Có 100 năm về trước

  • Bởi Admin
    24/06/2019
    2 phản hồi

    Luật sư Lê Công Định

    Tròn 100 năm trước, ngày 18/6/1919, một nhóm nhà yêu nước xứ An Nam, trong đó có ông Nguyễn Sinh Cung (tức Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh), đã trình bản Yêu sách của nhân dân An Nam, còn gọi là Thỉnh nguyện thư của dân tộc An Nam (Revendications du peuple annamite) lên Hội nghị Versailles bàn về hòa bình thế giới sau đệ nhất thế chiến.

    Bản thỉnh nguyện thư đó yêu cầu thực dân Pháp tiến hành cải cách sâu rộng cả ba lĩnh vực hành pháp, tư pháp và lập pháp, bao gồm trả tự do cho tù chính trị, thực thi các quyền tự do dân chủ của công dân, thay đổi chế độ cai trị bằng đạo luật thay vì sắc lệnh, không dùng tòa án khủng bố và trấn áp dân, và các thành viên nghị viện phải lắng nghe nguyện vọng của nhân dân.

    Bản thỉnh nguyện thư đó thể hiện một trình độ hiểu biết cao và văn minh về chính trị và pháp luật của những người tham gia soạn thảo. Tất nhiên, ai cũng biết người chấp bút chính về nội dung bằng tiếng Pháp chính là Tiến sĩ Luật khoa Phan Văn Trường, nhưng ký tên chung là "des Patriotes Annamites", tức "những Nhà ái quốc An Nam".

    Ông Cung được giao dịch sang tiếng Việt để tuyên truyền trong nước, nên ông liền chuyển dịch bản thỉnh nguyện thư thành một bài thơ lục bát ký dưới tên "Nguyễn Ái Quốc". Vài chục năm sau đó (do chưa có Internet và Facebook) ông Cung đã mạo nhận và tiếm xưng mình là tác giả chính của bản yêu sách với tên Nguyễn Ái Quốc luôn. Nói cách khác, ông Cung đã biến tên gọi một nhóm thành tên gọi một người để dễ bề biển thủ công lao của tất cả, rồi mặc nhiên vơ hết vào mình.

    Giả sử ông Cung chính là tác giả bản thỉnh nguyện thư, chúng ta có thể thấy rõ ràng rằng ông đã rất am hiểu về một thể chế tam quyền phân lập và tự do dân chủ, như ông từng đòi hỏi. Vậy tại sao khi thiết lập nên chính quyền về sau, ông và các đệ của ông không thực thi đầy đủ những điều mà chính ông từng yêu sách thực dân Pháp phải làm cho người dân Việt Nam 100 năm trước?

    Chính quyền hiện nay của các đệ ông Cung chẳng những bắt giam hàng loạt tù chính trị và vi phạm các quyền tự do dân chủ của công dân, mà còn dùng tòa án khủng bố và trấn áp nhân dân, và tệ hại hơn các đại biểu quốc hội của họ còn nghĩ ra bao nhiêu trò trấn lột dân bằng đủ mọi loại thuế, phí, lệ phí và khoản đóng góp, v.v....

    Nếu 100 năm trước thực dân Pháp cai trị bằng Sắc lệnh, tức văn bản pháp quy của người đứng đầu ngành hành pháp, thì ngày nay các đệ ông Cung cũng dùng Nghị định, tức văn bản pháp quy của cơ quan hành pháp cao nhất là chính phủ, để cai trị nước Việt Cộng. Luật chỉ là văn bản trang trí cho cái gọi là "nhà nước pháp quyền" mà thôi.

    Tiện đây, xin nói thêm về hai chữ "pháp quyền". Trong bản dịch thỉnh nguyện thư 100 năm trước, ông Cung có dùng từ "thần linh pháp quyền" để chỉ các quyền tự do dân chủ. Pháp quyền là quyền theo luật định, ai cũng có thể hiểu. Còn "thần linh" là cái quái gì thì chả ai hiểu, nhất là khi ông Cung lại bê vào đó, cho đứng cạnh "pháp quyền". Ông vô thần cái kiểu dzì vại (?)(!).

    Từ hai chữ "pháp quyền" ông Cung dùng trong bài thơ lục bát chuyển dịch nói trên, các đệ của ông khi chế tác ra độc môn "tư tưởng HCM" về sau đã cắm hai chữ ấy vào thuật ngữ "nhà nước pháp quyền", nhằm chứng minh rằng Người từng có tư tưởng về nhà nước pháp quyền rất sớm, trước hết thảy mọi người Việt từng sinh ra trên đời này (!)(?).

    Họ dùng từ "pháp quyền" để dịch một ý niệm lẽ ra phải là "pháp trị" trong khái niệm "Etat de droit". "Pháp quyền" dùng trong ý nghĩa về nhà nước pháp trị, chẳng những sai về ngữ nghĩa mà còn cho thấy khả năng chế tác ra "tư tưởng HCM" của các đệ ông Cung bằng cách "râu ông này cắm cầm bà kia" kể cũng thượng thừa!

    Bài dài nên xin dừng ở đây, không thôi bạn đọc cũng ngán ngẩm như khi đọc trường ca nhạt nhẽo của anh Thưởng hôm qua!

    Từ khóa: Lê Công Định

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Phản hồi: 

    Tri thức chuyển dịch từ nơi (nước) này sang nơi khác tưởng chừng như đơn giản. Khi các quốc gia hạ thấp các rào cản ờ biên giới, khi các phương tiện đi lại trở nên nhanh chóng và nhất là trong tình trạng "toàn cầu hoá" hiện nay, tưởng chừng như tri thức sẽ lan toả nhanh chóng. Thực tế cho thấy không hẳn như vậy.

    Tri thức có thể chuyển dịch nhưng không trọn vẹn và trong nhiều trường hợp còn bị làm sai lệch.

    Người La Mã có thể biết ký hiệu + (thập) của người Trung Hoa có nghĩa là 10 nhưng họ hoàn toàn không biết ngoài quy ước + là 10 người Trung Hoa còn quy ước + là "chữ thánh hiền". Có nghĩa đây là chữ được tạo ra bỡi đấng thánh thần cao siêu, duy nhất đúng và những thứ khác là tầm thường, là sai.

    Người Trung Hoa có thể biết ký hiệu X được người La Mã quy ước là 10 nhưng họ không hề biết người La Mã không coi X là "chữ thánh hiền". Họ không biết người La Mã tạo ra X bằng cách tập hợp lại các quy ước đã có ở nhiều nơi, rồi tạo ra một hệ quy ước chung để giải quyết vấn đề hiện tại cho đến khi xuất hiện một hệ quy ước khác có thể giải quyết tốt hơn.

    Thành ra tri thức có thể chuyển dịch nhưng trong nhiều trường hợp giá trị cốt lõi của tri thức lại không thể!

    Đây không phải là chuyện của 1000 năm trước. Đây là vấn đề vẫn diễn ra trong tình trạng toàn cầu hóa với phương tiện internet hiện nay!

    Tôi xin đơn cử một trong rất nhiều các ví dụ: ĐẢNG trong trường hợp Việt Nam.

    Chắc chắn đảng không tự xuất hiện trong hệ quy ước của người Việt. Chắc chắn nó phải được du nhập từ bên ngoài vào. Vậy thì nó đã du nhập từ lúc nào? Nó đã trải qua các bước để định hình ý nghĩa bên trong VN như thế nào? Và đến nay thì có gì khác giữa đảng bên trong và đảng bên ngoài VN?

    (tạm dừng)

    Phản hồi: 

    Lê Công Định vs chú Cung

    Nhân chuyện chú Cung 100 năm trước, tôi có câu chuyện 2000 năm muốn kể.

    2000 năm trước, người TQ khi họ nhìn thấy trên một miếng da bò có nhiều hàng chữ trong đó có nhiều chữ X , họ không hề biết những vết mực này có nghĩa là gì.

    Tương tự, 2000 năm trước, người La Mã khi họ nhìn thấy trên một thanh tre có ghi nhiều chữ + (chữ thập, không phải dấu cộng), họ không hề biết những vết mực này có nghĩa là gì.

    Cái này ngày nay ta gọi là bất đồng ngôn ngữ, mà thực tế là vì người TQ không cùng chung hệ quy ước với người La Mã. Ngược lại, với quy ước của người TQ người La Mã cũng không quen. Hiểu biết là nắm bắt chính xác các quy ước.

    Ngày nay, có thể nói có không ít người TQ biết rõ X La Mã và + (thập) TQ có cùng nghĩa và bên Châu Âu cũng có không ít người như vậy. Điều này có nghĩa vào một lúc nào đó trong 2000 năm qua đã có ngưòi La Mã mang ký hiệu X đến TQ, giải thích ý nghĩa của nó và người TQ đã nắm bắt được quy ước La Mã này. Hoặc ngược lại, đã có người TQ đến La Mã, học quy ước của ký hiệu rồi mang về TQ. Các diễn biến này ngày nay ta gọi là lan tỏa và du nhập hiểu biết, và đây là chỗ làm nổi bật hai nhân vật Lê Công Định và chú Cung.

    Hãy tưởng tượng nước Việt vào thời điểm chừng 300 năm trước. Có một người bằng cách nào đó đã đến Pháp và trờ về với hoá đơn ghi mang trả lại X ký vàng. Về đền VN người này giải thích X là 9 và như vậy chỉ trả lại 9 ký. Sẽ không có người VN nào biết người này gian lận. Và nếu X là 9 được nhắc đi nhắc lại đến mức hình thành quy uớc thì toàn xã hội VN sẽ có nhận thức X là 9 vì không một người Việt nào biết ở Pháp X được quy ước là 10!

    Năm 1945, nếu thay X bằng tự do, dân chủ, người mang X từ Pháp về VN sẽ là chú Cung. Chú mang khái niệm tự do về nhưng giải thích tự do là" tự do của dân tộc" không có tự do cá nhân từng con người! Qua thời gian cách nắm bắt ý nghĩa khái niệm tự do này đã gần như hình thành quy ước trong toàn xã hội!

    Đến thập niên 80-90, thay X bằng tự do, dân chủ, pháp quyền..., người mang X từ Pháp về là Lê Công Định. Định mang X về VN và giải thích đúng quy ước của người La Mã-Pháp: X là 10.

    Định và chú Cung có nhiều khác biệt, một trong những khác biệt là ở chỗ này.