩn bị bản thân cho hoằng pháp, họ cũng không cần phải thọ giới, họ cũng không cần phát nguyện.

    Họ chỉ cạo đầu và mặc áo cà sa và vào tịnh xá- rồi họ mau chóng trở thành bậc cao tăng.

    Khi họ muốn hoàn tục, họ cởi áo ra và lìa xa nó; nếu họ muốn trở lại, họ mặc lại áo cà sa và đi tu trở lại. Chỉ có thế thôi.

    Tôi không muốn chỉ trích thủ tục này trên cơ sở tôn giáo.

    Đạo Phật là một trong những tôn giáo vĩ đại của nhân loại và ta có thể bàn nhiều đến sự sắp đặt giúp mỗi người có khuynh hướng tôn giáo sống ít nhất một phần đời của mình theo giới tu hành tự nguyện đặc trưng của đạo Phật.

    Nhưng, tiếc thay, đây là thủ tục mở toang cánh cửa ra cho cộng sản xâm nhập.

    Tôi nhớ khi chúng tôi đào sâu vào hồ sơ của Quốc xã Đức ở Nuremberg, chúng tôi thấy Hitler đang xem xét chương trình xâm nhập vào các nhà thờ bằng cách xúi giục những người trẻ vào các chủng viện, để y có thể tùy ý xử dụng họ sau này.

    Đầu tiên khi tôi bắt đầu nghe về tình hình Phật giáo, tôi chợt nghĩ rất có thể là có sự xâm nhập tôn giáo tương tự đang diễn ra.

    Những người Phật giáo đấu tranh đã lợi dụng ảnh hưởng và uy tín mà họ có được từ việc lật đổ Tổng thống Diệm cho mục đích quan trọng nhất là phải làm cho chính quyền ổn định không thể nào tồn tại: theo cách hiểu này, cho dù ý định của những người lãnh đạo của họ là gì chăng nữa thì họ cũng đang phục vụ cho tham vọng của Việt cộng cộng sản.

    Họ đã tổ chức những cuộc biểu tình, khiêu kích những cuộc bạo động, châm ngòi cho bao phẫn nộ bằng những cuộc tự thiêu và tuyệt thực tạo ra được nhiều sự chú ý, và không ngừng chỉ trích và tuyên truyền dồn dập chống lại chính quyền. Họ đã lật đổ chính phủ của Nguyễn Khánh. Rồi họ lật đổ tiếp chính phủ của Trần Văn Hương lên thay chính phủ của Nguyễn Khánh. Và họ dường như quyết tâm làm cho bất kỳ chính phủ nào lên nắm quyền cũng không làm được gì cả.

    Tất nhiên thật khó đối phó với một âm mưu chính trí ngụy trang dưới lớp áo tôn giáo. Dù sao đi nữa, đây là vấn đề cho Chính quyền Việt Nam chứ không phải cho Chính quyền chúng ta. Nhưng vấn đề này sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều cho chính quyền Việt Nam nếu như những sự thật về Phật giáo ở Việt Nam được cung cấp cho nhân dân Mỹ và nếu họ có thể được giúp đỡ để hiểu rằng giới Phật giáo đấu tranh thật sự hầu như không đại diện cho ai, những hoạt động chính trị của họ thật sự rất nham hiểm, và họ đã gây ra biết bao nhiêu chuyện để phá hoại công cuộc đấu tranh chống cộng sản.

    Không có chính phủ ổn định nào có thể được lập nên ở Việt Nam nếu không có sự tham gia và ủng hộ của giới lãnh đạo Phật giáo có trách nhiệm. Nhưng giới lãnh đạo Phật giáo có trách nhiệm này không thể nào được tìm thấy trong một số ít những nhà sư có lai lịch bất minh là những kẻ đã và đang dẫn dắt phong trào Phật giáo đấu tranh ở các thành phố Việt Nam vào con đường sai lầm.

    Đã đến lúc phải nói thẳng về vấn đề này.

    Nguồn:

    Dịch từ bài diễn văn tựa đề "Vietnam and the New Isolationism" của Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Thomas J. Dodd đọc trước Thượng Viện Hoa Kỳ vào Thứ Ba, ngày 23 tháng Hai, 1965.Bạn đọc có thể đọc nguyên bản ở trang 3354 và 3355 ở đường dẫn sau:

    https://www.govinfo.gov/content/pkg/GPO-CRECB-1965-pt3/pdf/GPO-CRECB-1965-pt3-5-1.pdf

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    20 phản hồi

    Chỉ là muốn cùng xác nhận lại định nghỉa của hai chữ "tự thiêu" chứ không bàn riêng về ông tt TQĐ. Trong phong trào PG năm 63 không chỉ có một ông QĐ mà có số vụ khác: tự thiêu, toan tự thiêu, có ý định tự thiêu, được xúi giục, khuyến khích tự thiêu, được giúp đở để tự thiêu... đủ cã. Không rỏ thời đó VNCH có luật cấm và trừng phạt việc xúi biểu, khuyến khích, trợ giúp người tự tử hay không, nhưng nếu có lúc đó tình thế dầu sôi lửa bỏng chưa chắc đã thi hành được!
    Sẳn đang nhắc trường hợp ông tt TQĐ, xin cứ nhìn hình "pouring-gasoline-on-quang-duc". Một tấm hình hơn ngàn lời nói?

    HOÀNG K LINK viết:
    Thiết tưởng cũng cần xác định lại định nghĩa hai chữ Tự Thiêu.
    Tự thiêu là tự tử bằng cách chủ động nhảy vào đám lửa hay tự đổ chất dẩn hỏa lên người rồi tự kích hỏa, tự bật hay đánh lửa để tự châm lửa đốt mình. Ngược lại một người bị xô vào đám lửa, bị người khác đổ chất dẩn hỏa lên người rồi bật lửa đốt thì rỏ ràng là Bị Thiêu chứ không phải Tự Thiêu.
    Nếu nói ngược lại thì đơn giản chỉ là dối trá, ngụy biện, mập mờ đánh lận..!

    Để khỏi mang tiếng là dối trá, nguỵ biện, mập mờ, còm sĩ Hoàng K. Linh hãy đưa ra bằng chứng Hoà Thượng Thích Quảng Đức bị "xô vào đám lửa" và "bị người khác bật lừa đốt."

    Còn dưới là bằng chứng tự thiêu của Hoà Thượng Thích Quàng Đức theo lời kề của ký giả Malcolm Browne, Trưởng phòng đại dịên của hãng thông tấn AP ở Saigon lúc đó, người đã tận mắt chứng kiến diễn tiến vụ tự thiêu, chụp ảnh, và viết bài tượng thuật. Theo Malcolm Browne, sau khi hai nhà sư trẻ đổ dầu vào người Hoà Thượng Thích Quàng Đức, Hoà Thượng đã tự bật cháy que diêm, thả nó vào người, và người Hoà Thượng ngập chìm trong lửa. Chi tiết này cũng đả phá "thuyết âm mưu" (từ của bác Tuân344) cho rằng Hoà Thượng đã bị cho uống thuốc ngủ và bị người khác châm lừa đốt.

    TIME/MALCOLM BROWNE viết:
    The monks were very much aware of the result that an immolation was likely to have. So by the time I got to the pagoda where all of this was being organized, it was already underway—the monks and nuns were chanting a type of chant that's very common at funerals and so forth. At a signal from the leader, they all started out into the street and headed toward the central part of Saigon on foot. When we reached there, the monks quickly formed a circle around a precise intersection of two main streets in Saigon. A car drove up. Two young monks got out of it. An older monk, leaning a little bit on one of the younger ones, also got out. He headed right for the center of the intersection. The two young monks brought up a plastic jerry can, which proved to be gasoline. As soon as he seated himself, they poured the liquid all over him. He got out a matchbook, lighted it, and dropped it in his lap and was immediately engulfed in flames. Everybody that witnessed this was horrified. It was every bit as bad as I could have expected.

    https://time.com/3791176/malcolm-browne-the-story-behind-the-burning-monk/

    CHUCKN viết:
    Nên nhớ là vai trò linh mục (tu sĩ) trong giáo hội Công Giáo căn bản khác với vài trò các Mục sư Tin Lành trong nhà thờ Tin Lành. Bác Ngự nên tìm hiểu kĩ trước khi so sánh nha.

    Công Giáo khác với Tin Lành nên nếu vai trò của linh mục Công giáo có khác với vai trò của mục sư Tin Lành thì cũng chỉ là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên, có phải sự khác biệt trong vai trò của linh mục công giáo và vai trò của mục sư Tin Lành là lý do giải thích tại sao linh mục Công giáo phải sống độc thân trong khi mục sư Tin lành được phép lấy vợ. Đề nghị còm sĩ CHUCKN giải thích cho rộng đường dư luận.

    Vấn đề giáo luật thay đổi theo thời gian và không gian để thích ứng với văn hoá, kinh tế và môi trường sinh sống của tín đồ là một thực tế lịch sử. Mới đây, Vatican đã có đề nghị các tu sĩ công giáo trong các khu vực xa xôi hẻo lánh (remote area) có thể là người có gia đình.

    REUTERS viết:
    An assembly of Roman Catholic bishops from the Amazon on Saturday proposed that married men in the remote area be allowed to be ordained priests, which could lead to a landmark change in the Church’s centuries-old discipline of celibacy.
    The proposal, made in a final document from a three-week assembly, known as a synod, passed by 128 votes in favor to 41 against.
    Pope Francis will consider it, along with many other proposals on issues including the environment and the role of women, in a future document of his own, known as an Apostolic Exhortation.

    https://www.reuters.com/article/us-pope-synod-amazon/vatican-synod-proposes-ordaining-married-men-as-priests-in-the-amazon-idUSKBN1X50FY

    Nên nhớ là vai trò linh mục (tu sĩ) trong giáo hội Công Giáo căn bản khác với vài trò các Mục sư Tin Lành trong nhà thờ Tin Lành. Bác Ngự nên tìm hiểu kĩ trước khi so sánh nha.

    Thiết tưởng cũng cần xác định lại định nghĩa hai chữ Tự Thiêu.
    Tự thiêu là tự tử bằng cách chủ động nhảy vào đám lửa hay tự đổ chất dẩn hỏa lên người rồi tự kích hỏa, tự bật hay đánh lửa để tự châm lửa đốt mình. Ngược lại một người bị xô vào đám lửa, bị người khác đổ chất dẩn hỏa lên người rồi bật lửa đốt thì rỏ ràng là Bị Thiêu chứ không phải Tự Thiêu.
    Nếu nói ngược lại thì đơn giản chỉ là dối trá, ngụy biện, mập mờ đánh lận..!

    TRAN THI NGỰ viết:
    Trong khi Công giáo không cho phép các tu sĩ lập gia đính, thì các nhánh Tin Lành lại cho phép các tu sĩ được lập gia đình. Đơn giản như vậy mà không hiểu được thì làm sao có thể hiểu được những triết lý tôn giáo sâu xa hơn nữa.

    Hiểu chứ mà không ngây ngô với những lý luận kia.

    Trong thiên chúa giáo, với hình ảnh Đức Chúa Trời chỉ là khí là hơi là lửa, thời cựu ước có Mười Điều Răn là những điều luật mà Đức Chúa Trời ban như: không giết người, không trộm cắp, thảo kính cha mẹ.

    Đến thời Tân Ước với Đứng Giêsu là con người thật nhưng bản tính thiên chúa, nhưng những điều luật kia vẫn nhất quán không thay đổi.

    Không ai có thể thay đổi giáo luật của Thượng Đế, về tôn giáo, Đức Chúa Trời hay Đứng Giêsu là những biểu tượng tôn thờ,

    Dù Catholic, Baptist, Methodist, những giáo luật của Thượng Đế trên không đổi, nhưng giáo hội Catholic, Baptist, Methodist lại có giáo luật thế gian, nên kẻ tu hành thì khác biệt, kẻ có vợ, kẽ sống đời độc thân, luật thế gian có thể thay đổi.

    Trong Phật Giáo, Phật giáo có phải là tôn giáo, Địa vị của Đức Phật có như Đứng Giêsu trong Thiên Chúa Giáo, nếu đã xác đinh như thế thì giáo luật của Phật không sát sanh, người trần nào được phép thay đổi.

    Dược Sư Vương hay Thích Quảng Đức có phải kẻ tu hành hay lại là vị Phật mới?, nếu xác định Dược Sư Vương hay Thích Quảng Đức cũng chỉ là kẽ tu hành, vậy hai người này lấy luật thế gian mà thay luật trời đất hả ! sát sanh để được lên cõi niết bàn chăng?

    BA LÚA viết:
    Giới luật của Đức Phật có phải là tín lý ? nếu là tín lý thì không thể sáng mưa chiều nắng
    . . .
    Chẳng thế mà Phật giáo có Đại Thừa, Tiểu Thừa, nay lại có phái Tân Tăng bên Pháp,

    Nếu Phật giáo có Đại thừa Tiểu thừa, hay Tân Tăng (Thanh Hải Vô Thượng Sư không thuộc Phật giáo) thì cũng tương tự như Thiên Chúa giáo (Christianity) có Công giáo (Catholic), Baptist, Methodist, Presbyterian, Lutheran, v.v. Trong khi Công giáo không cho phép các tu sĩ lập gia đính, thì các nhánh Tin Lành lại cho phép các tu sĩ được lập gia đình. Đơn giản như vậy mà không hiểu được thì làm sao có thể hiểu được những triết lý tôn giáo sâu xa hơn nữa.

    TRAN THI NGỰ viết:
    giới luật cơ bản của đức Phật là: (1). Không được sát sanh

    Giới luật của Đức Phật có phải là tín lý ? nếu là tín lý thì không thể sáng mưa chiều nắng

    Vậy thì Dược Sư Vương hay Thích Quảng Đức có phải là Phật ? chắc không và chưa Đat, bởi họ chỉ là những học trò của Phật, mà học trò thì vẽ nhiều đường, kẽ hướng Đông người hướng Tây, muốn tự giết mình cũng được, có chết ai, còn viết kinh nữa cho bá tánh tiếp thu.

    Chẳng thế mà Phật giáo có Đại Thừa, Tiểu Thừa, nay lại có phái Tân Tăng bên Pháp, Đài loan thì có giáo phái Thanh Hải Vô Thuợng Sư, kinh của bà đóng thành sách dầy trăm trang, bá tánh đọc cả năm không hết sách


    Thanh Hải Vô Thuợng Sư
    BA LÚA viết:
    Một phật tử chân chính không sát sinh

    Là Phật tử hay các nhà sư Phật Giáo chân chính, sát sinh là phạm giới, biến cố 1963, các sư, các vãi Phật Giáo đem tính mạng TQĐ ra sát sinh, vậy có khác chi là trò đùa cố tình phạm giới luật của Phật Giáo

    người Phật tử có được tự giết mình?

    Để trả lời cho câu hỏi "người Phật tử có được tự giết mình?" còm sĩ BA LÚA trích dẩn Garje Khamtul Rinpoche (đúng ra là Garje Khamtrul Rinpoche), vốn thuộc về Phật Giáo Tây Tạng. Phật giáo vốn xuất phát từ Ấn Độ, và khi lan truyền qua nhiều quốc gia đã có những thay đổi cho phù hợp với văn hoá của người dân sở tại (tương tự như hiện nay Christianity có các giáo phái khác nhau như Catholic, Baptist, Lutheran, v.v.). Hiện nay có 4 nhánh Phật giáo chính là Phật giáo Tây Tạng (Tibetan Buddhism), Phật giáo đại thừa (Mahayana Buddhism), Phật giáo tiểu thừa (Theravada Buddhism) và Ấn Độ giáo (Hinduism).

    Vì có những điểm khác biệt trong giáo luật của các nhánh Phật giáo, và để rộng đường dư luận, tôi xin trình bày một quan điểm khác của Phật giáo đại thừa, được coi như nhánh Phật giáo chính ở Việt Nam.

    Phật giáo nói chung rất chú trọng đến mặt nhận thức, với mục đích giáo dục con người từ bỏ việc ác, làm các hạnh lành, và hướng đến mục tiêu giác ngộ và giải thoát, với phương châm lấy trí tuệ làm kim chỉ nam, lấy tinh thần từ bi hỷ xả làm phương châm hành động.

    Nói một cách vắn tắt, giới luật cơ bản của đức Phật là: (1). Không được sát sanh, (2). Không được trộm cắp, (3). Không được tà dâm, (4) Không được nói láo, (5) Không uống rượu. Trong việc thực hiện các giới luật, điều quan trọng là mục đích hay động cơ của các hành vi kể trên mang tâm thiện hay tâm ác. Ý nghĩa của thiện hay ác được giải thích trong “Kinh Chánh Kiến”: nguồn gốc của hành vi "bất thiện" là tham lam, sân hận và ngu si; và nguồn gốc của hành vi "thiện" là không tham lam, không sân hận và không ngu si.

    Với quan điểm chú trọng vào THIỆN và ÁC như là mục đích hay động cơ của hành động, Phật giáo đại thừa chấp nhận (tolerate, chứ không khuyến khích) việc tự thiêu (self-immolation). Chương 23 Kinh Pháp Hoa (Lotus Sutra) kể lại cuộc đời của Dược Sư Vương Bồ Tát và việc ngài tự thiêu như một sự cống hiến tối thuợng cho Đức Phật. Việc tư thiêu của Dược Sư Vương được cho là hành động vị tha vì ngài đã hy sinh thân mình để tạo ánh sáng giác ngộ cho chúng sinh. Do hành động vị tha để giác ngộ chúng sinh, ngài đã trở thành Bồ Tát.

    Trở lại trường hợp Hoà Thượng Thích Quảng Đức, việc tự thiêu không trái với giáo luật (không sát sanh) của Phật Giáo (đại thừa). . Thượng toạ Quảng đức tự thiêu không phải lòng tham lam quyền lực, hay bất cứ địa vị danh vọng nào, cũng không phải vì lòng sân hận, càng không phải là hành động si mê. Ngược lại hoà thượng rất sáng suốt tỉnh táo, với ước muốn bảo tồn nền văn hóa truyền thống của dân tộc và tôn giáo được bình đẳng. Với tấm lòng và ý chí đó, thượng toạ đã tự thiêu để thức tỉnh chính quyền cũng như công luận về việc kỳ thị tôn giáo.

    Tham khảo: https://en.wikipedia.org/wiki/Self-immolation
    https://thuvienhoasen.org/a5277/van-de-ht-quang-duc-tu-thieu-va-gioi-khong-sat-sanh-trong-dao-phat-thich-hanh-binh

    Một phật tử chân chính không sát sinh

    Là Phật tử hay các nhà sư Phật Giáo chân chính, sát sinh là phạm giới, biến cố 1963, các sư, các vãi Phật Giáo đem tính mạng TQĐ ra sát sinh, vậy có khác chi là trò đùa cố tình phạm giới luật của Phật Giáo

    người Phật tử có được tự giết mình?

    Garje Khamtul Rinpoche viết:
    : Nhà Phật cho rằng tự tử là một điều tồi tệ nhất mà con người có thể làm. Đây là một hành động tiêu cực khiến cho thần thức của kẻ ấy gặp khó khăn trong việc tái sinh. Theo truyền thống của Phật giáo Tây Tạng thì có hàng trăm vị nam và nữ thần ở trong thân của chúng ta, nếu phạm vào tội tự sát, đồng thời ta cũng giết cả họ. Còn theo Phật giáo Đại Thừa thì dưới chân của mỗi sợi tóc thì có hàng ngàn tế bào sống khác ..., khi ta giết ta thì đồng thời ta cũng hủy diệt chúng.

    TQĐ nhân danh đạo Pháp mà tự giết mình ( không là thuyết âm Mưu), vậy ông thầy Chùa này có là chân tu ? bởi nếu là chân tu Phật Giáo chân chính thì chính mình tự hy sinh, ăn chay, sám hối, cầu cho chúng sinh, kể cả cho chính quyền VNCH 1963, chứ không tự giết mình !

    @tuan344, khi bị thuốc mê ( giải phẩu chẳng hạn) , cơ thể sẽ không còn phản ứng với những tác động từ bên ngoài. Người ngoại cuộc có thể bẻ tay, bẻ chân, xắp xếp cơ thể người bị thuốc mê theo ý đồ của họ.
    HT Thích Quảng Đức không hề tự đổ xăng, cũng không tự tay bật que diêm, hay quẹt máy. Những động tác này được các sư khác "làm dùm". Nếu Ngài còn tỉnh táo thì Ngài sẽ tự tay làm những động tác trên.

    Thế bác Tuan 344 có tin là trái tim Ngài Thích Quảng Đức không bị đốt cháy ở 4000 độ C? Tôi không tin điều này.
    Nguyễn Jung

    TUAN344 viết:
    thuyết âm mưu ...

    Thông thường bản năng tồn tại của con người la phản kháng trước sự đau đớn, cháy, nóng nhưng ở những tấm hình thì ngược lại là như TQĐ hoàn toàn đã chết trước khi bị đốt, người như một pho tượng gỗ

    Tin ai ? thuyết âm mưu hay lửa từ bi ? những tấm hình nếu biết nói !

    NJ viết:
    Ngay cả việc tự thiêu của Hoà thượng Thich Quảng Đức cũng đã được họ dàn xếp: Chích thuốc mê cho Ngài, Hoà Thượng đã không tự đi đựợc, phải có 2 người dìu 2 bên ( có thật sự dìu hay cưỡng bức???) đổ xăng lên thân thể Ngài....

    Thông tin này chẳng có bằng chứng gì cả, chỉ là tin đồn đi từ một loại lý thuyết âm mưu dựng ra để đả phá phe phái đối lập: khi đã thấm thuốc mê, thuốc ngủ thì trương lực cơ (muscle tone) bị triệt tiêu, không ai có thể ngồi thẳng lưng thẳng cổ như vậy cả. Chừng nào bác có dịp gặp một bác sĩ giải phẫu, cứ đem chuyện này ra hỏi xem điều đó có thể xảy ra không (ngồi chấp 2 bàn tay và chéo chân trong tình trạng bị đánh thuốc mê).

    Red viết:
    Người dân phía nam nước Việt trước 1975 nếu có chút nhân thức về thời cuộc đều biết rằng "đàn áp Phật giáo" chỉ là chiêu bài và những thành phần thủ lãnh các nhóm gọi là "Phật Tử Tranh Đấu" đều có liên hệ chặt chẽ với các thủ lãnh phong trào thanh niên học sinh xuống đường . Tất cả bọn họ đều trở thành vỏ chanh sau khi đã bị vắt hết nước.

    Tôi đồng ý với bác Red về nhận định này.

    Ngày dó một số Phật tử bị kich động về chiêu bài "đàn áp Phật giáo" nên tham gia vào các cuộc biểu tình.
    Ngày đó một số Thượng nghị sĩ và Dân biểu, hoặc là thân Cộng hoặc là theo Cộng, hoặc là thành phần thứ ba đã tuyên truyền qua báo chí (như tờ Tin Sáng) .

    Ở Huế "họ" đã đem bàn thờ Phật xuống đường biểu tình, đây là một hành động phỉ báng Phật giáo chứ không phải là đấu tranh chống đàn áp.
    Ngay cả việc tự thiêu của Hoà thượng Thich Quảng Đức cũng đã được họ dàn xếp: Chích thuốc mê cho Ngài, Hoà Thượng đã không tự đi đựợc, phải có 2 người dìu 2 bên ( có thật sự dìu hay cưỡng bức???) đổ xăng lên thân thể Ngài....

    Ở Việt Nam, cho tới bây giờ, ai cũng có thể cạo đầu, rồi tu, tại gia hay vào chùa. Về chức vị, không có một quy định nào rõ rệt: Phải hội đủ những điều kiện nào để trở thành Đại Đức, Thượng Toạ, Hoà Thượng, ai làm lễ phong chức???? Phật Giáo Việt Nam cho tới hôm nay vẫn chưa có được môt tổ chức rõ rệt như Công Giáo.

    Các cuộc biểu tình "chống đàn áp Phật Giáo" xảy ra ở Huế nhiều hơn ở Sài Gòn. Ở các tỉnh miền Trung (trừ Huế) hay các tỉnh miền Nam hầu như không có biểu tình.

    Dodd viết:
    Tất nhiên thật khó đối phó với một âm mưu chính trí ngụy trang dưới lớp áo tôn giáo. Dù sao đi nữa, đây là vấn đề cho Chính quyền Việt Nam chứ không phải cho Chính quyền chúng ta. Nhưng vấn đề này sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều cho chính quyền Việt Nam nếu như những sự thật về Phật giáo ở Việt Nam được cung cấp cho nhân dân Mỹ và nếu họ có thể được giúp đỡ để hiểu rằng giới Phật giáo đấu tranh thật sự hầu như không đại diện cho ai, những hoạt động chính trị của họ thật sự rất nham hiểm, và họ đã gây ra biết bao nhiêu chuyện để phá hoại công cuộc đấu tranh chống cộng sản.

    Đúng như vậy

    Nguyễn Jung

    TRAN THI NGỰ viết:
    ....

    @ bà Ngự, tôi có đọc tiều sữ Thomas Joseph Dodd và tôi cũng đã biết chuyện ông Dodd bị truy tố tôi lạm dung công quĩ tranh cử cho mục tiêu cá nhân, nhưng tôi không cho đó là yếu tố quan trọng trong nhận thức của ông Dodd trong vấn đề Phật Giáo VN trong thập niên 60 bởi chuyện công quĩ còn yếu tố chính trị trong chính trường Mỹ.

    Chuyện tôi muốn nhấn mạnh là bà đã tấn công Dodd là "ngây ngô" mà không là tranh luận chính kiến như quan điểm của Anh quan điểm của Tôi, hay tranh luận tại sao quan điễm này đúng và tại sao sai, hay tranh luận chúng ta có thể đồng thuân ...

    Chuyện đia chính trị thế giới, đừng nói tụi Mỹ ngay cả Dodd ông ta ngây ngô, chính quyền Mỹ, dân cử Mỹ họ biết hết, ta người Việt nhưng chưa rõ nước ta từ A đến Z bằng họ. Chỉ có điều vì lợi ích nước Mỹ, vì đường lối nước Mỹ mà đôi khi họ bẽ cong, bịt mắt thế thôi và quyết đạt mục đích kể cả giết NĐD, anh thầy chùa Trí Quang chỉ là con rối trong vấn đề Phật Giáo thập niên 60, nhìn mặt Trí Quang biết tư cách, cho tôi khỏi post tấm hình Trí Quang ở đây

    BA LÚA viết:
    Bà Ngự chắc phải sinh sau đẻ muộn sau ông Dodd, thời điểm 1954-1963 vậy thì bà Ngự đã là gì mà quan điểm của bà phán chắc chắn đến thế về ông Dodd !

    Chủ trương của tôi khi phê phán một quan điểm là nhìn vào bài viết trình bày quan điểm đó, và phân tích những cái hợp lý hay bất hợp lý của bài viết (chỉ những người hay tấn công cá nhân mới cần chú ý và phê phán thân thế của tác giả). Do đó tôi không cần sinh ra trước hay sau Thomas Dodd để có thể phê phán quan điểm của ông ta chứa đựng trong bài diễn văn trước quốc hội Mỹ năm 1966 (tôi chắc chắn sinh sau các vua Gia Long hay Tự Đức, vậy tôi có quyền phê phán các vị vua đó hay không?).

    Tôi không chú trọng đến thân thế của Thomas Dodd khi phê phán quan điểm của ông ta, nhưng thấy còm sĩ BA LUÁ trích dẩn một phần tiểu sử của Thomas Dodd như một cách để làm tăng thêm uy tín cho quan điểm của ông ta, tôi cũng xin trích dẩn thêm một phần tiểu sử của Thomas Dodd cho được đầy đủ:

    Kiwipedia viết:
    In 1967 Dodd became the first Senator censured by the US Senate since Joseph McCarthy in 1954, and was one of only six people censured by the Senate in the 20th century. The resulting censure was a condemnation and finding that he had converted campaign funds to his personal accounts and spent the money. Beyond the Senate Ethics Committee's formal disciplinary action, other sources (such as investigative journalist Drew Pearson and Jack Anderson's Congress in Crisis) suggest Dodd's corruption was far broader in scope, and there were accusations of alcoholism

    https://en.wikipedia.org/wiki/Thomas_J._Dodd
    Tạm dịch: "Năm 1967, nghị sĩ Dodd trở thành người đầu tiên bị Thượng Viện khiển trách kể từ khi McCarthy bị khiển trách năm 1954, và là một trong sáu người bị Thượng Viện khiển trách trong suốt thế kỷ 20. Việc khiển trách là do cáo buộc và các bằng chứng về việc ông ta đã chuyển quỹ tranh cử vào tài khoản cá nhân và tiêu xài số tiền này. Ngoài kỷ luật chính thức của Uỷ Ban Đạo Đức, các nguồn tin khác (như cuộc điều tra Khủng Hoảng Tại Quốc Hội của hai ký giả Drew Pearson và Jack Anderson) cũng đề xuất rằng sự hư hỏng của nghị sĩ Dodd còn sâu rộng hơn, và cũng có cáo buộc rằng ông ta nghiện rượu."

    TRẦN HỮU CÁCH viết:
    Khi Dodd nói về nguy cơ cho Phật giáo bị thâm nhập ở Việt Nam mà phải viện dẫn chuyện đã được quan sát ở các nước Châu Á nói chung như thế, ta có thể thấy ông ấy chưa thật nắm vững tình hình tại Việt Nam -- chưa có gì cụ thể để nói.
    . . .
    Đối với chính trị Mỹ, Dodd muốn họ quan tâm tới cái gọi là "âm mưu chính trị ngụy trang dưới lớp áo tôn giáo".

    Dodd thật sự chưa nắm vững tình hình ở Nam Việt Nam lúc đó. Bằng cớ là ông ta cho rằng vấn đề Phật Giáo đấu tranh là không có thật, nhưng ông ta cũng không giải thích được tại sao một số lãnh đạo Phật Giáo lúc đó lại có thể làm "lung lay bất cứ chính phủ nào" mà các lãnh đạo đó không ủng hộ. Do ông ta không giải thích được (dù là các âm mưu chính trị đội lớp tôn giáo) nên rõ ràng là ông ta chưa hiểu (hay không muốn hiểu) vai trò của người Mỹ ở VN lúc đó.

    Thấy bác Ngự chỉ trích ông Dodd ghê quá, tôi vào đọc lại thì thấy không như bác Ngự nghĩ.

    Cái nhìn vào Việt Nam từ nước Mỹ thời 60 của một người Mỹ dĩ nhiên không thể nào bằng sự hiểu biết của chúng ta, những người sinh ra và lớn lên ở đó. Nhưng những gì Dodd thấy và giả thiết trong bài này là khá sát thực tế và cần thiết đối với những nhà hoạch định chính sách Mỹ khi đó.

    Các chỉ trích của bác Ngự cũng không đúng và không chừa chỗ cho những cách diễn giải thoáng hơn. Nên nhớ rằng Dodd đang đưa ý kiến cho chính quyền chứ không phải đang viết sách nghiên cứu.

    1. Dodd dẫn lời Trí Quang nói về điều đình/giàn xếp và sau đó nói trong lời của chính mình về thỏa thuận. Không có sự gán ghép hay bóp méo -- đương nhiên, ta có thể kỳ vọng đúng điều này nơi trình độ của một cựu công tố viên tòa quốc tế. Việc đổi từ điều đình sang thỏa thuận trong khi trình bày không phải là thành kiến mà là việc giả dụ về một tiến trình hợp lý: điều đình để tiến tới thỏa thuận.

    2. Đoạn văn trong đó Dodd liệt kê thủ tục trở thành sư Phật giáo (rồi hoàn tục rồi làm sư trở lại) mà chính ông sau đó nói là "không muốn chỉ trích... trên cơ sở tôn giáo" có phải là nhắm vào trường hợp ở Việt Nam hay không? Tôi nghĩ rằng không, vì ngay trước đó, ông ấy nói về nguy cơ cộng sản thâm nhập Phật giáo tại "nhiều nước ở Châu Á". Khi Dodd nói về nguy cơ cho Phật giáo bị thâm nhập ở Việt Nam mà phải viện dẫn chuyện đã được quan sát ở các nước Châu Á nói chung như thế, ta có thể thấy ông ấy chưa thật nắm vững tình hình tại Việt Nam -- chưa có gì cụ thể để nói.

    3. Chỉ trích sau cùng của bác Ngự đối với nhận định của Dodd về bản chất và sức mạnh của những người Phật giáo đấu tranh cũng không cần thiết. Nguồn gốc của con số đã được nêu ra: cư sĩ Mai Thọ Truyền. Đối với người Việt, con số nhỏ nhoi ông Truyền đưa ra có thể đúng, nhưng dựa vào đó mà đánh giá về sức ảnh hưởng của các nhà sư có uy tín là sai lầm. Người Việt Nam chúng ta biết chắc điều đó, nhưng đối với người Mỹ, con số đó hẳn khiến họ phải so sánh lại với thực tế và những ước tính trước đó. Đối với chính trị Mỹ, Dodd muốn họ quan tâm tới cái gọi là "âm mưu chính trị ngụy trang dưới lớp áo tôn giáo". Quan tâm của Dodd là làm sao cho người Mỹ -- phải, cho người dân nước Mỹ -- biết rõ hơn về Phật giáo ở Việt Nam. Nhiều người Việt miền Nam phải bỏ xứ ra đi sau 75 vẫn hận giới truyền thông Mỹ ăn phải bả cộng sản nên thông tin sai lệch về cuộc chiến và xã hội Việt Nam. Chúng ta ước ao truyền thông Mỹ đưa tin trung thực hơn, hiểu biết hơn. Thượng nghị sĩ Dodd cũng vậy.

    Dodd viết:
    Tất nhiên thật khó đối phó với một âm mưu chính trí ngụy trang dưới lớp áo tôn giáo. Dù sao đi nữa, đây là vấn đề cho Chính quyền Việt Nam chứ không phải cho Chính quyền chúng ta. Nhưng vấn đề này sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều cho chính quyền Việt Nam nếu như những sự thật về Phật giáo ở Việt Nam được cung cấp cho nhân dân Mỹ và nếu họ có thể được giúp đỡ để hiểu rằng giới Phật giáo đấu tranh thật sự hầu như không đại diện cho ai, những hoạt động chính trị của họ thật sự rất nham hiểm, và họ đã gây ra biết bao nhiêu chuyện để phá hoại công cuộc đấu tranh chống cộng sản.

    Đọc bài của Dodd, tôi chỉ tiếc rằng tại sao thời đó không nhiều chính khách Mỹ suy nghĩ như ông ấy.

    Người dân phía nam nước Việt trước 1975 nếu có chút nhân thức về thời cuộc đều biết rằng "đàn áp Phật giáo" chỉ là chiêu bài và những thành phần thủ lãnh các nhóm gọi là "Phật Tử Tranh Đấu" đều có liên hệ chặt chẽ với các thủ lãnh phong trào thanh niên học sinh xuống đường . Tất cả bọn họ đều trở thành vỏ chanh sau khi đã bị vắt hết nước.

    TRAN THI NGỰ viết:
    Các lý luận thiếu hợp lý đến mức ngây ngô của Thomas Dodd cho thấy ông ta chưa hiểu chính sách của Mỹ về Việt Nam và chiến tranh VN, cũng như các hoạt động của người Mỹ ở Saigon.

    Thomas Joseph Dodd (May 15, 1907 – May 24, 1971) was a United States Senator and Representative from Connecticut, He is the father of former U.S. Senator Christopher Dodd and Thomas J. Dodd, Jr., who served as the United States Ambassador to Uruguay from 1993 to 1997 and to Costa Rica from 1997 to 2001.

    Thomas Joseph Dodd là Thượng Nghị Sĩ liên bang đại diện tiểu bang Connecticut từ 1959-1971, khác với nghị gật ở cuốc hội VNcs đảng cử, chức vụ của ông dân bầu, nói về chính quyền Mỹ, nhìn ngân sách liên bang Mỹ là biết điểm đến và nó phản ảnh mọi khía cạnh về nước Mỹ và thế giới như qua viện trợ cho các nước khác, tin tức tình báo quân sự, kinh tế.vv.. đều phải qua từng uỷ ban thường trực thượng viện bàn thảo và biểu quyết ở nghị trường lập pháp trước khi phê chuẩn để hành pháp thi hành nên gần như các Nghị Sĩ Mỹ rất hiểu rõ ngọn ngành mọi vấn đề nước Mỹ và thế giới.

    VN thời điểm 1954-1963 với chính quyền đệ nhất VNCH và là nơi ngừợi Mỹ đang gây ảnh hưởng qua viện trợ quân sự và kinh tế, bà Ngự nói rằng ông Dodd ngây ngô chưa hiểu chính sách của chính quyền Mỹ hay CIA, bạn đọc DL sẽ tin ông Dodd hay bà Ngự khi chính bà tuyên bố bà là công dân Mỹ (tôi nghi ngờ điều này), công dân như bà đi bầu không cần ghi danh đễ bầu phiếu và khi nói về đảng phái nước Mỹ bà nói không có hội họp, không có thẻ đảng, không cần điền giấy tờ gia nhập để là đảng viên, không đóng lệ phí vv...Bà Ngự chắc phải sinh sau đẻ muộn sau ông Dodd, thời điểm 1954-1963 vậy thì bà Ngự đã là gì mà quan điểm của bà phán chắc chắn đến thế về ông Dodd !

    Một sự kiện lịch sử có thể được nhìn và hiểu theo nhiều cách khác nhau, tuỳ theo chính kiến (cũng như thành kiến), niềm tin (gồm cả niềm tin tôn giáo), cũng như các thông tin liên quan. Vì thế, không có gì đáng ngạc nhiên khi có nhiều cái nhìn rất khác biệt về nhà sư Thích Trí Quang. Quan điểm của Thomas Dodd cũng chì là một trong vô vàn cái nhìn khác nhau về sự kiện Phật giáo VN trong thập kỳ 1960s cũng cá nhân nhà sư Thích Trí Quang. Với sự tôn trọng các khác biệt về quan điểm, bình luận của tôi chỉ liên quan đến phần logic/hơp lý của các lý luận.

    Thomas Dodd viết:
    Những người Phật giáo đấu tranh muốn gì? Trước khi lật đổ Tổng thống Diệm Thích Trí Quang nói thật với Marguerite Higgins: "Chúng tôi không thể nào điều đình với miền Bắc cho tới khi chúng tôi loại trừ được Diệm và Nhu."
    Bằng chứng rõ ràng là Thích Trí Quang và một số kẻ tranh đấu khác của ông vẫn đang nhất định thỏa thuận với miền Bắc. Thật vậy, chỉ mới thứ Sáu vừa qua, Quang kêu gọi Mỹ thương lượng với Hồ Chí Minh.

    Có thể do thành kiến nên khi Thích Trí Quang được cho là đã nói đến "điều đình" (arrangement trong nguyên bản) thì Thomas Dodd chuyển từ "điều đình" ngay sang "thoà thuận" (agreement trong nguyên bản) trong khi hai khái niệm "điều đình" và "thoả thuận" rất khác nhau.

    Thomas Dodd viết:
    Người muốn trở thành nhà sư Phật giáo không cần phải học đạo để chuẩn bị bản thân cho hoằng pháp, họ cũng không cần phải thọ giới, họ cũng không cần phát nguyện.

    Họ chỉ cạo đầu và mặc áo cà sa và vào tịnh xá- rồi họ mau chóng trở thành bậc cao tăng.

    Khi họ muốn hoàn tục, họ cởi áo ra và lìa xa nó; nếu họ muốn trở lại, họ mặc lại áo cà sa và đi tu trở lại. Chỉ có thế thôi.

    Ý kiến có tính cách phỉ báng Phật giáo ở trên cho thấy một sự thiếu hiểu biết hết sức sơ đẳng, đến mức ngu dốt, về Phật giáo. Thật ra, có sự khác biệt trong việc thực hành Phật giáo ở nhiều quốc gia khác nhau, nhưng những điều Thomas Dodd nói về Phật gíáo ở Nam Việt Nam lúc ấy là hoàn toàn bịa đặt.

    Thomas Dodd viết:
    Điểm thứ hai cần phải xác định là những người Phật giáo đấu tranh chỉ là một phần rất nhỏ của toàn bộ dân số Phật giáo. Hàng triệu nông dân theo đạo Phật, đại đa số họ, không tán thành những hành động đấu tranh chính trị và những âm mưu lật đổ chính quyền của giới Phật giáo đấu tranh ở Sài Gòn. Hành động của họ, thực ra, hoàn toàn đi ngược lại truyền thống hòa bình của Phật giáo.
    . . .
    Họ đã tổ chức những cuộc biểu tình, khiêu kích những cuộc bạo động, châm ngòi cho bao phẫn nộ bằng những cuộc tự thiêu và tuyệt thực tạo ra được nhiều sự chú ý, và không ngừng chỉ trích và tuyên truyền dồn dập chống lại chính quyền. Họ đã lật đổ chính phủ của Nguyễn Khánh. Rồi họ lật đổ tiếp chính phủ của Trần Văn Hương lên thay chính phủ của Nguyễn Khánh. Và họ dường như quyết tâm làm cho bất kỳ chính phủ nào lên nắm quyền cũng không làm được gì cả.

    Tất nhiên thật khó đối phó với một âm mưu chính trí ngụy trang dưới lớp áo tôn giáo. Dù sao đi nữa, đây là vấn đề cho Chính quyền Việt Nam chứ không phải cho Chính quyền chúng ta. Nhưng vấn đề này sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều cho chính quyền Việt Nam nếu như những sự thật về Phật giáo ở Việt Nam được cung cấp cho nhân dân Mỹ và nếu họ có thể được giúp đỡ để hiểu rằng giới Phật giáo đấu tranh thật sự hầu như không đại diện cho ai, những hoạt động chính trị của họ thật sự rất nham hiểm, và họ đã gây ra biết bao nhiêu chuyện để phá hoại công cuộc đấu tranh chống cộng sản.

    Không có chính phủ ổn định nào có thể được lập nên ở Việt Nam nếu không có sự tham gia và ủng hộ của giới lãnh đạo Phật giáo có trách nhiệm. Nhưng giới lãnh đạo Phật giáo có trách nhiệm này không thể nào được tìm thấy trong một số ít những nhà sư có lai lịch bất minh là những kẻ đã và đang dẫn dắt phong trào Phật giáo đấu tranh ở các thành phố Việt Nam vào con đường sai lầm.

    Thomas Dodd cho rằng có rất ít người tham gia phong trào đấu tranh của Phật giáo lúc đó, vậy thì sức mạnh của phong trào Phật giáo đấu tranh khi ấy có từ ở đâu đế có thể gây rắc rối cho bất kỳ chính phủ nào mà họ không ủng hộ? Các lý luận thiếu hợp lý đến mức ngây ngô của Thomas Dodd cho thấy ông ta chưa hiểu chính sách của Mỹ về Việt Nam và chiến tranh VN, cũng như các hoạt động của người Mỹ ở Saigon.

    Bài diễn văn quá hay, mạch lạc và đầy những ý kiến sáng suốt. Cám ơn dịch giả Trần Quốc Việt và Dân Luận đã đưa bài này đến người đọc tiếng Việt.