Về văn hóa pháp trị lạc hậu của Trung Quốc

  • Bởi Admin
    09/03/2019
    0 phản hồi

    Quang Mẫn (Trung Quốc)
    Đoàn Đức Thanh biên dịch

    Trung Quốc không chỉ lạc hậu về văn hóa chính trị, còn lạc hậu về văn hóa pháp luật. Trung Quốc cổ đại không có được luật pháp như Luật Hammurabi, Luật La Mã, thậm chí cũng không có dù chỉ một mảnh của Tảng Đá Pháp Luật (Lögberg, Law Rock)Iceland. Nhà tư tưởng của Anh là Henry James Sumner Maine (1822 – 1888) từng nói: Có thể biết được độ cao thấp của văn hóa một quốc gia bằng việc nhìn vào tỷ lệ giữa Dân luật và Hình luật. Nhìn chung quốc gia bán khai (mông muội) thì dân luật ít, hình luật nhiều; quốc gia tiến bộ thì dân luật nhiều, hình luật ít. Có nhà luật học Nhật Bản đã theo đó nhấn mạnh thêm rằng, Trung Quốc cổ đại chỉ có hình luật mà không có dân luật, là một quốc gia bán khai, văn hóa thấp kém.

    1. Nguồn gốc ý thức pháp luật của người Do Thái

    Ngay từ khoảng giữa thiên niên kỷ III trước Công nguyên (TCN), người Sumer và Akades ở vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) đã bắt đầu sử dụng luật pháp làm phương tiện cơ bản kiểm soát xã hội, nội dung chủ yếu liên quan đến các quy định về hôn nhân và gia đình. Vào thế kỷ 22 TCN, vua Ur-Nammu (2113 TCN-2096 TCN) của vương triều Ur thứ ba vùng Lưỡng Hà đã xây dựng nên bộ luật mang tên ông bằng văn tự Sumer. Đây là bộ luật thành văn sớm nhất trong lịch sử loài người được biết cho đến nay. Giới khảo cổ chỉ tìm thấy những mảnh vỡ của nó, phần lời tựa của bộ luật có ghi cấm ức hiếp trẻ mồ côi và góa phụ, cấm người giàu bạc đãi người nghèo. Ý thức pháp luật của Abraham là bắt nguồn từ đây, đã được viết vào Kinh Thánh. Sau đó, Mười điều răn của Mosesquy định cấm ức hiếp người ngoài, cấm nói dối làm chứng, nhấn mạnh bảo vệ tài sản cá nhân.

    Vua xứ Babylon là Hammurabi (1792 TCN – 1750 TCN) đã xây dựng Bộ luật Hammurabi, là bộ luật thành văn sớm nhất trên thế giới mà ngày nay còn lưu giữ hoàn chỉnh. Văn bản gốc của Bộ luật Hammurabi được khắc trên trụ đá bazan màu đen có chiều cao 2,25 mét, chu vi trên 1,65 mét, chu vi dưới 1,90 mét, còn gọi là “Luật trụ đá”. Hammurabi tuyên bố rằng luật của ông là chính nghĩa và công bằng đã được thần mặt trời Shamash trao tặng cho vương quốc để làm cho luật pháp của ông tỏa sáng trên lãnh thổ đất nước; bản thân ông giống như thần mặt trời Shamash: là vua của các vị vua linh thiêng, có quyền giành được vương trượng và vương miện. Bộ luật này có các quy định chi tiết về hình sự, dân sự, thương mại, hôn nhân, thừa kế, xét xử; có nhiều quy định về trao đổi hàng hóa và bảo vệ quyền sở hữu tư nhân đối với tài sản lưu động, phần chính văn có 282 điều khoản, trong đó 150 điều khoản là về quan hệ khế ước (hợp đồng), chiếm hơn 53%. Từ Bộ luật Hammurabi đã thấy được hình dáng ban đầu “Bộ luật Dân sự” (Civil Code) của nhà chính trị và quân sự Pháp Napoleon (1769-1821).

    2. Văn hóa pháp luật tiến bộ của Hy Lạp

    Trong thời kỳ đầu của nền văn minh Hy Lạp cổ đại cũng đã từng trải qua chế độ vương quyền, do văn hóa huyết thống của Hy Lạp yếu nên không hình thành chế độ đẳng cấp dựa theo tôn ti huyết thống. Sau này chế độ thành bang khiến đất nước hoàn toàn dựa trên nền tảng khế ước hiến pháp, từ đó hình thành xã hội công dân. Cho dù hình thành chính trị quý tộc và chính trị bạo chúa (tyrant), nhưng cũng không thể tước đoạt được quyền lợi hợp pháp của công dân.

    Năm 594 TCN, Solon (640 TCN – 558 TCN) được bầu làm quan chấp chính cao nhất, ông đã lập pháp để bảo vệ quyền sở hữu tư nhân đối với tài sản, ban hành chế độ tự do thừa kế và tự do lập di chúc. Một loạt các quy định pháp lý của Solon được khắc trên gỗ hoặc đá phiến, đặt trong một khung hình chữ nhật có thể di chuyển được nhằm công bố cho đông đảo dân chúng biết. Bộ luật Solon ban đầu được lưu giữ tại hội trường nghị sự Athens, và được công bố trên cột trụ tại nơi tụ tập họp chợ, nhờ vậy Athens bước vào kỷ nguyên pháp trị; Solon cũng xây dựng nên cơ chế dân chủ quan trọng là “Luật Bồi thẩm Công dân”, từ đó hình thành truyền thống pháp trị phương Tây.

    Nhà triết học Aristotle (384 TCN – 322 TCN) nhấn mạnh hơn vào tính chính nghĩa của luật pháp. Ông nói: “Nếu loài người rời xa luật pháp và chính nghĩa sẽ thoái hóa thành loài vật hung ác… Kẻ thất đức tùy tiện hành ác, tham lam vô độ, là dã thú thấp kém và hung ác nhất”.

    3. Văn hóa pháp luật La Mã chinh phục thế giới

    Bộ luật 12 bảng (tiếng Latin: lex duodecim tabularum) nổi tiếng ở quy định bất tuân dân sự dưới đe dọa vũ lực. La Mã cổ đại vận hành theo luật tục, nhiều tục cổ hủ bất lợi cho thường dân được lưu giữ lại. Hơn nữa, việc giải thích của luật tục có tính co dãn rất lớn. Do không có quy định rõ ràng, các thẩm phán quý tộc khi tuyên án thường tùy tiện kết án bất công. Điều này khiến dân chúng tức giận, đòi hỏi có bộ luật thành văn. Dân chúng ba lần tổ chức “phong trào di tản” rời bỏ thành La Mã để gây áp lực với giới quý tộc. Không có dân thường làm lính, thành La Mã sẽ bị ngoại tộc chiếm đóng. Cuối cùng, vào năm 454 TCN, Viện Nguyên lão buộc phải chấp nhận hội nghị thường dân có quyền xây dựng pháp luật, thành lập ủy ban soạn thảo luật gồm 10 thành viên trong đó quý tộc và thường dân mỗi bên 5 thành viên, đã đến Hy Lạp khảo sát hệ thống pháp luật một năm. Sau khi đoàn đặc phái viên trở về đã thành lập “Hội đồng Lập pháp 10 thành viên”, sau một năm làm việc, Hội đồng Lập pháp gồm 10 thành viên ban hành một số luật, sau khi được Đại hội quân đội và Viện Nguyên lão phê chuẩn, đã được khắc lên 12 bảng đồng, đã công bố tại Quảng trường La Mã vào năm 451 TCN.

    Bộ luật 12 bảng (đồng) được xây dựng xung quanh việc bảo vệ quyền công dân. Điều 9 trong bảng thứ bảy nêu rõ: Nhánh cây dài quá 15 xích (khoảng 5 mét – ND) phải cắt bỏ.” Nghĩa là không được để cây cao quá 15 xích, vì như vậy bóng râm của cây sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng trên vùng đất liền kề. Có thể thấy, luật La Mã yêu cầu mọi người phải giới hạn quyền lợi của bản thân để cân bằng với lợi ích của người khác. Ý thức bác ái mang tính phổ quát này là điểm cơ bản nền tảng của hệ thống văn hóa dân chủ tự do phương Tây. Giới quý tộc và thầy tế La Mã thuộc nằm lòng Bộ luật 12 bảng, thậm chí những đứa trẻ cũng đạt đến trình độ thông thuộc. Sau Bộ luật 12 bảng, hệ thống luật pháp của luật La Mã vẫn thể hiện được xu hướng bảo vệ thường dân. Mỗi khi một bộ luật thành văn được ban hành là địa vị chính trị, kinh tế và pháp luật của thường dân lại được cải thiện nâng cao hơn.

    Vào thế kỷ thứ 6 sau công nguyên, La Mã xuất bản “Bách khoa Luật dân sự” (Corpus Juris), từ đây luật La Mã có được hình thức hoàn chỉnh nhất của luật pháp đặt nền tảng trên quyền sở hữu tư nhân. Luật La Mã thiết lập các nguyên tắc gồm: 1. Mọi người tự do và bình đẳng trước pháp luật; 2. Tự do khế ước; 3. Tài sản là thiêng liêng và bất khả xâm phạm.

    Ba nguyên tắc của lý thuyết lập pháp thời hiện đại gồm “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật”, “Tự do khế ước” và “Quyền bất khả xâm phạm về tài sản” chính là bắt nguồn từ luật La Mã. Sau những nỗ lực của các nhà làm luật của giáo hội thời trung cổ, luật La Mã dần trở thành nền tảng của các nước lớn ở châu Âu như Anh, Pháp và Đức.

    Với ủng hộ của hoàng đế Gregorian VII (1015-1085), trường Luật Bologna được thành lập tại Bologna thuộc Ý, bắt đầu sưu tập các tư liệu liên quan luật La Mã mà đại diện là “Bộ luật Justinian”, tức là “Bách khoa Luật Dân sự”. Năm 1087, trường đại học đầu tiên ở thời Trung cổ là Đại học Bologna được hoàng đế thừa nhận và chính thức thành lập, số lượng sinh viên luật trong thế kỷ 12-13 luôn bảo đảm ở mức quy mô 1.000-10.000 người. Từ thế kỷ 11 người học luật tại Đại học Bologna đã dần phân bố rộng khắp châu Âu, đến giữa thế kỷ 12 Bologna đã trở thành trung tâm quan trọng nhất nghiên cứu luật La Mã và luật Giáo hội châu Âu.

    Bộ luật Napoléon đầu thế kỷ 19 là bộ luật được chế định dựa trên luật La Mã. Thời học Đại học, ông Gorbachev (lãnh đạo Liên Xô cũ – ND) rất yêu thích luật La Mã, trong thời gian cầm quyền đã đến thăm Ý và ca ngợi sự bất hủ của luật La Mã. Rudolph von Jhering (1818-1892) gương mặt tiêu biểu giới luật học lịch sử cận đại Đức cho biết trong cuốn sách “Tinh thần Luật La Mã” (The spirit of Roman law) của ông: La Mã đã ba lần chinh phục thế giới. Lần đầu dùng vũ lực, lần thứ hai là tôn giáo, và lần thứ ba là pháp luật. Biện pháp vũ lực tiêu tan cùng sự sụp đổ của Đế chế La Mã, tôn giáo thì phai nhạt vì những thay đổi trong quan niệm của mọi người và sự phát triển của khoa học, chỉ có chinh phục thế giới bằng pháp luật là bền vững nhất.

    4. Luật tục phổ biến của người German

    Người German cho rằng thẩm quyền cao nhất của cộng đồng là luật pháp, còn uy quyền của luật pháp bắt nguồn từ phong tục của cộng đồng. Luật ban đầu của người German là luật tục bất thành văn, truyền miệng và không có sự phân biệt rõ ràng với quy phạm đạo đức. Phiên tòa xét xử vụ án chủ yếu dựa trên hồi ức giáo huấn của tổ tiên và ý kiến của những người lớn tuổi, khi xét xử vụ án thì “quan tòa” chỉ nêu ra vấn đề tranh chấp còn phán quyết được đưa ra bởi tất cả các thành viên trong công xã… Từ thế kỷ thứ 7, luật tục dân gian bắt đầu thay đổi thành luật quốc gia, nhưng sự thay đổi này chỉ mang tính hình thức, bởi vì nội dung của tất cả các bộ luật thành văn đều là các thói quen chung đã được xã hội phổ biến thừa nhận. Điều này phản ánh rõ trong “Bộ luật Alfred” của Anh được ban hành vào năm 894.

    Vào thế kỷ thứ 8, một bộ phận người Na Uy đã chạy đến Băng Đảo (Iceland) lánh nạn áp bức, tại đó họ thiết lập phong tục của tự do. Đối với họ, tự do có nghĩa là pháp trị, có quyền lựa chọn người đứng đầu, quyền cai trị và phán xử là thuộc hội đồng địa phương. Họ đã tiến bộ từ tình trạng phi pháp thành công dân hợp pháp, là một quá trình chuyển đổi gian nan, cốt yếu là thay đổi quan niệm kiểu cũ báo thù vì danh dự gia tộc trở thành quan niệm danh dự hiện đại với hòa bình, chính nghĩa và công bằng. Quá trình lịch sử thay đổi lột xác hàng thế kỷ này đã ghi lại trên Tảng Đá Pháp Luật (Lögberg, Law Rock) của Iceland. Có nhà sử học German ở thế kỷ 11 đã mô tả, “Nơi đây không có vua, chỉ có luật pháp.” Khi đó, đại đa số người Iceland chào đời trong tự do và tự do trở thành quyền tự nhiên mà mọi người tự do được hưởng. Hầu hết những người Bắc Âu được quyền sống như thế.

    5. Văn hóa pháp trị lạc hậu của Trung Quốc

    Trung Quốc là xã hội rừng rú bán khai

    Từ thời cổ đại đến nay do sự tồn tại của lý luận văn hóa huyết thống đã khiến mọi người Trung Quốc phải chấp nhận chế độ đẳng cấp tông pháp; [vai trò] cá nhân trong các mối quan hệ gồm cha chú, tôn trưởng, quan lại, hoàng đế, chỉ như nô lệ và công cụ; không có bất cứ độc lập gì; một xã hội như vậy tự nhiên không thể trở thành xã hội công dân, chỉ có thể là xã hội rừng rú gia tộc. Hơn nữa, do chế độ đẳng cấp tạo ra tình trạng mọi người chênh lệch về địa vị, khiến mọi người không được bảo vệ quyền lợi như nhau bằng luật chung, vì vậy Trung Quốc chỉ có hình luật để trừng phạt hà khắc, không có dân luật bảo vệ quyền lợi. Trong Hán ngữ cổ đại, “hình” (刑), “pháp” (法) và “luật” (律) đều có nghĩa là quy định hoặc điều lệ trừng phạt. Luật pháp của nhà Chu (1122 TCN-249 TCN) bao gồm “Lễ” và “Hình” hợp thành, trong đó “Lễ” là chính “Hình” là phụ, “Lễ không đến thứ dân, Hình không tới đại phu”; hình luật chuyên đàn áp bách tính thứ dân, chú trọng trấn áp tội gây loạn. Có thể thấy, đối tượng bảo vệ chính của hình luật là vương quyền. Vào thế kỷ thứ 10 TCN, vị vua thứ 5 của nhà Chu là Chu Mục Vương (1054 TCN – 949 TCN) đã ra lệnh cho đại thần Lữ Hầu (吕候) chế định bộ hình luật, là bộ luật dùng vào việc trừng phạt thường dân, được gọi là “Lữ hình” (吕刑). Trong “Pháp kinh” (法经) của Lý Khôi (李悝, 455 TCN – 395 TCN) thì nội dung cả sáu phần gồm Đạo, Tặc, Tù, Bổ, Tạp, Cụ (盗、贼、囚、捕、杂、具) đều là hình luật. Sau thời nhà Tần (221 TCN – 206 TCN), luật pháp của các triều đại khác nhau cũng đều dùng hình luật làm chính.

    Vì kẻ cai trị của các triều đại nhấn mạnh trọng nông khinh thương, trọng tập thể khinh cá nhân, vì thế lịch sử luật pháp Trung Quốc hầu như không có bất cứ luật thương mại hay luật dân sự nào đáng kể, thậm chí không có khái niệm công pháp hay tư pháp, ngay cả đến Luật thủ tục (procedural law) cũng dường như chỉ là con số không.

    Nhà tư tưởng của Anh là Henry James Sumner Maine (1822 – 1888) từng cho biết: Có thể biết được độ cao thấp của văn hóa một quốc gia bằng việc nhìn vào tỷ lệ giữa Dân luật và Hình luật. Nhìn chung quốc gia bán khai (mông muội) thì dân luật ít, hình luật nhiều; quốc gia tiến bộ thì dân luật nhiều, hình luật ít. Có nhà luật học Nhật Bản đã theo đó nhấn mạnh thêm rằng, Trung Quốc cổ đại chỉ có hình luật mà không có dân luật, là một quốc gia bán khai, văn hóa thấp kém.

    “Hình không tới đại phu” là nguyên tắc luật pháp của Trung Quốc cổ đại, “trẫm chính là luật pháp” là nguyên tắc luật pháp của hoàng đế Trung Quốc. Mối quan hệ giữa hoàng đế và quốc dân là mối quan hệ giữa chủ và nô lệ, như vậy còn có chút nào gọi là tinh thần pháp trị? Khi thích vương Lưu Kiến Đức (刘建德,? – 50 TCN)triều Tây Hán ra ngoài săn bắn, vì nhà dân gây cản trở đường chạy tuấn mã của ông ta mà ông ta đã ra lệnh đốt 96 ngôi nhà và giết chết hai thôn dân muốn nói lý lẽ. Tội ác kinh khủng như vậy mà Hán Tuyên Đế (汉宣帝, 91 TCN – 48 TCN) chỉ cắt bỏ của ông ta tiền thuế ruộng 8 huyện. Hoàng đế Hàm Phong (1851 – 1861) của nhà Thanh đã phát minh ra “Luật trấn áp tại chỗ”, khi bắt người giết người không cần phải báo lên, không phải nhất nhất tuân theo lệ thường, hệ quả mỗi năm ít nhất hàng ngàn người bị giết chết tùy tiện. Do bị cai tù bức hại, vào triều đại nhà Thanh số tù nhân chết trong tù mỗi năm lên tới hàng chục ngàn người.

    Nho giáo phản đối công khai pháp luật

    Hình luật nhà Chu nằm trong tay giới quý tộc cha truyền con nối và không được công bố công khai, giới quý tộc có thể tùy ý trừng phạt và tuyên án. Vào năm 536 TCN, nước Trịnh thời Tử Sản (子产,? – 522 TCN) cầmquyền đã đúc sách hình luật trên đỉnh đồng và cho công khai trước dân chúng, phá vỡ thông lệ cất giấu sách hình luật trong phủ quan, mở tiền lệ cho công khai luật lệ thành văn của Trung Quốc. Sự kiện này tương đương với thời kỳ Hy Lạp và La Mã công bố luật thành văn. Cách làm của Tử Sản đã bị các quan lại cấp cao phản đối mạnh mẽ. Thầy của Tấn Bình công (晋平公,? – 532 TCN) là Thúc Hướng (叔向,? – khoảng 528 TCN) đã viết một lá thưcho Tử Sản nhằm cố gắng ngăn chặn hành động nghiêm trọng này. Thúc Hướng đã trích dẫn câu cổ ngữ “Nước sắp vong, chính lệnh nhiều” (Quốc tương vong, tất đa chế), dựđoán “ngày kết triều đại, nhà Trịnh suy bại”! “Vì triều chính nhà Hạ rối ren mà có Vũ hình (Hình pháp vua Vũ), vì triều chính nhà Thương rối ren mới có Thang hình (Hình pháp vua Thang), triều chính nhà Chu rối ren mà có Cửu hình.” Thúc Hướng chủ trương dùng nguyên tắc hình pháp bí mật làm cho thường dân rơi vào cảnh khủng bố “hình không thể biết, uy không thể lường”, quan lại có thể tùy tiện xử lý. Một khi dân thường biết các quy định pháp luật sẽ không cúi đầu tuân phục phán xử do quan lại tùy tiện đưa ra; mọi người hiểu biết pháp luật thì sẽ căn cứ theo luật để biện luận, quan lại sẽ mất oai phong. Làm đỉnh công khai luật thành văn sẽ làm tăng tính minh bạch của pháp luật, làm cho mọi người đều biết rõ, khiến mọi người có khả năng phán xét đều có thể trở thành “quan tòa”. Đồng thời, các quy định pháp luật trở thành “thủ tục” không thể thay đổi một cách tùy tiện, làm cho việc tuyên án định tội phải theo một tiêu chuẩn công khai và thống nhất, ở mức nhất định sẽ hạn chế tình trạng bức hại tùy tiện của các quan lại đối với dân chúng. Quan niệm luật pháp hiện đại cho rằng luật không công bằng là “luật bất hợp pháp”. Nhưng Trung Quốc ngày nay vẫn còn không ít luật ngầm không được công khai cho mọi người biết, điều có liên quan đến lợi ích thiết thân của mỗi người nhưng lại không để cho mọi người biết đến, có khi gọi nó là “chính sách nội bộ” (thổ chính sách). Ví dụ như trước đây người nộp đơn xin ra nước ngoài phải tiến hành “thẩm tra chính trị”, nhưng người như thế nào không được chấp thuận cho ra nước ngoài thì vẫn giữ bí mật trước người dân.

    Khổng Tử khởi xướng “Đức chính Hình phụ”; “Lễ sáng dẫn dắt dân, luật trị kẻ ngang ngạnh”; “Với quân tử dùng tình [cảm hóa], với tiểu nhân dùng hình [uy hiếp]”, “Lễ giáo và vinh nhục dùng cho quân tử, là dùng tình lý để cai trị; gông cùm và roi vọt dùng cho tiểu nhân, là dùng hình phạt để cai trị.” Có thể thấy, luật pháp chỉ dùng đối phó với tiểu nhân (tính cách xấu hoặc địa vị thấp kém). Như thế, luật pháp giống như kẻ tiểu nhân thuộc loại không đáng coi trọng, ngay cả đại học sĩ Đông Pha (东坡, 1037 – 1101) nổi tiếng cũng viết thơ: “Đọc sách vạn quyển không đọc luật”.

    Nho giáo nỗ lực bảo vệ hệ thống Lễ trị. Vào năm 513 TCN, đại thần nước Tấn là Triệu Ưởng (赵鞅, tức Triệu Giản tử,? – 476 TCN) và Tuân Dần (荀寅,tức Trung Hàng Văn tử) khắc luật hình lên đỉnh sắt công khai thị chúng. Khổng Tử lên án việc này cho rằng: “Thứ bậc sang hèn không còn, lấy gì trị nước?” Khổng tử không có chút khái niệm gì về bình đẳng, ông ta không quan tâm gì đến bình đẳng. Do đó ông ta thù ghét việc công bố công khai luật thành văn. Đúc luật hình lên đỉnh làm cho người dân hiểu biết, hệ quả dẫn đến “hình phạt tới được đại phu”. Điều này mâu thuẫn với chế độ đẳng cấp mà Khổng Tử cổ xúy, vì vậy ông ta nhất mực chống đối. Ông ta không muốn cho nông nô có địa vị pháp luật, khi đó nông nô bị tùy tiện biếu tặng như những món đồ. Khổng Tử cho rằng: Nếu không công bố luật thành văn, người dân sẽ theo quán tính nhất nhất tuân phục, vua chúa có thể dễ dàng tùy ý thao túng dân chúng. Giờ đây nước Tấn công khai luật thành văn thì người dân sẽ noi theo luật pháp mà không tuân phục an bài của kẻ cai trị, như vậy nhất định sẽ khiến “không còn thứ bậc sang hèn”; và khi dân chúng đã biết các quy định luật pháp thì còn nói gì về chuyện “không cho họ hiểu biết”? Luật pháp và lễ giáo là vũ khí bí mật của kẻ cai trị, cũng là biểu tượng cho đặc quyền của thế lực cầm quyền, sao có thể dễ dàng làm cho bại lộ?

    Nguồn tiếng Trung: 半开化的华夏文化, Tạp chí Mùa xuân Bắc Kinh (Beijing Spring) ngày 10.11.2018.

    Nguồn: Văn hóa Nghệ An

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi