Văn học cuối tuần - Truyện ngắn bốn người (2)

  • Bởi Biên tập viên
    13/01/2019
    0 phản hồi

    Trương Công Dũng

    (Tiếp theo)

    3

    Tôi nhận ra em ngay từ khi mới bước lên xe. Tôi chỉ thoáng thấy khuôn mặt em một lần trước khi em quay nhìn ra cửa sổ. Tôi không thể nhầm lẫn được. Đó chính là em, niềm vui đầu tiên của đời tôi.

    Tôi ngồi xuống ghế ngay sát bên em. Gió thổi những sợi tóc em bay vương trên vai tôi. Ôi những sợi tóc mới thân thiết làm sao! Đó là những sợi tóc, nhưng còn có một cái gì cũng mềm mại và mỏng manh như thế vừa bay ngang trái tim tôi, khiến tôi chìm trong nỗi bồi hồi xao xuyến.

    Có phải số phận đã tình cờ đem đến cho tôi dịp may này không? Nếu như sau đợt công tác ở Hà Nội tôi không cảm thấy mệt mỏi vì những buổi thuyết trình khoa học căng thẳng, nếu tôi không chợt nảy ra cái ý muốn nghỉ ngơi độc đáo bằng cách trả lại vé máy bay khứ hồi về Thành phố Hồ Chí Minh, đi chuyền bằng xe đò từ tỉnh này sang tỉnh khác để được ngắm nhìn phong cảnh nước non và nghiền ngẫm đôi chút sự đời, thì làm sao tôi có thể đuợc gặp lại em trong ngày hôm nay, làm sao được ngồi sát bên em, lắng nghe từng nhịp thở của em, được gần em trong một sự xa cách vô tận.

    Phải chi trong buổi chia ta năm nào em không tình cờ nắm lấy tay tôi, truyền những hơi ấm rạo rực để đánh thức trong tôi những rung động đầu đời. Phải chi em đừng nói rằng sẽ chờ đến ngày chúng ta gặp lại nhau. Phải chi trong đời tôi chưa hề có em.

    Em là niềm vui to lơn nhất của tôi trong suốt mấy năm chiến tranh. Bao nhiêu vất vả cực nhọc, bao nhiêu mất mát đau thương ở chiến trường đều dịu đi mỗi khi tôi đến thăm em. Hình ảnh của em luôn ở bên tôi, lúc xung trận, lúc nghĩ ngơi, và cả trong giấc ngủ nữa. Tôi mơ ước đến một ngày nào đó sẽ mãi mãi được chung sống cùng em, được chăm sóc em, được chia sẻ những niềm vui và nỗi buồn của đời em.

    Ngay sau khi về trường đại học, tôi đã viết thư cho em. Nhiều bức thư lần lượt gửi đi nhưng không hề có được một hồi âm. Tôi vẫn biết thư từ gửi đến tiền phương thường bị thất lạc. Nhưng lẽ nào không có một bức thư đến được tay em.

    Đến khi được người bạn cùng đơn vị cũ báo tin em đã kết hôn với chính ủy trung đoàn, tôi mới hiểu ra. Tôi không trách ai hết. Tôi chỉ tự trách mình. Tôi ân hận vì đã không có lấy một lần dũng cảm để thổ lộ tình yêu với em, trước khi chúng ta xa nhau. Tôi tin rằng nếu tôi ngỏ ý, em sẽ nhận lời, và em sẽ suốt đòi chung thủy với tôi. Tôi biết chắc em là con người như vậy.

    Từ đó tôi giữ mãi trong tim bóng hình em, hình bóng của một mỗi tình xa xưa và vô vọng. Tôi luôn linh cảm sẽ có ngày tôi gặp lại em. Linh cảm thật đúng. Giờ đây tôi ngồi bên em, chúng ta ngồi bên nhau, như những người xa lạ. Em không nhận ra tôi, và tôi cũng chẳng hỏi em một lời.

    Tôi thấy em buồn, nỗi buồn mà lúc đầu tôi bắt gặp trên khuôn mặt và trong ánh mắt em, còn bây giờ, qua tiếng thở dài của em. Tôi rất muốn hỏi thăm, muốn làm một điều gì đó cho em. Nhưng tôi im lặng. Tôi không còn giữ một vai trò gì trong cuộc đời em nữa.

    Có lẽ sẽ mãi mãi không bao giờ em biết đuợc rằng tôi đã ngồi bên em trong suốt cả chuyến đi này nếu như không có những tên cướp bất ngờ chặn xe lại. Tôi thấy nỗi sợ hãi trong mắt em và hiểu rằng tôi không còn gì để ngần ngại nữa. Tôi phải bảo vệ em.

    Tên cướp cao lớn bước lên xe. Mặt hắn đầy thẹo. Hắn cười nhăn nhở: - Quý vị yên tâm. Chúng tôi không làm hại ai cả. Chỉ xin quý vị ngồi im và lấy tiền đặt ra trước mặt. Không được dấu. Không đuợc chống cự. Ai trái lệnh sẽ bị bắn liền.

    Thằng thứ hai đứng ở cửa sau. Nó hất hàm lạnh lùng: - Hãy nhìn kia kìa.

    Tôi nhìn xuống đường. Tên cầm AK bật khóa nòng, lên đạn rôm rốp. Thằng què giơ cao trái lựu đạn.

    Bọn cướp thường liều lĩnh. Không thể tấn công hai tên đang thu tiền trên xe. Bọn ở dưới sẵn sàng xả súng và ném lựu đạn khi cần thiết.

    Tên mặt thẹo bước lại gần tôi: - Của ông anh đâu?

    Tôi móc bóp lấy tiền đưa hết cho hắn.

    - Tốt. Hắn khen. Và quay sang người bạn đường của tôi: - Còn bà chị?

    - Chúng tôi là vợ chồng. Chỉ có bấy nhiêu thôi – Tôi trả lời thản nhiên.

    - Vợ chồng hả? – Hắn cười – Trên đời này làm gì có những thằng đàn ông được vợ giao cho giữ tiền. Cái gì đây?

    Hắn giật túi xách của cô y tá, mở toạc ra, cười hô hố: - Tớ nói đâu có sai. Ông anh đâu phải là thủ quỹ của bà chị.

    Tôi chồm dậy, luồn qua nách thằng mặt thẹo, bước tới gần cửa lên xuống rồi quay lại kéo áo hắn:

    - Ông đừng lấy hết. Vốn liếng làm ăn của vợ chồng tôi.

    Tôi tính đúng. Thằng mặt thẹo bị kéo lùi lại, nghiến răng dùng khủy tay đánh mạnh vào ngực tôi. Tôi ôm ngực lảo đảo, làm bộ như trượt chân ngã nhào ra khỏi xe. Tôi uốn mình lộn mấy vòng đến sát tên cầm súng rồi vùng đứng dậy. Tên này đang nhìn tôi bị đánh, không kịp phản ứng. Tôi giáng một đấm vào mặt hắn, giằng lấy khẩu AK. Không chậm trễ, tôi xoay người và thằng què cầm lựu đạn đứng bên cạnh ăn ngay một báng súng vào mặt. Nó ngã ngửa ra. Tôi lao tới, co chân định đá văng trái lựu đạn nó cầm trong tay. Nhưng thằng què đã lăn một vòng rất gọn. Mặt nó đầm đìa máu. Nó la lên:

    - Ngừng tay lại thượng úy. Lựu đạn giả đó.

    Tôi giật mình. Nó gọi đúng cấp bậc truớc đây của tôi. Tôi chĩa súng vào nó:

    - Mày là ai?

    - Thượng úy không nhận ra em sao? Thằng Chiến ở tiểu đội 1 đây mà.

    Trời ơi, thằng Chiến! Làm sao mà ra nông nỗi này. Tại sao nó lại phải đi ăn cướp. Tôi quên nó sao được. Câu chuyện về nó tôi đã kể hàng chục lần cho bạn bè nghe. Hồi đó chính tôi đã dẫn đại đội lao lên chốt và tận mắt thấy nó bị bọn lính Pôn Pốt treo cổ chặt chân. Chính tôi đã cắt dây đỡ nó xuống. Chính tôi đã băng vội hai bàn chân nó rồi giao cho cứu thương. Về sau không gặp nhưng biết tin quân y trung đoàn đã cứu sống thằng Chiến. Tôi dẫn quân tiếp tục tiến về phía Tây cho đến tận những ngày cuối cùng của thời hạn phải trở về hậu phương. Vậy mà bây giờ…

    Thằng Chiến ngồi dậy. Nó nhổ ra một ngụm máu: - Thượng úy còn khá quá.

    Tôi lao đến, lắc vai nó:- Tại sao mày đi ăn cướp?

    Nó sa sầm:- Đói chớ sao.

    Đồng bọn của nó đã lủi mất. Hành khách trên xe ùa xuống vây quanh chúng tôi. Họ nhao nhao:

    - Khủng khiếp quá!! Thương binh gì mà lại đi ăn cướp. Khiếp, máu ra đầy cả mặt. Cho đáng đời cái quân cướp đường.

    Thằng Chiên ôm ngực nấc lên. Máu từ mũi và miệng nó tiếp tục trào ra. Nó gục xuống đất. Tôi đặt nó nằm ngửa, lau máu và xoa dầu cho nó.

    Tôi chờ nó tỉnh lại.

    4

    Tôi nhận làm gì xấp tiền bố thí ấy.

    Tôi đau đớn, buồn bã, nhục nhã, ê chề. Chiếc xe đò đã chạy xa. Các chiến hữu lặn mất tăm. Chỉ còn mình tôi, lẻ loi trên con đường vắng ngắt.

    Chiều hôm qua tôi chống nạng về nhà không một xu dính túi. Mấy chiếc rổ tre tôi đan, mang trên vai đem ra chợ bán, vẫn còn y nguyên. Suốt ngày tôi không có một hột cơm vô bụng. Chỗ tôi ở gọi là nhà nhưng nói cho đúng chỉ là một cái chòi tồi tàn lợp lá buông cũ. Đồ đạc trong nhà vỏn vẹn chỉ có hai cái nồi đất, vài cái chén bể và một cây rựa bén, đồ nghề quý giá nhất để tôi kiếm sống bấy nay. Trong cái chòi hôi hám chật chội có tới năm mạng người chui rúc. Cha tôi, một ông già cụt hai tay đau bệnh nằm liệt quanh năm. Chị tôi luống tuổi góa chồng, ốm đói và xấu đến mức dù đôi lần đã muốn nhưng cũng không thể đi làm đĩ được. Hai đứa con nhỏ của chị tôi sớm tự lập bằng cách dẫn nhau ra bến xe ăn xin.

    Thằng Tám Thẹo chờ tôi ở nhà. Nó đưa cho tôi một điếu thuốc:

    - Hút đi mày.

    Tôi quăng nạng ngồi xuống đất:

    - Mày tới rủ tao làm việc đó phải không?

    - Mày quyết định chưa? Làm gì có cách nào khác. Tụi tao chơi hai trận rồi. Ngon lành. Tụi tao thương mày nhưng chẳng lẽ mỗi lần kiếm được tiền lại đem tới cho mày. Mày đâu phải ông nội tụi tao. Mày phải làm một việc gì đó để được chia phần chớ.

    - Nhưng tao không quen.

    - Làm đi rồi quen. Khó chó gì đâu. Chỉ cầm lựu đạn quơ quơ mấy cái. Giỏi hơn nữa thì hò hét cho dữ. Tụi mình lấy được tiền sẽ chia đều.

    - Nhưng…

    - Tao hiểu. Đây đâu phải là nghề lâu dài. Túng thì phải tính. Kiếm được chút đỉnh làm vốn, tụi tao sẽ giúp mày cất cái chòi ở chợ cho mày bán đồ tạp hóa lặt vặt, rồi tính tiếp. Thôi tao đi kiếm tụi nó để sắp đặt công việc. Nếu mày chịu, sáng mai sẽ đến chỗ tao.

    Tám Thẹo bỏ đi. Cha tôi cựa mình rên rẩm. Cũng như tôi, vết thương của ông thường bị nhức mỗi khi trở trời. Nhưng tôi trẻ, còn ông già rồi. Ông không chịu nổi cơn đau. Nghĩ mà xót. Hồi trước cha tôi đi quân dịch, mất hai cánh tay. Rồi đến lượt tôi đi nghĩa vụ quân sự, tiêu luôn hai bàn chân. Thật là cay đắng.

    Tôi may mắn hơn cha tôi. Hàng tháng tôi vẫn nhận được chút tiền trợ cấp thương tật. Nhưng món tiền đó không đủ nuôi riêng mình tôi nói gì đến việc tôi phải cáng đáng nuôi cả gia đình. Phải chi tôi còn lành lặn, còn có thể tìm cách bương chải làm ăn được.

    Tôi đói. Nhà chỉ có một chén cháo nhỏ. Tôi đưa cho cha tôi, cố ép ông ăn. Rồi tôi đi ngủ, nằm co quắp trên nền đất, thiếp đi trong cơn đói cồn cào.

    Tôi rơi vào giấc mơ khủng khiếp. Tôi thấy một người hành khất già rủ tôi đến một nơi có nhiều đồ ăn. Đôi mắt ông hiền từ. Tôi yên tâm đứng dậy chống nạng đi theo. Ông dắt tôi đi mãi, rất lâu, trong đêm đen. Rồi chúng tôi dừng lại trước một tòa nhà đồ sộ nhưng bên trong mờ tối. Ông đẩy lưng tôi:

    - Vào đi, trong đó người ta sẽ cho cháu ăn.

    Tôi bước vào. Mùi thúc ăn thơm ngào ngạt. Thực khách sang trọng đang ngồi bên những chiếc bàn phủ khăn trắng. Trong nhà thắp nến nên ánh sáng lờ mờ. Những cây nến leo lét như vẫn thường đặt trên quan tài người chết. Trên các bàn ăn la liệt những đĩa thịt đầy ắp. Tôi thèm chảy nước miếng. Mọi người đang ăn uống, chậm rãi và từ tốn. Tôi bước lại gần, đưa tay ra và bỗng kinh hoàng nhận thấy trên một đĩa đồ ăn có hai bàn chân tôi, còn đĩa kia ngồn ngộn hai cánh tay cha tôi. Trời ơi, những bàn chân của tôi được quay vàng rụm, đặt thật khéo trên những lá rau tươi. Bọn người kia cầm lên cắn xé, nhai ngon lành. Tôi khiếp đảm nhìn họ, nhìn những mẩu xương vụn họ nhả ra. Tôi cúi xuống định lượm lên. Nhưng một bàn tay lạnh ngắt bỗng nắm cổ tôi xoay lại. Tôi thấy một bộ mặt lầm lì, đểu cáng, mập mạp và bóng nhẫy vì mỡ, độc ác và gớm ghiếc, gầm ghè nhìn tôi:

    - Không được đụng vào. Những thứ này đã thuộc về của chúng tao. Muốn lấy phải trả tiền đây.

    Bàn tay lạnh lẽo xiết dần cổ tôi. Tôi nghẹt thở, dãy dụa. Bàn tay ấy xô mạnh. Tôi thét lên, vùng tỉnh dậy.

    Mồ hôi đầm đìa. Tim đập loạn xạ. Tôi nằm im chờ cơn sợ hãi qua đi. Nhưng tự nhiên một nỗi căm hận bắt đâu sục sôi trong lòng tôi. Tôi trằn trọc lăn lộn trong cơn giận dữ bất thần. Sáng ra tôi đi tìm thằng Tám Thẹo.

    Giấc mơ đêm qua là điềm xấu. Khốn nạn cho thân tôi. Trên chiếc xe đò mà chúng tôi chặn lại, có hai người từng cứu sống tôi. Rồi tôi bị ăn một báng súng vào mặt.

    Thượng úy lay tôi tỉnh dây, lau sạch máu, hỏi han, vỗ về an ủi tôi. Anh và cô y tá kể cho hành khách nghe chuyện tôi bị chặt chân. Vài người ái ngại nhìn tôi.
    Thượng úy muốn đem tôi đi theo nhưng tôi cương quyết từ chối. Trước kia anh có thể dẫn quân xông lên, nã súng vào kẻ thù để cứu sống tôi. Nhưng bây giờ anh lấy gì để có thể tiếp tục cứu giúp cả cuộc đời tôi, cả gia đình tôi, và bao nhiêu người thương binh nghèo đói khác nữa.

    Cô y tá trước đây băng bó cho tôi. Giờ đây cô chỉ có thể đứng nhìn và xót xa, chứ làm sao và có thể lấy gì băng bó cho bao nhiêu vết thương lở lói và què cụt trong khắp cuộc đòi này.

    Thượng úy và cô y tá thuyết phục không được đành chia tay, để lại cho tôi một số tiền. Vài hành khách cũng làm như họ. Tôi thấy cảm động. Nhưng một người chợt nói to:

    - Các ông các bà thấy người ta tàn tật thế này thì phải bố thí làm phúc chứ!

    Cơn điên bùng lèn. Tôi bắt đầu la hét, nguyền rủa.

    Không ai có thể khuyên tôi được. Rồi mọi người bỏ đi.

    Chỉ còn lại mình tôi. Bên tôi là xấp tiền được chặn dưới một viên đá nhỏ. Gió thổi lật qua lật lại nhũng tờ giấy bạc. Tôi chợt nhớ đến người hành khất trong giấc mơ đêm qua. Chà, đôi mắt ông mới hiền từ làm sao. Tôi thở dài, nhấc viên đá lên. Những tờ giấy bạc cuốn bay theo gió.

    Tôi nằm vật xuống đất, ngửa mặt nhìn thẳng lên bầu trời xanh.

    Tôi không chờ đợi một điều gì hết.

    Trương Công Dũng

    5.1991

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi