Di dân bất hợp pháp ở Hoa Kỳ (Phần 1)

  • Bởi Admin
    08/02/2019
    0 phản hồi

    Trần Thị Ngự

    Di dân bất hợp pháp hiện đang là đề tài chính trị được bàn luận rộng rãi ở Hoa Kỳ. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2016, ứng cử viên Donald Trump đề nghị xây tường dọc biên giới Hoa Kỳ – Mexico vì cho rằng Mexico đã gởi thành phần tội phạm, buôn bán ma túy, hiếp dâm đến Hoa Kỳ [1]. Việc thảo luận càng trở nên sôi nổi trước cuộc bầu cử giữa kỳ cuối năm 2018 khi tổng thống Donald Trump gọi đoàn người di dân (migrant caravan) từ Honduras hướng đến Hoa Kỳ là một cuộc xâm lăng (invasion) [2]. Việc khiêu gợi nỗi sợ hãi người di dân đã có ảnh hưởng tích cực đến nhiều cử tri, trong đó có cử tri người Mỹ gốc Việt. Nhiều người ủng hộ ông Trump và các ứng viên thuộc đảng Cộng Hòa vì cho việc “xâm lăng” của đoàn người di dân từ Honduras là không thể chấp nhận được.

    Di dân không có giấy tờ hợp pháp không phải là hiện tượng mới mẻ ở Hoa Kỳ. Hiên nay có khoảng 11 triệu người ở Hoa Kỳ không có giấy tờ hợp lệ [3]. Vậy di dân bất hợp pháp đến từ đâu, đặc tính của di dân bất hợp pháp cũng như ảnh hưởng của di dân bất hợp pháp đến xã hội Mỹ là trọng tâm của bài viết này.

    NGUỒN GỐC DI DÂN BẤT HỢP PHÁP Ở HOA KỲ

    Kể từ khi lập quốc (1776) cho đến cuối thế kỷ 19, biên giới Hoa Kỳ hoàn toàn mở rộng. Để đến Mỹ sinh sống, người ta không cần thông hành (passport) và chiếu khán nhập cảnh (visa). Cũng không có cái gọi là thẻ xanh (green card). Người ta chỉ cần có mặt ở Ellis Island (cảng New York City) đi đứng không khập khiễng, có chút tiền trong túi, và qua được cuộc sát hạch đơn giản về thông minh (IQ test) bằng ngôn ngữ tự chọn là được chấp nhận [4].

    Quyền lực của liên bang trong lãnh vực di dân đầu tiên được thể hiện qua luật loại trừ lao động Trung Quốc (Chinese Exclusion Act of 1882). Lao động từ Trung Quốc được nhập vào Hoa Kỳ từ thập niên 1840s để giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động, nhưng họ bị nguyền rủa thậm tệ trong thời kỳ kinh tế suy thoái ở thập niên 1870s [5]. Di dân Trung Quốc bị cho là đã đẩy mức lương xuống dưới mức tiêu chuẩn cũng như đã dành lấy công việc của người da trắng [6]. Các nghiệp đoàn lao động ở phía Tây nước Mỹ công khai bày tỏ sự ủng hộ việc loại trừ người Trung Quốc [7]. Dưới áp lực của quần chúng, Chinese Exclusion Act được ban hành năm 1882 để tạm ngưng lao động đến từ Trung Quốc trong 10 năm (thương gia Trung Quốc không bị cấm), không cho phép người Trung Quốc đã sống ở Mỹ nhập tịch, và qui định trục xuất người Trung Quốc vào Mỹ bất hợp pháp. Chinese Exclusion Act được tái ban hành nhiều lần và chỉ được bãi bỏ năm 1943 [8].

    Qui định toàn diện về di dân đầu tiên là Luật Di Dân 1891 (Immigration Act of 1891). Luật thiết lập Văn Phòng Di Dân (Bureau of Immigration) và qui định trục xuất trực tiếp di dân bất hợp pháp. Một năm sau, luật Geary Act 1892 ra đời để nhắm vào di dân Trung Quốc. Luật đòi hỏi tất cả lao động Trung Quốc đã ở trong nước Mỹ phải đăng ký và có hai người da trắng làm chứng về việc họ vào Hoa Kỳ hợp pháp. Nếu không đăng ký và không có người làm chứng theo luật thì sẽ bị coi là di dân bất hợp pháp và sẽ bị trục xuất [9]. Sau lao động Trung Quốc, lao động từ Nhật cũng bị cấm vào Mỹ từ 1907 theo luật Gentlemen Act. Đến năm 1917 thì tất cả người Á Châu bị cấm vào Mỹ qua luât Immigration Act of 1917 hay còn gọi là Asiatic Barred Zone Act [10].

    Ngoại trừ việc cấm người Á Châu, vốn bị coi là không thể đồng hóa về chủng tộc và văn hóa (racially and culturally unassimilable) với người da trắng, chính sách di dân ở Hoa Kỳ cho tới năm 1924 vẫn rất rộng rãi do nhu cầu lao động trong thời kỳ kỹ nghệ hóa (industrialization). Trên giấy tờ, luật di trú cấm tội phạm hình sự, người hành nghề mãi dâm, người mắc bệnh thể xác hay tâm thần (physical and mental illnesses) hay những người có khả năng trở thành gánh nặng xã hội (paupers). Thực tế thì chỉ có 1% những người có mặt ở Ellis Island bị từ chối, chủ yếu là vì lý do sức khỏe tâm thần hay thể xác [11].

    Sự hiện diện đông đảo di dân khiến những người theo chủ nghĩa dân tộc (nationalists) lên tiếng phản đối: “Họ không nói tiếng Anh. Họ không đồng hóa được (unassimilable). Họ trông đen hơn. Họ là tội phạm. Họ có bệnh tật.” [12] Trong khung cảnh đó, Quốc Hội biểu quyết luật National Origins Act năm 1924. Tổng thống Calvin Coolidge phát biểu khi ký ban hành luật National Origins Act: “Nước Mỹ vẫn phải là Mỹ” (America must remain American) [13]. Đây là lần đầu nước Mỹ đặt ra giới hạn về số người nhập cư, qui định chiếu khán nhập cảnh, và giới hạn con số nhập cảnh hàng năm không quá 150,000 người từ Âu Châu (người Á Châu tiếp tục bị cấm toàn diện). Hạn ngạch (quota) nhập cư từ các nước Âu châu được qui định căn cứ trên số người từ các nước đó sống ở Hoa Kỳ vào lúc kiểm tra dân số năm 1890. Vì kiển tra dân số năm 1890 xảy ra trước khi có làn sóng di dân từ Nam và Đông Âu, luật 1924 rõ ràng là một nỗ lực để bảo đảm đa số di dân vào Mỹ sẽ là người từ Tây và Bắc Âu, vốn đã nhập vào Mỹ với số lượng lớn từ nhiều năm trước [14]. Đến năm 1965 thì luật National Origins Act bị bãi bỏ.

    Sau khi luật National Origins Act 1924 được ban hành, số di dân bất hợp pháp gia tăng nhanh chóng. Khi số chiếu khán nhập cảnh đã đạt chỉ tiêu, những người không xin được chiếu khán tìm cách vào lén lút. Để đối phó với số lượng lớn di dân bất hợp pháp, chính phủ liên bang cho thi hành Luật Đăng Ký ban hành năm 1929 (Registry Act of 1929). Luật cho phép di dân bất hợp pháp được đăng ký với lệ phí 20 mỹ kim để trở thành thường trú nhân nếu họ chứng minh được là họ đã sống ở Mỹ từ 1921 và có hạnh kiểm tốt (good moral characters). Nhiều trăm ngàn người đăng ký và được hợp thức hoá, đại đa số là người Âu Châu [15].

    Trong khi tuyệt đại đa số di dân từ Âu Châu tìm đến vùng đông bắc Hoa Kỳ nơi diễn ra cuộc cách mạng kỹ nghệ, lao động từ Mexico cũng đã có mặt ở miền tây nam Hoa Kỳ từ đầu thế kỷ 20. Người Mexico vốn bị xem thường và bị cho là không thể đồng hóa với người da trắng. Do tình trạng thiếu hụt lao động trong thời cách mạng kỹ nghệ và trong Thế Chiến I, di dân đến từ Mexico bắt đầu khi những nhà trồng trọt và các công ty đường sắt ở Hoa Kỳ cho người vào nội địa Mexico để tuyển mộ và đưa lao động về Mỹ [16]. Đối diện với sự chống đối người Mexico của dân chúng Mỹ, các chủ nhân xử dụng lao động Mexico đã phải nghĩ ra cách giải thích. Những thành kiến tiêu cực về người Mexico, như lạc hậu, chậm lụt, dễ bị lôi kéo, vốn được dùng để loại trừ họ khỏi cộng đồng người Mỹ, nay được dùng để lý giải cho việc xử dụng lao động Mexico bằng cách lập luận rằng những cá tính đó khiến người Mexico trở thành một nguồn lao động rẻ lý tưởng [17].

    Tuy nhiên, tình hình kinh tế khó khăn trong thời kỳ Đại Suy Thoái (Great Depression) làm nổi lên làn sóng chống đối lao động Mexico. Tại những nơi có đông lao động Mexico, họ trở thành cái bung xung cho các vấn đề xã hội: họ bị coi là đã mang đến bệnh tật, tham gia tôi ác, và lấy mất công việc của người Mỹ [18]. Khi số người Mexico thất nghiệp và những người Mỹ gốc Mexico đi xin trợ cấp tại các văn phòng phúc lợi xã hội bắt đầu gia tăng, các cộng đồng ở khắp nước Mỹ bắt đầu làm áp lực đòi người Mexico trở về nguyên quán. Kết quả là nhân viên di trú liên bang đã trục xuất khoảng nửa triệu người gốc Mexico trong một chương trình gọi là “hồi hương” (repatriate) mà không qua một thủ tục trục xuất chính thức nào. Hơn một nửa những người bị trục xuất là các công dân Hoa Kỳ (gốc Mexico) [19].

    Chẳng bao lâu sau những đợt “hồi hương” lao động Mexico xảy ra trong thập niên 1930s, những nhà trồng trọt ở vùng tây nam Hoa Kỳ lại nhìn về phía Mexico như một nguồn lao động rẻ. Họ thuyết phục chính phủ Hoa Kỳ ban hành chương trình “Bracero,” một chương trình lao đông thời vụ (guest workers; temporary workers) được ký kết giữa hai chính phủ Hoa Kỳ-Mexico. Khởi đầu từ 1942 và kết thúc năm 1964, chương trình Bracero đã chính thức đưa đến Mỹ gần 5 triệu lượt lao động từ Mexico. [20]

    Mặc dù nhiều Braceros đã trở về nhà ở Mexico khi hết hợp đồng ngắn hạn, và tiếp tục quay lại Hoa Kỳ làm việc qua chương trình Bracero trong nhiều năm, một số không nhỏ đã ở lại để tham gia lao động bất hợp pháp ở Hoa Kỳ. Lao động Mexico thì luôn có sẵn, nhưng nhiều lao động không muốn phải trả tiền hối lộ để được lên danh sách từ Mexico, trong khi có những chủ nông trại ở Mỹ cũng không muốn phải trả các phí tổn chuyên chở cùng các chi phí giấy tờ khi thuê mướn lao động qua chương trình Bracero. Do đó, nhiều chủ nông trại và lao động đã hợp tác với nhau ngoài hệ thống chính thức [21].

    Để giải quyết tình trạng lao động bất hợp pháp ở các nông trại, chính phủ Hoa Kỳ cho phép hợp thức hoá lao động bất hợp pháp [legalization], cấp cho họ giấp tờ để trở thành thành viên chính thức của chương trình Bracero và đưa họ trở lại nông trại nơi họ đã bị bắt. Chủ nông trại cố tình thuê mướn lao động bất hợp pháp cũng không bị phạt. Chẳng bao lâu sau, số lao động bất hợp pháp vượt quá số lao động hợp pháp qua chương trình Bracero [22].

    Vào đầu thập niên 1960s, chương trình Bracero bị chỉ trích từ nhiều phía (nghiệp đoàn, cơ sở tôn giáo, giới nghiên cứu) vì những lạm dụng (abuse) và thiếu kiểm tra xảy ra trong quá trình thực hiện. Sau khi chương trình chấm dứt năm 1964, số lao động bất hợp pháp từ Mexico tăng lên nhanh chóng. Đồng thời với việc cắt giảm chiếu khán lao động, các qui định mới từ Bộ Lao Động, như mức lương hay giấy chứng nhận lao động làm tăng chi phí cho cả chủ nông trại lẫn người lao động, đã thúc đẩy chủ nhân cũng như người lao động đi vào con đường làm ăn chui [23].

    Hai mươi năm sau, để đối phó với số di dân bất hợp pháp ngày càng gia tăng, Quốc Hội biểu quyết luật Cải Tổ và Kiểm Soát Di Dân [Immigration Reform and Control Act 1986, gọi tắt là IRCA] được tổng thống Ronald Reagan ban hành năm 1986. Với chủ tâm ngăn chận di dân bất hợp pháp để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và bảo vệ an toàn kinh tế cho lao động trong nước, luật IRCA 1986 có hai phần chính: 1) Luật qui định việc cố tình thuê mướn lao động không hợp pháp là vi phạm luật dân sự hay có thể là tội hình sự; 2) Thực hiện chương trình ân xá (amnesty) cho những ai đã sống tại Hoa Kỳ liên tục từ 1982 hay những ai đã từng làm việc trong các nông trại tại Hoa Kỳ. Luật IRCA đã đưa đến việc hợp thức hóa (legalization) gần 3 triệu di dân, một cuộc hợp thức hoá được xem là lớn nhất lịch sử Hoa Kỳ [24].

    Sau năm 1986, số di dân bất hợp pháp giảm hẳn, nhưng lại gia tăng không lâu sau đó. Chương trình Bracero đã chấm dứt hơn hai thập kỷ trước được xem là đã gieo hạt giống cho việc di dân từ Mexico đến Hoa Kỳ. Sự hiện diện của chương trình Bracero đã giúp mở rộng kỹ nghệ trồng trọt xử dụng nhiều lao động chân tay để đáp ứng nhu cầu về rau quả ngày càng gia tăng, đồng thời tạo ra nhu cầu xử dụng lao động rẻ từ Mexico. Nhiều khu vực nông thôn ở Mexico cũng bị lệ thuộc vào tiền kiếm được từ việc làm ở Mỹ. Các mạng lưới được thiết lập nhanh chóng để kết nối các làng xã ở Mexico với công việc ở các nông trại Hoa Kỳ. Những công nhân Mỹ đối diện với sự cạnh tranh của chương trình Bracero rời bỏ thị trường lao động nông nghiệp để gia nhập thị trường lao động ngoài lãnh vực nông nghiệp, tạo ra một sự thiếu hụt lao động khiến lao động từ Mexico lại càng được xem là cần thiết [25].

    Luật IRCA 1986 đã không giải quyết được tình trạng di dân bất hợp pháp như mục đích của nó. Qui định trừng phạt chủ nhân xem ra rất khó thực hiện do việc xử dụng giấy tờ giả lan tràn trong khi nguồn lực dành cho cơ quan di trú để thi hành luật lại vô cùng giới hạn. Di dân bất hợp pháp tiếp tục gia tăng sau 1986. Mặc dù ban đầu di dân bất hợp pháp thường tập trung trong lãnh vực nông nghiệp, hiện tại họ cũng thường có mặt trong ngành xây dựng, sản xuất cấp thấp [đơn giản], dịch vụ dọn dẹp và vệ sinh, và công việc chuẩn bị thức ăn (food preparation).

    Ngày nay, lao động từ Mexico không phải là thành phần duy nhất của di dân bất hợp pháp. Thành phần di dân bất hợp pháp ở Hoa Kỳ ngày càng đa dạng, và họ đến Mỹ không phải chỉ bằng cách bước qua biên giới Mexico-Hoa Kỳ, mà còn bằng nhiều cách khác nhau.

    (Còn tiếp)

    Chú thích:

    [1] From the economy to race, see where the candidates stand on the big issues: https://www.npr.org/2016/10/18/496926243/from-the-economy-to-race-see-where-the-candidates-stand-on-the-big-issues
    [2] Trump: Migrant caravan 'is an invasion': https://thehill.com/homenews/administration/413624-trump-calls-migrant-caravan-an-invasion
    [3] 5 facts about illegal immigration in the U.S.: http://www.pewresearch.org/fact-tank/2018/11/28/5-facts-about-illegal-immigration-in-the-u-s/
    [4] Your immigrant ancestors came here legally? Are you sure?: http://www2.philly.com/philly/news/breaking/your-immigrant-ancestors-came-here-legally-are-you-sure-20170625.html
    [5] Michael Fix and Jeffrey S. Passel, Immigration and Immigrants: Setting the Record Straight (Washington, D.C: The Urban Institute, 1994).
    [6] The United States Commission on Civil Rights, The Tarnished Golden Door (Washington, DC: U.S. Commission on Civil Rights, 1980).
    [7] Arthur W. Helweg, The Immigration Act of 1917: The Asian Indian Exclusion Act. In Hyung-Chan Kim (Ed.), Asian Americans and Congress (Westport, Conn.: Greenwood Press, 1996).
    [8] Xem chú thích [5]
    [9] Hudson N. Janisch, The Chinese Exclusion Laws: Congress and the Politics of Unbridled Passion. In Hyung-Chan Kim (Ed.), Asian Americans and Congress (Westport, Conn.: Greenwood Press, 1996).
    [10] xem chú thích [5]
    [11] xem chú thích [1]
    [12] xem chú thích [1]
    [13] Open doors, slamming gates, and the tumultuous politics of US immigration policy: https://www.washingtonpost.com/politics/open-doors-slamming-gates-the-tumultuous-politics-of-us-immigration-policy/2017/01/28/b646ea48-e57a-11e6-a453-19ec4b3d09ba_story.html?noredirect=on&utm_term=.b2710cdef8a9
    [14] Xem chú thích [5]
    [15] Xem chú thích [1]
    [16] Alejandro Portes and Ruben G. Rumbaut, Immigrant America: A Portrait (Berkeley, CA: University of California Press, 1996).
    [17] David Gregory, Walls and Mirror: Mexican Americans, Mexican Immigrants, and the Politics of Ethnicity (Berkeley: University of California Press, 1995).
    [18] Xem chú thích [17]
    [19] Wayne Moquin, A Documentary History of the Mexican Americans (New York: Praeger, 1971).
    [20] Braceros: History, Compensation. Rural Migration News, 2006, vol. 12, # 2: https://migration.ucdavis.edu/rmn/more.php?id=1112
    [21] Xem chú thích [20]
    [22]. Xem chú thích [20]
    [23]. Deportation Didn't End Illegal Migration in the '50s – Legal Immigration Did: https://fee.org/articles/enforcement-didnt-end-illegal-immigration-in-the-50s-legal-immigration-did/
    [24]. Xem chú thích [20]
    [25]. Xem chú thích [20]

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi