Venezuela và bước ngoặt lịch sử ở châu Mỹ Latinh ?

  • Bởi Biên tập viên
    28/01/2019
    2 phản hồi

    Trần Công Tâm

    Cho đến nay người Việt chủ yếu nhìn sự kiện Venezuela hoặc như một ước vọng, hoặc như một mối đe dọa đáng sợ cho quyền lực và sự bình yên. Nhiều tin đồn thất thiệt, nhiều đánh giá phiến diện được tung ra. Thậm chí có người so sánh tình hình Venezuela với Việt Nam.
    Nhưng những gì đang diễn ra ở đó là kết quả của một chuyển biến lâu dài, có tác động từ những cuộc cánh mạng mang mầu sắc XHCN để xóa bỏ các thảm cảnh mà các chế độ độc tài quân sự, các chủ nghĩa tư bản đạo tặc đã đè nặng lên các dân tộc châu lục này. Cho dù trong lòng các cuộc cách mạng này cũng tiềm ẩn những yếu tố độc tài và dân túy, nhưng Nam Mỹ thế kỷ 21 đã thay đổi. Và cách thay đổi của nó đã bắt đầu nghiêng theo hướng phi bạo lực.

    Bài viết sau đây của tác giả Trần Công Tâm cho ta một cái nhìn mới.

    LỜI GIỚI THIỆU

    Có một sự thật lịch sử khá thú vị mà ít người Việt Nam để ý, là việc chính nước Mỹ đã góp phần không nhỏ vào việc hình thành phong trào cánh tả hùng mạnh một thời ở Mỹ Latin, đã từng làm rung chuyển cả thế giới.
    Người Mỹ luôn xây dựng chính sách đối ngoại của mình dựa trên 3 tiêu chí cơ bản và theo thứ tự ưu tiên như sau:
    1) Lợi ích địa chính trị chiến lược (trước hết là phòng thủ) toàn cầu.

    2) Lợi ích kinh tế thương mại.
    3) Thúc đẩy, truyền bá các giá trị phổ quát về tự do dân chủ và nhân quyền.

    Đó là một hệ những gía trị phổ quát được người Mỹ thừa nhận: tự do cá nhân, chế độ dân chủ, kinh tế thị trường, thượng tôn pháp luật, tôn trọng tín ngưỡng tôn giáo, đa văn hóa, bình đẳng chủng tộc, sắc tộc … Và được cụ thể hóa đầy đủ trong Hiến Pháp Mỹ. được nhà triết học Mỹ quá cố Samuel Huntington diễn tả bằng thuật ngữ “American Creed” (tín điều Mỹ).

    Người Mỹ cũng coi đó là những giá trị nền tảng để xây dựng trật tự quốc tế sau 1945. Vì những giá trị này, Mỹ sẵn sàng làm sen đầm (người giữ trật tự) quốc tế. Đó cũng là điều làm họ khác với Tây Âu chẳng hạn. Trong sứ mệnh này, họ đã chuốc lấy không ít thất bại. Nhưng nhìn chung, thành công nhiều hơn. Thực tế, sau 1945, trên thế giới dần hình thành một thế giới thịnh vượng chung lấy tự do thương mại làm nền tảng và ngày càng phát triển. Trong tiến trình chung này của nhân loại, đóng góp của Mỹ là không thể phủ nhận.

    Sau khi thắng Đức và Nhật trong Thế Chiến II năm 1945, người Mỹ đã tìm cách “thâu tóm” Tây Âu bằng kế hoạch Marshall. Sau đó, bằng việc thành lập NATO, cùng với Tây Âu, Mỹ đã cô lập và ngăn chặn Liên Xô thành công. Người Mỹ đã “rảnh tay” và tìm cách thúc đẩy các mục 2) và 3) trong bàn cờ chiến lược của mình. Xuất phát từ lòng tin tuyệt đối vào các giá trị dân chủ nhân quyền và kinh tế thị trường. Mỹ đã tìm mọi cách ”xuất khẩu’’ mô hình thể chế của họ đi khắp thế giới. Trước hết là sang Phillipines và vào các nước Mỹ Latin "sân sau".

    Đối với các nước này, người Mỹ đã thi hành một chính sách có phần áp đặt. Họ đã “lắp ghép” khá thô bạo mô hình dân chủ Mỹ, lên nền tảng những xã hội mà truyền thống quốc gia còn sơ sài (Phillipines), hoặc thiếu truyền thống liên kết xã hội (truyền thống phe nhóm mạnh mẽ) như ở các nước Mỹ Latin.

    Kết quả là ở Mỹ Latin đã hình thành hàng loạt các chế độ tư bản thân hữu (crony capitalism) và đạo tặc (kleptocracy), đan xen với các chế độ độc tài quân sự ở những nước này. Về phương diện sự can thiệp của quân đội vào đời sống chính trị đất nước, đảo chính và độc tài quân sự, các nước Mỹ Latin đứng đầu thế giới hơn cả Châu Phi.

    PHONG TRÀO CÁNH TẢ CHÂU MỸ LATIN

    Trong tác phầm “Nhật ký du hành”, được viết nhân chuyến đi vòng quanh Nam Mỹ, bằng motocycle của mình tháng 12/1951. Ông Che Guevara đã mô tả rất sinh động cuộc sống cùng khổ của người dân Mỹ Latin lúc đó - nạn nhân của những chế độ như vậy. Cuộc hành trình đã hình thành ở Che Guevara lòng thương cảm sâu sắc những con người nghèo khổ, và tinh thần chống đế quốc mãnh liệt.

    Lực lượng cánh tả trẻ ở các nước Mỹ Latin, đại diện là các ông Che Guevara và Fidel Castro phủ nhận hoàn toàn những mô hình xã hội Nam Mỹ lúc đó. Đồng thời họ cũng lên án mạnh mẽ vai trò của kẻ áp đặt – nước Mỹ ngạo mạn. Có thể nói đó là một phản ứng tất yếu. Và thật là buồn cho nước Mỹ, từ giữa thế kỷ 20, tinh thần xã hội dân chủ và tư tưởng XHCN, ở các nước Mỹ Latin trở nên phổ biến chưa từng có, phần nào chính là nhờ sự “sốt sắng quá mức” của Mỹ trong việc áp đặt các giá trị phổ quát về tự do dân chủ và nhân quyền.

    Bằng lực lượng của chính mình 01/1959, sau khi tiến hành khởi nghĩa vũ trang lật đổ thành công chế độ độc tài Batista ở Cuba. Fidel Castro, Che Guevara và các đồng chí, đã tự nguyện chọn con đường xây dựng XHCN. Nhưng không phải ngay lập tức, mà sau một thời gian tìm hiểu mô hình Liên Xô. Đây là điều hoàn toàn khác, so với các nước Đông Âu. Nơi trừ Nam Tư (Jugoslavia), tất cả các chế độ XHCN, đều được hình thành dưới sự “hưởng dẫn, chỉ đạo, bảo kê” toàn diện và triệt để của Liên Xô.

    Liên Xô và phe XHCN trở thành chỗ dựa vững chắc về tinh thần và vật chất cho Cuba. Còn Cuba thì đã trở thành tiền đồn và tủ kính của phe XHCN ở châu Mỹ Latin. Ông Fidel và các cộng sự với tinh thần lãng mạn cách mạng và nhiệt huyết hiếm có, đã cố gằng xây dựng một xã hội XHCN thuần nhất, lý tưởng. Người Cuba đã tỏ ra “bảo hoàng hơn nhà vua”, khi cố gắng loại bỏ hoàn toàn kinh tế tư nhân và tạo ra chế độ phúc lợi xã hội, có phần còn toàn diện hơn Liên Xô và Đông Âu. Đặc biệt là hơn hẳn các nước các nước XHCN châu Á về phương diện này.

    Vốn có một nền tảng khá cao từ trước 1959 về y tế giáo dục và mức sống nói chung, Cuba XHCN đã đạt được những kết quả rất đáng kể trong các lĩnh vực y tế, giáo dục phổ cập và thể thao, bao gồm hệ thống y tế và giáo dục toàn dân miễn phí, và những thành tựu ấn tượng. Chẳng hạn, người Cuba hiện nay có tuổi TB là 79.6, cao hơn Mỹ và ở Châu Mỹ chỉ thua Canada. Cũng năm 2017, Cuba có tỷ lệ một bác sỹ/150 dân cao hơn Mỹ và tỷ lệ tử vong sơ sinh là 0.4% thấp hơn so với Mỹ.

    Tuy nhiên, do áp dụng máy móc mô hình kinh tế kế hoạch chỉ huy XHCN, ông Fidel và các cộng sự đã thất bại trong việc nâng cao mức sống nói chung của người dân Cuba. Cũng như lan tỏa mô hình Cuba sang các nước Nam Mỹ. Việc Mỹ kiên định cấm vận, là một yếu tố quan trọng kìm hãm sự phát triển kinh tế Cuba.

    Nhưng dù thế nào, sự kiên định XHCN của Cuba là một đối trọng, một đối chứng rất mạnh đã góp phần truyền cảm hứng cho cho việc phát triển phong trào cánh tả ở Nam Mỹ. Ban đầu, phong trào cánh tả các nước này được cổ vũ bới tấm gương Cuba, được Cuba và Liên Xô khuyến khích bảo trợ trực tiếp, đã tiến hành đấu tranh vũ tranh để lật đổ các chế độ tư bản thân hữu, các chế độ độc tài quân sự ở các nước Mỹ Latin.

    Phong trào du kích cánh tả đã từng xuất hiện ở hầu hết các nước Mỹ Latin. Kể cả ở những nước có truyền thống dân chủ đại nghị tương đối mạnh như Uruguay, Argientina và Venezuela. Phong trào này phát triển đặc biệt mạnh ở một số nước Mỹ Latin chậm phát triển như Bolivia, Nicaragua, El Salvador … Che Guevara người du kích anh hùng đã trở thành biểu tượng của đấu tranh chống áp bức và chủ nghĩa tư bản ở Mỹ Latin và trên toàn thế giới. Ngoài Cuba, những người du kích cánh tả bằng đấu tranh vũ trang đã giành được chính quyền tại Nicaragua.

    Tuy nhiên, từ cuối thập niên 1990, phong trào này dần suy thoái. Lý do chủ yếu, là giới tinh hoa chính trị ở một số nước Mỹ Latin đã bắt buộc phải tìm mọi cách thỏa hiệp với các nhóm đối lập vũ trang đủ mọi mầu sắc (du kích cánh tả, lực lượng vũ trang của các cartel sản xuất cocain, … ) thường xuyên đe dọa sự phát triển khởi sắc công nghiệp, kinh tế ở một loạt các nước Mỹ Latin. Giới tinh hoa chính trị Mỹ Latin đã đến được nhận thức, rằng trong khi mải “nội chiến”, về mặt phát triển kinh tế họ không chỉ bị Châu Âu, mà cả các nước Đông Á và Đông Nam Á “lạc hậu” bỏ xa.

    Trong cuộc “ vừa hợp tác vừa đấu tranh” với phe đối lập vũ trang này, chính phủ các nước Mỹ Latin đã nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ của Phương Tây. Trường hợp Columbia là một điển hình. Từng là một nước bị xâu xé bởi xung đột vũ trang đẫm máu giữa chính phủ với du kích cánh tả, với các lực lượng vũ trang của các cartel sản xuất cocain …. Hiện nay, Columbia đã trở thành một nước khá ổn định và phát triển bền vững có tăng trưởng du lịch ấn tượng.

    Ngoài ra, sau khi Liên Xô sụp đổ cuối 1992, Cuba và Nicaragua những nước có mô hình kinh tế XHCN gặp rất nhiều khó khăn, sự bảo trợ của Cuba đối với các phong trào du kích cánh tả đã giảm đi đáng kể. Tất cả những yếu tố trên, là tiền đề cho sự hình thành trong giới tinh hoa chính trị Mỹ Latin một đồng thuận mới. Bầu cử tự do và cạnh tranh công bằng, được giới chính trị tinh hoa ở hầu hết các nước Mỹ Latin coi là cách thức hợp hiến duy nhất để chuyển giao chính quyền.

    Tinh thần hợp hiến đã làm cho nền chính trị dân sự khởi sắc mạnh mẽ ở tất cả các nước Mỹ Latin, quân đội phải lui vào hậu trường, nhường chỗ cho các nhà chính trị dân sự cả hai phe tả, hữu. Trong khoảng thời gian 1998-2009 tại 14 nước Nam Mỹ các lực lượng cánh tả đã lên nắm chính quyền thông qua bầu cử hợp hiến: Venezuela (ba lần), Brasil, Chile, Argientina (hai lần) và Uruguay, Bolivia, Equador, Nicaragua, Peru, Costa Rica, Panama, Guatemala, Paraguay, El Salvador.

    Đây là một sự phục hưng và trỗi dậy chưa từng có của phong trào cánh tả hợp pháp trong lịch sử Mỹ Latin. Một nền tảng vô cùng quan trọng cho việc hình thành các chế độ dân chủ lành mạnh ở Nam Mỹ. Trên thực tế, đã có một số nước Mỹ Latin như Costa Rica, Chile, và Uruguay trở thành các chế độ dân chủ tự do toàn diện và các quốc gia phát triển bền vững. Nhiều nước khác như Brasil, Argentina, Peru, Paraguay … đang tiệm cận với những mức độ khác nhau.

    BƯỚC NGOẶT LỊCH SỬ CỦA VENEZUELA VÀ MỸ LATIN?

    Tôi xin phép không nhắc lại những gì đã xảy ra ở Venezuela sau khi Hugo Chaves lên nắm chính quyền năm 1998. Đường lối kinh tế phi thị trường và chủ nghĩa dân túy XHCN của ông và người kế nhiệm Nicolas Marudo đã đưa kinh tế và đất nước Venezuela đến thảm họa.

    Tôi cũng xin phép không nhắc lại những diễn biến ở Venezuela trong thời gian qua, từ ngày 22/01/2019, khi ông Juan Guaydo Chủ tịch Quốc hội tự tuyên bố mình là tổng thống lâm thời cho đến trước cuộc bầu cử tổng thống mới, cho đến hôm nay. Vì những sự kiện vừa qua đã được truyền thông thế giới loan báo rộng rãi.

    Ngày 27/01/2019, các nước Pháp, Tây Ban Nha và Đức tuyên bố rằng họ sẽ công nhận tổng thống tạm quyền-lãnh tụ phe đối lập, Juan Guaydo, là tổng thống mới của Venezuela, nếu nhà độc tài Nicolas Maduro trong vòng 8 ngày không tuyên bố tổ chức bầu cử tổng thống trước hạn.

    Theo tin tức cuối cùng của Hãng Thông tấn AP, Chính phủ Venezuela của ông Maduro bác bỏ yêu cầu của các nước châu Âu về tiến hành bầu cử tổng thống mới ở nước này. Tương lai nào cho cuộc xung đột quyền lực và chính trị? Rất ít nhà nghiên cứu chính trị dám đưa ra một kịch bản-dự đoán cụ thể. Điều này phụ thuộc rất nhiều vào thái độ của quân đội Venezuela, hiện đang phân hóa từng ngày giờ dưới áp lực từ mọi phía.

    Trong 20 năm vừa qua, các nước Mỹ Latin đã tiến được một bước rất dài, trong việc loại bỏ được sự can thiệp của quân đội vào đời sống chính trị xã hội quốc gia. Hiện nay, ở nhiều quốc gia Mỹ Latin như Costa Rica, Chile, Uruguay, Colombia, Argientina, Peru, Brasil và kể cả Venezuela, tâm thức dân chủ dân chủ đã hình thành vững chắc, bầu cử được giới tinh hoa chính trị coi là cơ chế hợp pháp duy nhất để chuyển giao quyền lực và vai trò chủ động trong chính trị của lực lượng quân đội cũng chấm dứt.

    Đồng thời, giới tinh hoa chính trị ở các quốc gia này cũng đã nhận thức được sâu sắc, rằng cách duy nhất có thể ngăn ngừa hiệu quả việc giới quân sự can thiệp vào chính trị là xây dựng một nền dân chủ hữu hiệu. Có thể nói rằng, quân đội tại các quốc gia này hiện cũng chỉ đóng vai trò chính trị lớn hơn hẳn, so với các nước Phương Tây (hoàn toàn đứng ngoài chính trị). Đó là đứng phía sau hậu trường, vận dụng cẩn trọng quyền phủ quyết và khi cần trở thành trọng tài phân xử cho các xung đột chính trị.

    Vì vậy, theo tôi kịch bản khả dĩ nhất, và mong muốn nhất để tránh đổ máu và loại trừ sự can thiệp của quân đội,vì sự can thiệp này có thể tạo ra một tiền lệ rất xấu (bước thụt lùi) cho tương lai chính trị không chỉ Venezuela, mà còn của toàn bộ Mỹ Latin, là hai tổng thống Juan Guaydo và Nicolas Maduro phải đàm phán tìm sự thỏa hiệp và những cam kết bảo đảm an ninh lẫn nhau, cho dân thường và quân đội. Tôi cũng tin rằng, các bên hữu quan như Mỹ, Nga, EU, các nước Mỹ Latin và China đều quan tâm đến điều này.

    Trường hợp thỏa hiệp thành công, bầu cử mới được tiến hành dưới sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quốc tế. Và nếu Juan Guaydo thắng cử (bao nhiêu chữ nếu). Rất có thể Venezuela và Mỹ Latin bước vào trang sử mới.

    PS. Cũng cần nói thêm rằng, văn hóa Mỹ Latin thiếu hẳn các giá trị vốn chi phối ở Đông Á và Đông Nam Á, như kỉ luật xã hội hay sự tôn trọng tôn ti trật tự, quyền uy và lãnh đạo. Trên thực tế, các quốc gia trong khu vực này thiếu hẳn truyền thống liên kết, gắn bó xã hội và tinh thần đoàn kết quốc gia (đối với các quốc gia thuộc dãy Andes và Trung Mỹ thì các yếu tố sắc tộc chiếm vai trò tối thượng).

    Và cũng hoàn toàn khác với văn hóa Bắc Mỹ, nơi người di dân mang theo tinh thần thượng tôn pháp luật, tinh thần Hiến chương Magna Carta, tinh thần mã thượng và đạo đức Tin Lành từ Châu Âu (Anh) sang Bắc Mỹ

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Trích dẫn:
    Vì vậy, theo tôi kịch bản khả dĩ nhất, và mong muốn nhất để tránh đổ máu và loại trừ sự can thiệp của quân đội,vì sự can thiệp này có thể tạo ra một tiền lệ rất xấu (bước thụt lùi) cho tương lai chính trị không chỉ Venezuela, mà còn của toàn bộ Mỹ Latin, là hai tổng thống Juan Guaydo và Nicolas Maduro phải đàm phán tìm sự thỏa hiệp và những cam kết bảo đảm an ninh lẫn nhau, cho dân thường và quân đội. Tôi cũng tin rằng, các bên hữu quan như Mỹ, Nga, EU, các nước Mỹ Latin và China đều quan tâm đến điều này.

    Tôi không tin kịch bản trên là "khả dĩ nhất". Một kịch bản khác là quân đội sẽ bỏ rơi Maduro và ủng hộ Guaido tổ chức bầu cử chọn tổng thống mới; hướng này cũng tránh đổ máu. Vài lý do từ các nhận xét sau:
    - Maduro từ chối tổ chức bầu cử (dù nhiều nưóc Châu Âu gây áp lực)
    - Guaido từ chối thương thảo với Maduro
    - Tinh thấn những người biểu tình ủng hộ Guaido tỏ ra rất phấn kích, emotional. Nếu Guiado theo đường thoả hiệp e rằng họ sẽ bất mãn và chiều hướng có nguy cơ bị thay đổi.
    - Từ khi khủng hoảng bắt đầu, quân đội đã không bắn một phát súng, dĩ nhiên là vì họ lo ngại hậu quả xấu, chứ không thì họ đã phủ đầu chặn trước làn sóng đang dâng. LHQ và nhiều nước khác cũng đã lên tiểng cảnh báo hậu quả của đàn áp vũ trang.
    - Và sau cùng là các món nợ đáng tởm mà giới quân sự có dính phần. Vả lại Guaido phát biểu rằng ân xá là có thể nếu họ hợp tác đem lại dân chủ cho đất nước.

    https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/EconomicForum/venezuelan-odious-debts-01292019074003.html

    Venezuela và những món nợ đáng tởm

    Nguyễn Xuân Nghĩa 2019-01-29

    Khi chế độ độc tài vay tiền ngoại bang để mua sợi dây treo cổ người dân rồi bắt nạn nhân rồi con cháu họ phải trả nợ thì điều ấy có công bằng không? Đấy là cách đặt vấn đề sau khi chúng ta hiểu ra bối cảnh của chuyện Venezuela….

    Khủng hoảng tại Venezuela

    Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin kính chào kinh tế gia Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, kể từ đầu năm 2014, xứ Venezuela tại Nam Mỹ lâm vào một vụ khủng hoảng kinh tế chưa từng thấy ở bất cứ nơi nào, với Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF dự đoán năm ngoái là lạm phát lên tới 10 triệu phần trăm và người dân đói ăn phải moi thùng rác tìm lương thực khi bạo lực và tham nhũng hoành hành khắp nơi. Nhưng từ mươi ngày qua, cuộc khủng hoảng lên tới chính trị, khi Chủ tịch Hạ viện được bầu lên từ đầu năm 2015 đã căn cứ trên Hiến pháp mà tuyên bố là tạm xử lý trách nhiệm của tổng thống, trong khi ông Nicolás Maduro vẫn giữ vai trò Tổng thống sau một cuộc bầu cử được đa số cho là có gian lận. Lập tức, vào tuần trước, Chính quyền Hoa Kỳ cùng nhiều nước dân chủ đã công nhận Chủ tịch Hạ viện Juan Guiando là Quyền Tổng Thống, trong khi Liên bang Nga và Trung Quốc và vài xứ khác vẫn cố bênh vực chế độ Maduro. Ngày Thứ Hai 28 vừa qua, Chính quyền Mỹ tăng áp lực và phong tỏa nguồn giao dịch của tập đoàn dầu khí quốc doanh có tên tắt là PDVSA và chi nhánh Mỹ của doanh nghiệp này là công ty Citgo tại Houston. Tình hình Venezuela có thể biến chuyển nhưng câu hỏi được người ta nêu lên là sau này ai sẽ thanh toán các món nợ của chế độ độc tài Venezuela?

    Chế độ độc tài vay tiền ngoại bang để mua sợi dây treo cổ người dân rồi bắt nạn nhân và con cháu họ phải trả nợ thì điều ấy có công bằng không?
    -Nguyễn Xuân Nghĩa

    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trước hết, về bối cảnh thì Venezuela có lắm tài nguyên tại Mỹ Châu La Tinh, với trữ lượng dầu hỏa cao nhất thế giới, chiếm tới 95% số xuất khẩu, đa số là bán vào thị trường Mỹ. Nhưng xứ này chưa có cơ chế dân chủ trừ 40 năm ngắn ngủi từ 1959 tới 1999. Từ năm đó, sau khi ông Hugo Chavez nắm quyền và tiến hành cách mạng cộng sản thì Venezuela tụt hậu và sau khi Chavez mắc bệnh và tạ thế năm 2013 thì xứ này tụt dốc. Ngày nay, tổng sản lượng toàn năm của hơn 30 triệu dân chưa tới 100 tỷ đô la, lợi tức bình quân một người sụt hai phần ba, chỉ còn chừng ba ngàn đô la và 87% dân chúng sống dưới mức bần cùng, đói ăn thiếu thuốc và thực sự sống trong cảnh địa ngục trần gian.
    - Chúng ta không có thời lượng để nói về nguyên nhân của thảm kịch, trừ sự kiện là chế độ Hugo Chavez rồi Nicolás Maduro đã lấy tài nguyên trời cho để chia cho tay chân, kể cả bộ máy an ninh và quân đội sau khi quốc hữu hóa ngành dầu khí. Ngày nay, Venezuela đang mắc nợ có thể hơn 150 tỷ đô la và khó dùng dầu khí trả nợ cho các xứ độc tài đã bảo vệ mình, như Nga và Trung Quốc.

    Những món nợ đáng tởm

    Nguyên Lam: Nguyên Lam xin đi ngay vào các món nợ đó mà người dân xứ này sẽ phải thanh toán trong tương lai, thí dụ như dưới dạng dầu khí hay bằng cách nào khác. Chế độ độc tài đã tàn phá kinh tế và xã hội, thưa ông, khi nền dân chủ tái xuất hiện sau này, thì ai sẽ thanh toán những món nợ đó?
    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta lại phải trở về một bối cảnh còn xa xưa hơn nữa và nói đến “những món nợ đáng tởm”.
    - Lần đầu tiên mà vấn đề được đặt ra rồi trở thành án lệ là tiền lệ pháp lý làm cơ sở cho các phán quyết về sau, do giáo sư luật khoa Alexander Nahum Sack tại Paris vào năm 1927, cách nay hơn 90 năm. Là Tổng trưởng của chế độ Sa hoàng Nga, ông Sack lưu vong tại Pháp sau cuộc cách mạng cộng sản năm 1917, và trở thành giáo sư. Khi chính quyền Xô Viết thẳng tay phủ nhận mọi khoản nợ của chế độ Sa hoàng, ông nghiên cứu chuyện nợ nần sau mỗi lần thay đổi chế độ và thấy nhiều khoản nợ chính đáng mà chế độ sau không thể xoá bỏ và thoái thác. Nhưng cũng có những khoản nợ không chính đáng mà chế độ mới có thể nhân danh quyền lợi người dân để chối bỏ. Từ "dettes odieuses" do Alexander Sack đặt ra là tiếng Pháp, sau này mới được dịch qua Anh ngữ là "odious debts".
    - Chuyện này sở dĩ trở thành án lệ vì xảy ra nhiều lần tại Âu Châu và nơi khác sau khi chế độ thực dân cáo chung, nhiều quốc gia giành lại độc lập rồi gặp nạn độc tài quân phiệt, phát xít, cộng sản, và chuyển sang dân chủ. Khi có thay đổi chế độ trên một lãnh thổ thì phải xử lý thế nào về khoản nợ cũ để khỏi gây khủng hoảng dây chuyền trong luồng giao dịch quốc tế với nhau? Về nguyên tắc, chế độ mới phải tôn trọng các cam kết vay mượn của chế độ cũ thì mới có thể nói chuyện giao dịch bình thường. Trong thực tế, giáo sư Sack cho rằng các khoản nợ không thật sự phục vụ người dân thì phải được coi là bất chính và đáng tởm.

    Chủ tịch Quốc hội Venezuela Juan Guaido và Tổng thống Nicolas Maduro.

    Chủ tịch Quốc hội Venezuela Juan Guaido và Tổng thống Nicolas Maduro.

    AFP



    Nguyên Lam: Ông nói tới chuyện xa xưa, liệu ngày nay còn xứ nào công nhận chuyện ấy không?
    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thật ra giáo sư luật khoa gốc Nga này không phát minh ra lý luận đó mà chỉ áp dụng những trường hợp xảy ra từ trước, vào cuối thế kỷ 19 tại Nam Mỹ và đầu thế kỷ 20 tại Âu Châu, chủ yếu là do tác động của Hoa Kỳ rồi các nước khác.
    - Số là sau cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Đế quốc Tây Ban Nha, thuộc địa Cuba của Tây Ban Nha được giải phóng. Nhân danh quyền lợi của dân Cuba, Hoa Kỳ vận động việc chối bỏ các khoản nợ mà Hoàng đế Maximilan của Tây Ban Nha đã vay các nước Anh, Pháp, Bỉ để củng cố chính quyền tại Cuba và tài trợ nhu cầu chiến tranh của Tây Ban Nha. Vì vậy, sau Hòa ước Paris năm 1898, Tây Ban Nha đành xác nhận rằng trước năm 1860 đã lấy tài nguyên của Cuba để yểm trợ chiến tranh ở Âu Châu và từ 1861 đến 1880 thì chính quyền của họ tại Cuba đã đi vay để bành trướng ảnh hưởng qua Mexico và nơi khác. Sau năm 1880 lại còn vay thêm để trả nợ cũ và để bảo vệ quyền lực của họ tại Cuba. Vì vậy, Hoa Kỳ và Cuba chẳng trả một đồng dù các chủ nợ tại Âu Châu có phàn nàn và phản đối!
    Nguyên Lam: Câu chuyện này thật ly kỳ vì dẫn ta về xứ Cuba, một xứ cộng sản đang cố bảo vệ chế độ Maduro của Venezuela. Xin đề nghị ông giải thích tiếp!
    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Phải nói là án lệ tại Cuba từ sau cuộc chiến Hoa Kỳ với Tây Ban Nha vào cuối thế kỷ 19 còn tái diễn tại Âu Châu sau Thế chiến I: Thỏa ước Versailles kết thúc Đại chiến năm 1919 có khoản quy định là Ba Lan không phải trả các khoản nợ do Đức-Phổ vay mượn để chiếm đóng xứ này!
    - Sau đó, trong vai trò tài phán cuộc tranh tụng về món nợ của chế độ độc tài Frederico Tinoco tại Costa Rica với ngân hàng Royal Bank of Canada, Chủ tịch Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ (cũng là cựu Tổng thống Mỹ), Howard Taft cũng ra phán quyết tương tự: ngân hàng chủ nợ đã biết mục tiêu đi vay của chính quyền Tinoco là bất chính nên chế độ mới có quyền phủ nhận món nợ này. Bối cảnh ấy cho thấy các "món nợ đáng tởm" đã được quốc tế chú ý từ lâu, và trở thành một nền tảng của công pháp quốc tế trong quan hệ tài chánh giữa các quốc gia.
    Nguyên Lam: Chúng ta đã qua Thế kỷ 21, thưa ông, trong thế kỷ 20, người ta có những vụ kiện nào về các khoản nợ không chính đáng đó không?
    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Trong Thế kỷ 20, các nước đã có ba chục vụ kiện liên quan đến các khoản nợ đó, nổi tiếng và gần gũi nhất là vụ Hoa Kỳ tranh cãi cho chính quyền mới tại Iraq để phủ nhận mấy trăm tỷ đô la mà chế độ Saddam Hussein đã vay các nước khác, kể cả các nước Âu Châu, để bảo vệ quyền lực và đàn áp người dân!

    Giới chuyên gia về luật pháp và tài chánh có thể nghiên cứu và chuẩn bị để sau này dân Venezuela khỏi trả nợ oan uổng cho một chế độ đáng ghê tởm! Và bài học sắp tới của Venezuela cũng là điều mà người Việt mình nên suy ngẫm cho tương lai
    -Nguyễn Xuân Nghĩa

    - Đáng nói hơn thế, trên chính trường và trong doanh trường của các nước, cả hai xu hướng thiên tả và bảo thủ đều có lúc ủng hộ việc vận động ấy. Mục tiêu thật ra rất đa dạng: nhằm xoá nợ cho các nước nghèo - như quan điểm của Giáo hội Vatican với“chương trình “Jubilee 2000” – hoặc hỗ trợ các chế độ dân chủ mới thành hình, ngăn cản hiện tượng vay tiền để tài trợ khủng bố, giải trừ nạn tham ô của các tổ chức quốc tế khi nhắm mắt trước các nghiệp vụ tài trợ bất chính, v.v... Mỗi xu hướng lại quan tâm đến một khía cạnh và hiểu ra sự nhạy cảm của họ là tìm ra cách vận động hữu hiệu trong một hệ thống luật lệ phức tạp.

    Bài học cho Việt Nam

    Nguyên Lam: Chúng ta trở lại chuyện Venezuela, thưa ông, trong tương lai thì tình hình của các khoản nợ này sẽ xoay chuyển ra sao?
    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Các lực lượng đấu tranh cho dân chủ tại Venezuela học kinh nghiệm thất bại của họ từ những năm 2002 là phân tán, thiếu phối hợp và không xuống tới quần chúng nên lần này đã có nhiều cuộc tiếp xúc với dân chúng từ dưới cơ sở và vận động quốc tế khiến cuộc khủng hoảng kéo dài từ năm năm có thể sẽ có kết quả. Khi để mất lòng dân, chế độ Maduro biến chất ra ách độc tài và bị lân bang kết án nên sẽ khó tồn tại, nhất là khi binh lính trong quân đội cũng là nạn nhân của tình trạng đói khổ. Từ những bài học đó, những người lãnh đạo Venezuela sau này cũng nghĩ đến gánh nợ sẽ phải trả cho chế độ tiền nhiệm.
    - Tôi nghĩ hoạt động quốc tế vận của họ sẽ giải thích và thương thảo rằng việc trừng phạt của các nước cần nhắm vào tay chân của chế độ cũ chứ không thể làm người dân là nạn nhân của việc phong tỏa kinh tế. Sau đó là nêu câu hỏi then chốt, rằng khi chế độ độc tài vay tiền ngoại bang để mua sợi dây treo cổ người dân rồi bắt nạn nhân và con cháu họ phải trả nợ thì điều ấy có công bằng không?
    Nguyên Lam: Nhưng chủ nợ của Venezuela là các cường quốc độc tài hay các ngân hàng quốc tế có dễ gì xóa nợ hay bị mất vốn hay không?
    Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Thế giới đã nghiên cứu và nâng trình độ pháp lý tinh vi để khai triển thành một học thuyết có cơ sở khai thông các vấn đề tài chánh khi một chế độ độc tài chuyển sang một chế độ dân chủ. Chuyện quan trọng ở đây gồm có ba điều kiện đã được quốc tế công nhận. Thứ nhất khoản nợ xuất phát từ một chế độ độc tài đã cam kết bí mật, ngoài sự hiểu biết của người dân. Thứ hai, khoản vay mượn không đem lợi ích cho người dân mà chỉ tập trung vào tay chân của chế độ. Thứ ba, các chủ nợ đều có biết khi thương thuyết mà vẫn cho chế độ vay tiền. Rất nhiều khoản nợ của Venezuela đã hội đủ ba điều kiện ấy nên trong một tương lai không xa, giới chuyên gia về luật pháp và tài chánh có thể nghiên cứu và chuẩn bị để sau này dân Venezuela khỏi trả nợ oan uổng cho một chế độ đáng ghê tởm! Và bài học sắp tới của Venezuela cũng là điều mà người Việt mình nên suy ngẫm cho tương lai…
    Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin cảm tạ chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa về bài phỏng vấn kỳ này.