Nhân vụ GS Chu Hảo, nghĩ về việc xây dựng một tầng lớp học giả pháp lý và chính trị đẳng cấp, liêm chính và nhân bản (4)

  • Bởi Admin
    14/12/2018
    0 phản hồi

    Nguyễn Kiều Dung

    VII. LÒNG DÂN BẤT MÃN, KHÔNG THỂ CÓ KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG

    7.1 Tính cách người lao động là trở ngại lớn

    Tinh thần chống giặc ngoại xâm hoàn toàn khác với khái niệm “khát vọng hùng cường”[4]. Khi có giặc xâm lược, thanh niên nô nức lên đường bảo vệ tổ quốc đã trở thành truyền thống hàng nghìn năm của dân tộc. Tuy nhiên, Việt nam chưa bao giờ là một quốc gia mạnh về Kinh tế, Văn hóa, Khoa học Kỹ thuật, và cũng chưa bao giờ có khái niệm “dân tộc khát vọng hùng cường”.

    Năm 2016, tỷ lệ phân bổ lao động của Việt nam là Nông nghiệp: 42%, Công nghiệp: 24%, Dịch vụ: 33% [22]. Đa số công nhân xuất thân từ nông dân. "Người lao động vốn là nông dân, tâm lý tiểu nông đã ăn vào máu, thích tự do vô tổ chức, thích thì đi làm, không thích thì nghỉ, thậm chí nghỉ việc tràn lan vì những lý do rất trời ơi như đến vụ lúa thì đi gặt, đến vụ vải thiều thì nghỉ vài ngày đi bán vải thiều, giỗ chạp, cưới xin nghỉ tùm lum vài ngày là chuyện bình thường. Muốn ý thức của họ thay đổi, phải vô cùng kiên nhẫn và nỗ lực cải thiện họ trong một thời gian dài. Trong khi đó, áp lực thay đổi của thị trường lại nhanh và rất căng". Ngoài ra, “do bị gãy ở khâu giáo dục nhân cách người lao động, nên dẫn đến tình trạng, người lao động chỉ nghĩ tới quyền lợi của bản thân mình khi đi làm, không nghĩ hoặc quan tâm tới quyền lợi của doanh nghiệp và rộng ra là quyền lợi quốc gia. Trong những năm qua, khi các doanh nghiệp FDI ồ ạt nhảy vào Việt Nam, dùng chiêu thức "hớt váng" để vợt người lao động có tay nghề, bằng cách trả lương cao hơn doanh nghiệp Việt, thì người lao động lập tức bỏ việc và nhảy sang doanh nghiệp FDI đầu quân”. “Tình trạng nhảy việc của người lao động gây nên khó khăn vô cùng lớn cho doanh nghiệp Việt. Thậm chí, doanh nghiệp FDI còn kéo người không chỉ bằng mức lương cao, mà còn thưởng nóng với mức cao cho những ai kéo được cả nhóm đông công nhân sang doanh nghiệp của họ làm việc”. “Người lao động cũng không cần quan tâm rằng, chính doanh nghiệp này đã đào tạo tay nghề miễn phí cho họ trong thời gian họ mới chân ướt chân ráo đi học việc” [23]. Với tính cách như vậy, khó có thể hi vọng thổi bùng “khát vọng hùng cường” của những người lao động trong thời gian ngắn để phục vụ Cách mạng 4.0.

    7.2 Các mô hình phát triển của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan đều không có Chủ nghĩa Marx-Lenin

    Nhìn lại lịch sử thì thấy, các nước đã từng thổi bùng “khát vọng hùng cường” của công dân như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài loan đều không bị Chủ nghĩa Marx-Lenin tàn phá nền luật pháp, nền chính trị, nền giáo dục, nền báo chí, và nền khoa học.

    Từ thời Thiên Hoàng Minh Trị, cách đây 150 năm, nước Nhật đã chủ trương "học tập phương Tây, đuổi kịp phương Tây, vượt phương Tây", phổ biến tất cả các tri thức của phương tây để học tập. Đấy là chủ trương vô cùng đúng đắn, hợp lòng dân, khiến người dân nghe theo lãnh đạo. Khi Park Chung Hee bắt đầu nắm quyền và thực hiện chính sách phát triển kinh tế rất thành công, Hàn quốc là nước dân chủ đại nghị, tam quyền phần lập [24]. Singapore là làng chài nghèo thoát ra khỏi Malaysia, phải chấp nhận tồn tại hay là chết, cho nên người dân bắt buộc phải nỗ lực phấn đấu. Điều quan trọng là họ cũng không bị cái vòng kim cô Marx-Lenin trói buộc. Thật ra Singapore quá bé cho nên việc quản lý tương đối dễ hơn các nước khác. Đài loan cũng từng có chuyên chế, nhưng chưa bao giờ bị hệ tư tưởng Marx-Lenin chi phối, và ngay cả thời kỳ chuyên chế họ vẫn học hỏi mọi tri thức của thế giới.

    7.3 Trung quốc là mô hình nước đông dân, không phù hợp với Việt nam

    Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, GDP/đầu người năm 2017 của Việt nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài loan, Hàn Quốc, Nhật bản, Singapore là 2343$, 8827$, 25534$, 29742$, 38428$, 57714$. Nghĩa là chỉ số này của Trung Quốc hơn Việt nam 3.76 lần nhưng vẫn kém xa các con rồng châu Á. Nhưng Trung Quốc có 1.386 tỷ dân, cho nên mặc dù GDP/đầu người thấp, GDP tổng cộng vẫn cao thứ nhì thế giới. Và mặc dù bất bình đẳng xã hội cao, đa số dân vẫn rất nghèo, nhưng do GDP rất lớn cho nên Trung Quốc vẫn có nhiều tiền để đầu tư kinh doanh và phát triển khoa học. Năm 2017, Trung Quốc trích 2% GDP là có 370.6 tỷ USD đầu tư cho nghiên cứu và phát triển(R&D). Trong khi đấy, chi tiêu cho R&D của Việt nam chỉ là 1.78 tỷ USD [25]. Với ngân sách nhỏ như vậy, lại đầu tư dàn trải kiểu “quả mít” cho nên khoa học Việt nam không đạt được thành tích gì đáng kể.

    Nói vắn tắt, những thành công mà Trung Quốc đạt được chù yếu nhờ đầu tư rất lớn vào phát triển kinh doanh và nghiên cứu khoa học. Chỉ có thiểu số hưởng lợi từ đầu tư đó, trong khi đại đa số người dân vẫn nghèo khổ. Trung Quốc không phải là mô hình kích hoạt “khát vọng hùng cường” của toàn dân giống như Nhật bản và các con rồng châu Á.

    7.4 Đảng và Chính phủ không đủ năng lực lãnh đạo quốc gia, và không đáng tin cậy để tự thực hiện bất kỳ chiến lược dài hạn nào

    42 năm sau khi thống nhất đất nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thu nhập trung bình của người Việt là 2343 USD, nghĩa là chỉ tương đương 4.4 triệu VND/tháng. Đó là mức thu nhập rất thấp, và không đảm bảo an sinh khi già yếu, ốm đau, bệnh tật. Đó cũng là mức thu nhập gần bét ở ASEAN, chỉ hơn Campuchia. Trong khi trí tuệ người Việt có lẽ không thấp kém đến mức ấy.

    Truyền thông thường ca ngợi chính sách Đổi mới. Khi bắt đầu Đổi mới, năm 1990, GDP/đầu người (GDP/Capita based on PPP) của Việt nam xếp hạng 128 trên thế giới. Năm 2017, GDP/đầu người của Việt nam đứng thứ 127. Nghĩa là sau 27 năm, nước ta tăng lên được…01 bậc. Trong khu vực ASEAN, năm 1990 Việt nam chỉ hơn Campuchia, và bây giờ vẫn thế. Trong khoảng thời gian đó, GDP/đầu người của Trung Quốc tăng 44 bậc. Năng suất lao động của Việt nam vẫn thuộc nhóm thấp nhất châu Á, thua cả Lào[5] [14]. Đấy là những chỉ số kinh tế quan trọng nhất, khiến độc giả phải giật mình. Ngoài ra, còn phải kể đến chính sách đất đai, điểm yếu cốt tử của nền kinh tế. Tham nhũng trầm trọng trong xây dựng cơ bản và khu vực công. Đầu tư dài hạn kém hiệu quả, đặc biệt là đầu tư hạ tầng đô thị và đầu tư cho năng lực đổi mới sáng tạo. Hệ thống ngân hàng yếu ớt, dễ bị tổn thương. Nền tảng kinh tế thị trường thiếu minh bạch, với sự can thiệp thô bạo của mệnh lệnh hành chính. Tư bản thân hữu đã trở thành nạn dịch. Cấu trúc phân quyền Nhà nước lộn xộn, không trọng dụng được người tài. Tài nguyên cạn kiệt và ô nhiễm môi trường do chất thải. Sự bất mãn tràn lan trong xã hội vì tham nhũng và nghi ngờ ảnh hưởng của Trung Quốc. Khả năng các tổ chức dân sự tham gia cải tổ luật pháp, cơ chế, chính sách rất hạn chế [15]. Bên cạnh đó, chủ nghĩa Marx-Lenin đã tàn phá nghiêm trọng nền luật pháp, nền chính trị, nền giáo dục, nền báo chí, nền khoa học của quốc gia.

    Đổi mới sáng tạo là động lực chủ yếu để tăng trưởng bền vững. Thế nhưng ngân hàng thế giới đánh giá Việt nam: “Năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện còn yếu và hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia còn non trẻ, manh mún. Công tác nghiên cứu và phát triển (R&D) vẫn chỉ là hoạt động mang tính thêm thắt trong các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước” [27]. Trong khi đó, Trung Quốc hiện là nước có chỉ số sáng tạo tốt nhất thế giới, về mặt số ứng dụng sáng chế[26].

    Đâu phải bây giờ mới có Chính phủ Điện tử, Cách mạng Công nghệ Thông tin. Những thứ đó đã được Chính phủ thông qua hệ thống truyển thông đại chúng tuyên truyền từ thập kỷ 1990. Nhưng kết quả thu được chỉ là bán máy tính và phổ cập tin học văn phòng. Trong khi các quốc gia khác như Đài loan, Israel, Thái lan, Sing đã thực hiện thành công những chủ trương đó, tạo được ngành công nghiệp sản xuất và gia công phần cứng và phần mềm cho phương tây, và trở nên giàu có.

    Chủ tịch Quốc hội đã phải thừa nhận mục tiêu trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020, được Đảng đề ra từ đại hội IX năm 2001 không thể thực hiện được [15]. Mới đây, Chính phủ lại hứa hẹn mục tiêu GDP/đầu người sẽ đạt 10000 USD vào năm 2035 [28]. Nếu tính mức trượt giá bằng thời gian vừa qua thì con số đó khoảng 6790 USD, vẫn thấp hơn mức Trung Quốc năm 2017 khá nhiều (8827 USD)[6]. Trong khi GDP/đầu người của thế giới sẽ tiếp tục tăng, và 17 năm nữa, Việt nam vẫn lẹt đẹt trên bảng xếp hạng quốc tế. Chưa kể, đến năm 2035, vẫn có khả năng Nhà nước lại nói là không làm được.

    Tôi nghĩ rằng, ở các quốc gia dân chủ người dân sẽ không bao giờ chấp nhận để cho một đảng cầm quyền lâu như vậy mà kết quả tồi tàn như vậy. Những điều đó chứng tỏ Đảng và Chính phủ không đủ năng lực để lãnh đạo quốc gia và không đáng tin cậy để tiếp tục tự thực hiện bất kỳ chiến lược dài hạn nào nữa.

    7.5 Lòng dân bất mãn, không thể có khát vọng hùng cường

    Lòng dân hiện nay rất phân tâm, bất mãn vì những bê bối do tham nhũng (trong lĩnh vực đất đai, đầu tư công, xây dựng cơ bản), thiếu minh bạch, nghi ngờ Chính phủ thân Trung Quốc, tư bản thân hữu, và một loạt yếu kém trên hầu hết các lĩnh vực xã hội. Chưa kể giới trí thức bất mãn với chế độ thường xuyên kích hoạt những phẫn uất trong công chúng. Trong bối cảnh ấy, Chính phủ, người phải chịu trách nhiệm chính về những bê bối đó, làm sao có thể thổi bùng “khát vọng hùng cường” của dân tộc?

    Lâu nay, các tổ chức quốc tế vẫn đề cao chỉ số tăng trưởng kinh tế để động viên và khuyến khích Chính phủ thay đổi mô hình quản lý và tăng cường dân chủ hóa. Trong khi những chỉ số quan trọng khác như GDP đầu người rất thấp và xếp hạng trên thế giới, xếp hạng trong ASEAN hầu như không tăng suốt 3 thập kỷ, năng suất lao động thì vẫn rất kém, chưa kể nhiều vấn đề khác.

    Báo cáo Tổng Quan Việt nam 2035 do Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch Đầu tư xuất bản đã khuyến cáo: “Nhà nước cần được tổ chức theo cách đảm bảo sự kiểm soát và cân bằng thực sự giữa các nhánh hành pháp, lập pháp và tư pháp. Quốc hội phải trở thành cơ quan chuyên nghiệp (bao gồm các đại biểu chuyên trách và có đội ngũ chuyên gia hỗ trợ) và giám sát toàn bộ các hoạt động của nhà nước”. “Cần có nhiều tổ chức xã hội đa dạng tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và giám sát trách nhiệm giải trình của nhà nước. Nhà nước cần đưa ra một khung khổ pháp lý. thúc đẩy quyền công dân”. “Việt Nam cần chuyển sang hệ thống quan hệ lao động phù hợp với nhu cầu của một nền kinh tế thị trường hoàn chỉnh, trong đó lợi ích của người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước được đại diện một cách hợp lý hơn trên cơ sở một quy trình thương thảo phù hợp với các cam kết trong Hiệp định TPP”. Những lời khuyên ấy là xây dựng mô hình tam quyền phân lập, phát triển các tổ chức dân sự độc lập để tăng quyền cho dân, và thành lập nghiệp đoàn độc lập (theo cam kết TPP trước đây và CPTPP ngày nay).

    Xưa nay Nhà nước vẫn tuyên truyền dân trí Việt nam thấp và nước còn nghèo cho nên không thể có dân chủ kiểu phương tây. Nhưng trên thực tế Nhà nước đã không làm gì để nâng cao dân trí chính trị cho người dân, không thực tâm xây dựng một lộ trình dân chủ, thậm chí ngược lại, dùng Chủ nghĩa Marx-Lenin để thực hiện chính sách ngu dân. Lập luận rằng cần phải giàu lên mới có dân chủ được cũng không đáng tin. Bởi năm 1990, khi Lý Quang Diệu vẫn là Thủ tướng, GDP/đầu người của Singapore đã đứng thứ 11 thế giới, thuộc nhóm mức sống cao nhất và nền giáo dục cũng thuộc nhóm đầu của thế giới, vậy mà ông Lý vẫn không muốn Singapore có đa đảng đúng nghĩa. Thế nên, có thật sự thương dân không hay chỉ tham quyền cố vị, bảo vệ lợi ích của đảng phái, phe cánh của mình là do sự tử tế và lương tâm của từng người chứ không phụ thuộc vào mức độ giàu có hay dân trí của quốc gia. Các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu mà sống lại có lẽ sẽ phải ngửa mặt lên trời than khóc. Bởi lẽ thời của các cụ, thực dân Pháp ác thật, nhưng các quyền tự do cơ bản của công dân như tự do báo chí, lập hội, biểu tình vẫn được đảm bảo.

    VIII. XÂY DỰNG MỘT TẦNG LỚP HỌC GIẢ PHÁP LÝ VÀ CHÍNH TRỊ ĐẲNG CẤP, LIÊM CHÍNH, VÀ NHÂN BẢN

    Như đã nêu, hầu hết các yếu kém ở Việt nam đều có nguyên nhân là yếu kém về luật pháp, cơ chế, và chính sách. Thứ mà Việt nam cần nhất hiện nay là một tầng lớp các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp trình độ cao để cải cách hiệu quả hệ thống lập pháp, cơ chế và chính sách, đồng thời kết hợp tinh thần Dân chủ hóa-Hòa giải-Khoan Dung để phát triển các quyền dân sự cho người dân trong khi vẫn đảm bảo ổn định Chính trị-Xã hội. Cộng đồng các nhà nghiên cứu ấy cũng là nguồn lực quyết định để nâng cao chất lượng các lĩnh vực này trong hệ thống trường đại học/viện nghiên cứu ở Việt nam, đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia.

    Điều này cũng tương thích với điều kiện tiên quyết của một nền dân chủ. Điều kiện đó là cần phải có một tầng lớp học giả Pháp lý và Chính trị đẳng cấp về mặt chuyên môn, liêm chính về mặt khoa học, và đủ tinh thần khoan dung, để đánh giá khách quan về mọi vấn đề xã hội trong bối cảnh các nhóm lợi ích luôn tìm mọi cách để tác động lên hệ thống lập pháp và lôi kéo công chúng về phía mình. Trên thực tế, số người không đủ năng lực để hiểu hoặc không có thời gian tìm hiểu thấu đáo các vấn đề Pháp lý và Chính trị phức tạp luôn luôn chiếm đại đa số ở mọi quốc gia. Chính vì vậy, lực lượng các học giả chuyên nghiệp vô cùng quan trọng để làm chỗ dựa cho công chúng về các lĩnh vực này. Một loạt các quốc gia châu Phi có dân chủ nhưng đầy rẫy tham nhũng và bất ổn chính trị nghiêm trọng cũng là những nơi có năng lực học thuật pháp lý và chính trị rất kém (thể hiện trên các bảng xếp hạng quốc tế), đồng nghĩa với sự thiếu vắng một tầng lớp học giả đẳng cấp, liêm chính, và nhân bản. Trong khi ấy, các quốc gia dân chủ châu Á như Thái Lan, Phillippines, Indonesia,…năng lực học thuật Pháp lý và Chính trị cao hơn, cũng còn tham nhũng, bất ổn, nhưng ở mức chấp nhận được. Những quốc gia dân chủ có nền học thuật pháp lý và chính trị thuộc nhóm dẫn đầu của thế giới như Hàn Quốc, Đài Loan cũng là những nơi có chỉ số phòng chống tham nhũng cao trong khi ổn định chính trị vẫn ở mức tích cực.

    Nền học thuật Pháp lý và Chính trị của Việt nam đang ở mức rất tồi tệ là sự thật hiển nhiên, không cần phải bàn cãi. Để nhanh chóng xây dựng một tầng lớp học giả đẳng cấp, liêm chính, và nhân bản nhằm chấn hưng nền học thuật nước nhà, cần sự nỗ lực của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và cả giới trí thức. Tôi nghĩ rằng, Đảng, Quốc hội, Chính phủ cần thấy được mức độ nghiêm trọng của vấn đề và không thể lấy lý do đảm bảo ổn định chính trị để từ chối, bởi lẽ việc tăng cường năng lực cho đội ngũ nghiên cứu không thể dẫn đến ảnh hưởng xấu cho an ninh quốc gia, nếu không nói là ngược lại. Đảng, Quốc hội, và Chính phủ có sứ mệnh lịch sử là xây dựng một lộ trình dân chủ hóa ở Việt nam. Bây giờ đã là rất muộn để bắt đầu quan tâm đến đào tạo để phát triển các quyền dân sự cho người dân, trong khi việc đào tạo để tăng cường nền hành chính công đã được xúc tiến từ cách đây gần 30 năm.

    Ngoài việc hỗ trợ các tổ chức dân sự, và thúc đẩy các quyền dân sự thông qua các nghiên cứu, việc xây dựng một đội ngũ học giả là các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp còn có ý nghĩa tìm kiếm, giới thiệu những kinh nghiệm của thế giới, và đề xuất những sáng kiến mới để thúc đẩy Tinh thần Công dân ở Việt nam.

    IX. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI ĐẢNG, CHÍNH PHỦ VÀ CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC/KHUYẾN HỌC VÀ NHỮNG NGƯỜI QUAN TÂM ĐẾN CHÍNH TRỊ

    9.1 Một số kiến nghị với Đảng và Chính phủ.

    Dưới đây, tôi xin kiến nghị một số công việc mà lẽ ra Đảng, Chính phủ, và Quốc hội cần thực hiện từ cách đây vài chục năm. Nếu Đảng, Chính phủ, và Quốc hội thực tâm muốn tiến hành những điều này, không khó để tìm kiếm sự tư vấn và hỗ trợ từ các tổ chức quốc tế như Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Triết học (FISP), và các trung tâm nghiên cứu Pháp lý và Chính trị lớn trên thế giới.

    1. Đào tạo nâng cao (bậc cao học trở lên) dành cho đội ngũ giảng viên Triết học hiện này và đào tạo giảng viên mới ở các quốc gia phát triển về Ngoại ngữ và Triết học Phương tây ngoài-Marx (tập trung vào các chuyên ngành có nhiều ứng dụng như Triết học Chính trị, Lý thuyết Pháp lý, Triết học Luật pháp, Đạo đức, Triết học Xã hội, Triết học Ứng dụng...). Quy mô đào tạo không ít hơn các ngành chính sách công/hành chính công/quản lý công.

    2. Đào tạo nâng cao (bậc cao học trở lên) ở các quốc gia phát triển cho các luật gia hiện có và đào tạo mới về Ngoại ngữ, Triết học Chính trị hiện đại (sau Marx), Triết học Luật pháp, Lý thuyết Pháp lý, Xã hội học Chính trị, Kinh tế Chính trị, Xã hội học Pháp luật…. ở các quốc gia phát triển. Đặc biệt chú trọng đào tạo các luật gia quan tâm đến xây dựng các thể chế, chính sách Dân chủ-Hòa giải-Khoan dung. Quy mô đào tạo không ít hơn quy mô đào tạo các ngành chính sách công/hành chính công/quản lý công.

    3. Đào tạo nâng cao (bậc cao học trở lên) cho các nhà báo về Triết học Chính trị (sau Marx), Kinh tế Chính trị, Xã hội học Chính trị, Khoa học Chính trị… ở các quốc gia phát triển. Đặc biệt chú trọng đào tạo các nhà báo quan tâm đến xây dựng các thể chế, chính sách Dân chủ-Hòa giải-Khoan dung. Quy mô đào tạo không ít hơn quy mô đào tạo các ngành chính sách công/hành chính công/quản lý công.

    4. Đào tạo cao học và tiến sỹ các ngành Xã hội học Chính trị/Kinh tế Chính trị/Khoa học Chính trị (và các ngành liên quan với yêu cầu luận văn nghiên cứu về chính trị Việt nam) ở các quốc gia phát triển cho những người có bằng đại học của tất cả các ngành. (Kinh nghiệm cho thấy những người tốt nghiệp đại học các ngành KHTN&KT chuyển sang học cao học KHXH&NV cũng rất tốt). Chú trọng đào tạo những người quan tâm đến xây dựng các thể chế, chính sách Dân chủ-Hòa giải-Khoan dung. Quy mô đào tạo không ít hơn quy mô đào tạo các ngành chính sách công/hành chính công/quản lý công.

    5. Phối hợp với các tổ chức quốc tế (ví dụ Cộng đồng Châu âu) để đào tạo liên kết, đào tạo trực tuyến các chương trình tương tự như trên; mời chuyên gia quốc tế đến Việt nam giảng dạy cho những đối tượng không có cơ hội du học. Đào tạo nâng cao kiến thức cơ sở ngành Chính trị cho tất cả các ngành KHXH&NV khác.

    6. Tổ chức thường xuyên các cuộc thi kiến thức và tranh biện Triết học Phương tây (trước và sau Marx) về các vấn đề chính trị-xã hội cho các đối tượng quan tâm đến các trường phái triết học đó với quy mô và tần suất không ít hơn các cuộc thi và tranh biện về Chủ nghĩa Marx-Lenin/Tư tưởng Hồ Chí Minh. Tổ chức thi Olympic Triết học Quốc gia thường niên nhằm tuyển chọn học sinh THPT tham dự kỳ thi Olympic Triết học Quốc tế.

    7. Tổ chức thường xuyên các cuộc thi kiến thức, thi Olympic và tranh biện về Xã hội học Chính trị/Kinh tế Chính trị/Khoa học Chính trị phương tây cho các đối tượng quan tâm đến những lĩnh vực đó với quy mô và tần suất không ít hơn các cuộc thi và tranh biện về Chủ nghĩa Marx-Lenin/Tư tưởng Hồ Chí Minh.

    8. Xây dựng chương trình đào tạo Triết học ở bậc đại học theo chuẩn ở các quốc gia phát triển. Chuyển 3 môn lý luận chính trị bắt buộc (Những Nguyên lí Cơ bản của Chủ nghĩa Marx-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản) thành các môn tự chọn. Nghiên cứu để đưa chủ nghĩa Marx-Lenin trở về đúng vị trí khiêm tốn của nó, như ở các quốc gia phát triển. Loại bỏ những văn bản pháp lý có những điều khoản đi ngược lại các tri thức tinh hoa của nhân loại như Quy định 102-QĐ/TW. Phổ biến quan điểm nghiên cứu để học hỏi tất cả các thành tựu Pháp lý và Chính trị của thế giới trong toàn Đảng và toàn dân, không có vùng cấm.

    9. Thay thế việc tuyên truyền cho chủ nghĩa Marx-Lenin bằng phổ biến Khoa học Pháp lý và Khoa học Chính trị hiện đại trên hệ thống truyền thông đại chúng.

    10. Hỗ trợ thành lập Hội triết học của Việt nam, gia nhập Liên đoàn Quốc tế các Hiệp hội Triết học, theo đề nghị của các nhà nghiên cứu Triết học [20].

    11. Thành lập Quỹ Dịch thuật Quốc gia để dịch các tài liệu cơ sở ngành Pháp lý và Chính trị nổi tiếng của thế giới. Kêu gọi các mạnh thường quân tài trợ cho Quỹ. Huy động sinh viên, nghiên cứu sinh có trình độ ngoại ngữ tốt tham gia dịch thuật và tính điểm các công trình đó như các dự án nghiên cứu khoa học.

    Ngoài ra Nhà nước cần thành lập Ủy ban Tư vấn Giám sát Dân chủ độc lập (bao gồm các học giả Chính trị, luật sư, nhà báo, và các trí thức khác, có thể bao gồm người nước ngoài) để tư vấn, giám sát các hoạt động trên, và tư vấn, giám sát xây dựng lộ trình dân chủ cho Việt nam.

    Theo báo chí, Đề án Đào tạo Thạc sỹ, Tiến sỹ ở Nước ngoài của Bộ Giáo dục hàng năm thường xuyên thừa khá nhiều tiền (có lẽ không năm nào giải ngân được 50% chỉ tiêu). Bộ Giáo dục có thể dành số tiền dư để tài trợ cho các khóa đào tạo và các hoạt động nêu trên. Đặc biệt cần tăng gấp đôi chỉ tiêu cho ngành luật, và chú trọng đào tạo cả bậc thạc sỹ và tiến sỹ, bởi để đào tạo một tiến sỹ luật ở nước ngoài khá khó khăn, do chương trình đào tạo luật ở Việt nam ít tương thích với thế giới, trong khi nhu cầu tăng cường năng lực pháp lý cho quốc gia rất lớn [29].

    9.2 Một số kiến nghị với các tổ chức khoa học/khuyến học và tất cả những người quan tâm đến chính trị

    Tôi cho rằng, việc khuyến khích nghiên cứu các môn cơ sở ngành Pháp lý và Chính trị phải độc lập, tách biệt với thực hành chính trị, đặc biệt trong quá trình học, để khuyến khích học viên tập trung vào học tập, và rèn luyện phẩm chất liêm chính, khách quan của nhà khoa học. Sau đây là một số đề nghị của tôi đối với các tổ chức khoa học/khuyến học:

    1. Khuyến khích tinh thần “học tập suốt đời” đối với các môn cơ sở ngành pháp lý và chính trị, đặc biệt là khuyến khích du học, hướng tới mọi đối tượng, mọi ngành nghề, bởi các ngành này cần nhiều vốn sống và kinh nghiệm thực tế để có thể học tập và nghiên cứu hiệu quả. Những người dưới 40 tuổi có thể tìm nguồn học bổng, và hỗ trợ tài chính. Những người trên 40 tuổi, nếu có tiềm lực tài chính tốt có thể tự tài trợ những chương trình cao học 1.5 - 2 năm ở các quốc gia phát triển; hoặc nếu có thành tích, kinh nghiệm về hoạt động chính trị, phong trào, năng lực lãnh đạo thì vẫn có khả năng tìm được hỗ trợ tài chính.

    2. Một số người tư chất tốt có thể đọc tài liệu cảm thấy quá dễ và nghĩ rằng không cần phải học tập bài bản. Trên thực tế, bằng cấp luôn đem lại nhiều sự tin tưởng về mặt chuyên môn. Học hành bài bản cho phép nhà nghiên cứu đỡ mất công “phát minh lại cái bánh xe”, tự tin soạn thảo những đề án, kết nối với các học giả trên thế giới để hoàn thiện ý tưởng, và rất nhiều những lợi ích khác không thể đong đếm được. Nếu không có điều kiện du học thì cũng nên học cao học trong nước rồi tự nghiên cứu thêm.

    3. Các tổ chức khoa học/khuyến học có thể phát động một phong trào “Tây du” mới để nâng cao tri thức pháp lý và chính trị, trong đó đề ra một số khẩu hiệu (ví dụ a. Học để xây dựng một nền khoa học vững mạnh; b. Học để xây dựng nhà nước pháp quyền; c. Học để phát triển các quyền dân sự cho người dân; d. Học để trở thành chuyên gia làm chỗ dựa cho công chúng; e. Học để trở thành nhà khoa học đẳng cấp, liêm chính, và nhân bản)

    4. Vận động các tổ chức quốc tế, ví dụ Cộng đồng Châu âu, tổ chức và tài trợ các chương trình đào tạo thạc sỹ liên kết và online về Luật/Xã hội học Chính trị/Kinh tế Chính trị/Khoa học Chính trị (chú trọng kết hợp nội dung Dân chủ hóa-Hòa giải-Khoan dung) cho những người không có khả năng du học. Vận động Bộ Giáo dục công nhận các bằng cấp đó.

    5. Tổ chức các cuộc thi Triết học/Xã hội học Chính trị/Kinh tế Chính trị/Khoa học Chính trị, trước tiên, có thể bắt đầu với các vấn đề xã hội, để khuyến khích người dân quan tâm đến các lĩnh vực đó.

    6. Các học giả, trí thức Việt kiều hãy chung sức đấu tranh cho quyền được học tập của người dân trong nước. Đó cũng là cách quý vị hỗ trợ nâng cấp nền khoa học, cũng như luật pháp, cơ chế, chính sách của nước nhà một cách hiệu quả nhất.

    7. Đẳng cấp chuyên môn, tính liêm chính được rèn luyện trong khoa học cùng với tinh thần khoan dung là vốn quý, là điều kiện tiên quyết để tư vấn, phản biện luật và chính sách một cách hiệu quả. Những phẩm chất này rất cần được lan tỏa tới công chúng. Các tổ chức khoa học/khuyến học có thể đề ra những tiêu chí về một trí thức “đẳng cấp, liêm chính, nhân bản” cho cộng đồng, chẳng hạn như:

    a. Thiện chí: Phê phán xã hội trên tinh thần thiện chí, vì một Việt nam phát triển bền vững.

    b. Thấu hiểu: Đặt mình vào vị thế của lãnh đạo để đánh giá vấn đề một cách toàn diện.

    c. Trách nhiệm: Đầu tư thời gian nghiên cứu, tìm giải pháp cho những vấn đề phức tạp và quan trọng của xã hội.

    d. Công bằng: Quan tâm đến nhu cầu của tất cả các nhóm lợi ích một cách công bằng.

    e. Nhân bản: Thấu hiểu rằng Dân chủ luôn phải đi kèm với Hòa giải và Khoan dung.

    Năm 2011, khi GS. Chu Hảo đề nghị nhất thể hóa hai chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch Nước, tôi rất ủng hộ. 7 năm sau điều ấy mới xảy ra. Không biết người Việt sẽ còn phải chờ đợi bao năm nữa để chứng kiến ngày Chủ nghĩa Marx-Lenin ngừng tàn phá đất nước này và Việt nam thật sự có dân chủ như ở các quốc gia phát triển.

    PHỤ LỤC: DU HỌC CÁC NGÀNH CƠ SỞ CỦA PHÁP LÝ VÀ CHÍNH TRỊ

    Phần này giới thiệu kinh nghiệm lựa chọn các chương trình học và môn học, chủ yếu dành cho những người muốn du học bậc cao học trở lên liên quan đến pháp lý và chính trị ở các quốc gia phát triển. (Những người đang sinh sống ở nước ngoài muốn học cao học các ngành này cũng có thể tham khảo bài viết này). Mục tiêu du học là trở thành nhà nghiên cứu chuyên nghiệp để: (i) Nghiên cứu, giảng dạy các môn cơ sở ngành (Triết học, Luật, Xã hội học Chính trị, Kinh tế Chính trị, Khoa học chính trị) nhằm nâng cấp KHXH&NV ở Việt nam (ii) Nghiên cứu xây dựng, tư vấn, phản biện luật pháp, cơ chế, và chính sách ở Việt nam; (iii) Trở thành chuyên gia có hiểu biết toàn diện, làm chỗ dựa cho công chúng về lĩnh vực chính trị, góp phần ổn định chính trị; (iv) Xây dựng những dự án khả thi kiến nghị với chính phủ nhằm mở rộng các quyền dân sự cho người dân; (v) Xây dựng một xã hội hòa giải, khoan dung và nhân bản. Cũng cần nhấn mạnh là hiện nay Chính phủ không cấm việc học tập các ngành này.

    Để đạt được những mục tiêu đó, người học cần chọn các chương trình thạc sỹ nghiên cứu (nghĩa là có viết luận văn tốt nghiệp) hoặc là tiến sỹ thì càng tốt. Trên thực tế, để đạt được mục tiêu (ii), (iii), (iv), (v), có thể chỉ cần theo học bậc thạc sỹ nghiên cứu rồi sau đó tự nghiên cứu thêm. Mục tiêu (i) thì tốt nhất nên học tiến sỹ. Các chương trình thạc sỹ có thể kéo dài 1-2 năm, (Trong khi các chương trình tiến sỹ thường kéo dài 3-5 năm, tùy quốc gia, và tùy người học đã có bằng thạc sỹ hay chưa, và bằng đó có được công nhận ở trường đó hay không. Chương trình tiến sỹ về triết học, xã hội học có thể lâu hơn các ngành khác 1-2 năm.) Tuy nhiên không nhất thiết phải chọn ngành học chính là Khoa học Chính trị hoặc Xã hội học để có thể nghiên cứu về Chính trị và Xã hội học Chính trị. Ứng viên có thể chọn chương trình thạc sỹ một ngành khác: ví dụ thạc sỹ về Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu Châu Á, Nghiên cứu Đông Nam Á, Phân tích Xã hội, Chính sách Xã hội, Khoa học Xã hội, Phát triển, Nhân Quyền, Dân Chủ, thậm chí Nghiên cứu về Giới v.v…rồi chọn bổ sung những môn chính trị (Triết học Chính trị, Kinh tế Chính trị, Xã hội học Chính trị, Chính trị So sánh, Chính trị Quốc tế v.v…) và chọn đề tài luận văn tốt nghiệp liên quan đến chính trị. Nếu học tiến sỹ các ngành này thì có thể thời gian ngắn hơn là học tiến sỹ Xã hội học hay Triết học.

    Những ngành này đặc biệt phù hợp với những người từng trải, đã có kinh nghiệm làm việc, cho nên hầu như không có giới hạn độ tuổi xin học. Càng nhiều kinh nghiệm sống, nghiên cứu càng tốt. Samuel Huntington, giáo sư khoa học chính trị nổi tiếng của Mỹ, viết cuốn sách quan trọng nhất của đời mình, cuốn “Sự Va chạm của Các Nền Văn Minh”, vào năm 66 tuổi, và còn tiếp tục giảng dạy đến năm 80 tuổi. Những người ngoài 40 tuổi có thể sẽ khó khăn hơn để kiếm học bổng/hỗ trợ tài chính. Tuy nhiên, nếu họ có thể tự trang trải chi phí học thạc sỹ 1-2 năm thì bao nhiêu tuổi vẫn xin học được. Hoặc nếu họ đã có những kinh nghiệm thực hành chính trị, hoặc phong trào, hoặc thể hiện được năng lực lãnh đạo thì có thể vẫn có thể xin được hỗ trợ tài chính.

    Cao học về Triết học và Pháp lý thường đòi hỏi ứng viên xin học đã có bằng tốt nghiệp đại học và có một số tín chỉ về Triết học hoặc Pháp lý. Nhưng nếu chọn cao học Khoa học Chính trị, Xã hội học (để nghiên cứu về Xã hội học Chính trị), hoặc Kinh tế (để nghiên cứu Kinh tế Chính trị), ứng viên có thể tốt nghiệp đại học ở bất kỳ ngành nào, miễn là chứng minh được năng lực tư duy (ví dụ điểm trung bình đại học khá) và tâm huyết đối với ngành mình xin học.

    Về học bổng và hỗ trợ tài chính, hiện nay có rất nhiều học bổng của các quốc gia phát triển dành cho Việt nam và các học bổng/hỗ trợ tài chính từ các trường đại học. Điều kiện chung để học thạc sỹ thường là năng lực học vấn tốt và tâm huyết với ngành muốn theo học. Tuy nhiên, những người đã có bằng chứng về hoạt động chính trị, hoạt động phong trào, hoặc năng lực lãnh đạo sẽ rất thuận lợi để có thể xin học bổng, hoặc hỗ trợ tài chính. (Ví dụ thông thường, điểm trung bình học phải ở mức giỏi, thuộc nhóm đầu lớp/khóa ở bậc đại học mới xin được học bổng. Tuy nhiên, một người có bằng chứng về các hoạt động/năng lực trên thì điểm trung bình có thể chỉ cần mức khá). Nếu thành tích học tập đại học thuộc loại giỏi, có thể theo học tiến sỹ ở Mỹ hoặc một số trường ở các nơi khác luôn, không cần có bằng thạc sỹ trước đó.

    Cao học Triết học: Trên thực tế, học cao học Triết học bằng tiếng nước ngoài rất khó (vì đòi hỏi cao về năng lực ngoại ngữ) và nhiều chuyên ngành triết học rất khó. Tuy nhiên may mắn là những ngành có nhiều ứng dụng thực tiễn như Triết học Chính trị, Đạo Đức, Triết học Xã hội, Triết học Ứng dụng…là những ngành tương đối dễ học của Triết học. Ngoài ra, học Triết học Chính trị từ khoa Khoa học Chính trị sẽ dễ hơn là học ở Khoa Triết học, bởi cách tiếp cận giống như các ngành KHXH khác, không nặng về tư biện như học ở Khoa Triết học. Không nhất thiết phải học cao học Triết học mới có thể học Triết học Chính trị, Đạo đức, Triết học Xã hội, Triết học Ứng dụng…bởi có thể chọn học các ngành KHXH&NV khác rồi bổ xung các tín chỉ này. Triết học nguyên gốc và hiện đại thiên về giải thích thế giới hơn là cải tạo thế giới. (Karl Marx, John Locke, Jean Rousseau…không phải là những triết gia thuần túy mà còn là các nhà xã hội học, luật gia, nhà văn, cho nên ý thức cải tạo xã hội của họ mạnh mẽ.) Thế nên, những người muốn thường xuyên tư vấn, phản biện luật và chính sách của chính phủ, thì nên chọn các ngành cao học KHXH khác.

    Cao học Luật/Pháp lý: Những người theo học ngành này có thể lấy thêm các tín chỉ về Kinh tế Chính trị và Xã hội học Chính trị, nếu có thời gian, để hoàn thiện hiểu biết và đánh giá vấn đề toàn diện hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh các chuyên gia pháp lý và chính trị trình độ cao của Việt nam đang thiếu trầm trọng, càng hiểu biết nhiều lĩnh vực sẽ càng hữu ích. Chưa kể, chức năng nghề nghiệp của các luật gia cho phép họ phát biểu về các vấn đề chính trị như quyền dân sự đỡ nhạy cảm hơn các ngành khác ở Việt nam.

    Cao học Kinh tế: (để nghiên cứu Kinh tế Chính trị). Ngành này nghiên cứu về các mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị: giữa Dân chủ và Phát triển, hay giữa Cơ chế chính trị và Bất bình đẳng giàu nghèo, Hòa giải, Khoan Dung, Chính sách Đất đai, Tham nhũng và Minh bạch, Chủ nghĩa Tư bản Thân hữu v.v. Ở phương tây, ngành học này đặc biệt phù hợp với những người có năng lực toán học tốt. Tuy nhiên,nếu có thời gian, nên lấy thêm các tín chỉ về Triết học Chính trị (có thể lấy từ Khoa học Chính trị) và Xã hội Chính trị để hoàn thiện hiểu biết. Hiện nay ở Việt nam, số người có bằng cao học kinh tế ở nước ngoài cũng không ít và hầu hết đều có khả năng phân tích chính trị. Tuy nhiên, các lĩnh vực truyền thống của ngành kinh tế cũng rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết, cho nên vẫn có quá ít người quan tâm nghiên cứu sâu về kinh tế chính trị, và cần đào tạo thêm.

    Cao học Xã hội học: (để nghiên cứu Xã hội học Chính trị). Ngành này nghiên cứu về Đảng phái, Đa nguyên, Hòa giải, Khoan dung, Xã hội Dân sự, Công đoàn, Nghiệp đoàn, Hội đoàn Độc lập, Nhóm lợi ích, Phong trào Xã hội, Quyền lực Chính trị, Bầu cử, Biểu tình, Đình công, v.v… và cả các vấn đề nóng bỏng của xã hội Việt nam chẳng hạn như Chính sách đất đai, Tham nhũng, Minh bạch, Bất bình đẳng. Những người không thích toán lắm hoặc đặc biệt quan tâm đến những vấn đề trên có thể lựa chọn học ngành này. Học cao học về Xã hội học có thể rèn luyện kỹ năng nghiên cứu về nhiều vấn đề xã hội khác nhau chứ không chỉ về Xã hội học Chính trị.

    Cao học Chính trị: Ngành này có thể học ở khoa Khoa học Chính trị. Khoa học Chính trị là tên chung của một lĩnh vực đa ngành (có thể bao gồm Kinh tế chính trị, Chính sách Công, Lý thuyết Chính trị, Chính trị So sánh, Quan hệ Quốc tế, Phương pháp luận Chính trị…). Người học ngành này có thể bổ sung kiến thức về Xã hội học Chính trị để hoàn thiện hiểu biết.

    Trên đây chỉ là giới thiệu sơ bộ về du học cao học các môn cơ sở ngành pháp lý và chính trị ở nước ngoài. Những người quan tâm cần tham gia vào các trang, nhóm du học để tìm hiểu thêm. Người học cần cố gắng tập trung vào việc học, rèn luyện tư duy khách quan, liêm chính của nhà khoa học, bởi đó là những phẩm chất quan trọng để phục vụ quốc gia lâu dài với tư cách một nhà nghiên cứu.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    [1] Phạm Văn Đức, ‘Một số suy nghĩ về nghien cứu triết học ở Việt nam trong kỷ nguyên toàn cầu hiện nay’, Tạp chí Triết học, 2006

    [2] Nguyễn Thái Sơn,’Mấy suy nghĩ về việc nâng cao chất lượng đào tạo-giảng dạy triết học trong các trường đại học ở nước ta hiện nay’, 2010

    [3] Nguyễn Văn Quân,’Bàn về triết học pháp luật trong mối tương quan với lý luận chung về pháp luật’, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 31, Số 3, 2015

    [4] Đỗ Đức Minh, Nguyễn Thị Hoài Phương,’Bàn thêm về khái niệm “Nguồn pháp luật”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học Tập 33, Số 3, 2017

    [5] Phan Văn Kiền, ‘Một số vấn đề của các tạp chí khoa học Việt Nam tham gia phản biện khoa học và phản biện xã hội’, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, 31, Số 2, 2015

    [6] Phạm Quang Minh, ‘Chính trị, khoa học chính trị và đào tạo khoa học chính trị ở Việt Nam: Cơ hội và thách thức’, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, 26, 2010

    [7] Ví dụ: http://congan.com.vn/tin-chinh/chinh-tri-thoi-su/phong-chong-hoat-dong-loi-dung-xa-hoi-dan-su-de-chong-pha-dang-nha-nuoc_42589.html

    http://cand.com.vn/Chong-dien-bien-hoa-binh/Chieu-thuc-chong-pha-moi-cua-cac-the-luc-thu-dich-tren-linh-vuc-tu-tuong-van-hoa-505736/

    [8] Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thị Thu Hương,‘ Bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong pháp luật hành chính Việt Nam’, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học 28, 2012

    [9] https://baomoi.com/hang-loat-gs-pgs-khong-co-bai-bao-isi-scopus/c/24858472.epi

    https://thanhnien.vn/giao-duc/nghich-ly-giao-su-pho-giao-su-sung-so-truoc-nhung-con-so-824619.html

    [10] https://news.zing.vn/he-thong-phap-luat-viet-nam-phuc-tap-nhat-the-gioi-post425141.html

    https://dantri.com.vn/kinh-doanh/tranh-chap-dat-dai-chiem-80-tong-so-khieu-nai-1408547861.htm

    http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/viet-nam-dan-dau-va-nhat-the-gioi-231203.html

    [11] Paul D’Ambrossio, ‘Teaching Philosophy to Chinese Students in Mainland China as a Foreign Professor’, Teaching Philosophy, 2018

    [12] http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2007/451/Xa-hoi-dan-su-Tu-kinh-dien-Mac-Lenin-den-thuc.aspx

    http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/hieu-dung-ve-xa-hoi-dan-su-o-viet-nam-448711

    [13] https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/tong-bi-thu-tranh-nhat-dang-kho-doan-xa-roi-chinh-tri-3682756.html

    [14] https://knoema.com/sijweyg/world-gdp-per-capita-ranking-2017-data-and-charts-forecast

    (World GDP per capita ranking).

    https://e.vnexpress.net/news/business/data-speaks/vietnamese-labor-productivity-among-lowest-in-asia-despite-growth-report-3747080.html

    [15] Báo cáo Tổng quan Việt nam 2035, Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2016

    https://www.economist.com/asia/2017/06/15/property-disputes-are-vietnams-biggest-political-problem

    https://www.bloomberg.com/news/articles/2018-06-18/in-vietnam-discontent-lurks-under-surface-of-economic-success

    http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/tieudiem/khat-vong-viet-nam-dang-o-dau-492240.html

    https://www.hoover.org/research/rise-crony-capitalism

    http://soha.vn/khong-dat-duoc-muc-tieu-tro-thanh-nuoc-cong-nghiep-hien-dai-vao-nam-2020-20160412220115189.htm

    [16] http://www.tiasang.com.vn/-dien-dan/Thuc-day-tinh-than-cong-dan--13972

    [17] http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/xay-dung-phap-luat.aspx?ItemID=161

    [18] https://baomoi.com/chinh-phu-ly-giai-vi-sao-luat-bieu-tinh-luat-ve-hoi-chua-xong/c/28277704.epi

    https://dantri.com.vn/chinh-tri/luat-ve-hoi-khong-the-thong-qua-dang-le-buon-nhung-chung-toi-lai-vui-20180301183959226.htm

    [19] http://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/doi_moi_day_triet_hoc_trong_truong_dai_hoc-e.html

    [20] http://philosophy.vass.gov.vn/nghien-cuu-theo-chuyen-de/Triet-hoc-Viet-Nam/Tiep-tuc-doi-moi-nghien-cuu-va-giang-day-triet-hoc-o-nuoc-ta-376.html

    [21] https://dantri.com.vn/kinh-doanh/tranh-chap-dat-dai-chiem-80-tong-so-khieu-nai-1408547861.htm

    [22] http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/chuyen-dich-co-cau-nganh-kinh-te-cua-viet-nam-thanh-tuu-va-kien-nghi-131892.html

    [23] https://nld.com.vn/cong-doan/thich-thi-di-lam-khong-thich-thi-nghi-20170730081418236.htm

    [24] Nguyễn Trung Hiệp,’Bản chất chế độ Dân chủ ở Hàn quốc hiện nay’, ĐH KHXH&NV, ĐH Quốc gia TP HCM.

    [25] http://uis.unesco.org/apps/visualisations/research-and-development-spending/?fbclid=IwAR0DFOgQqghVdrVBH4u4CpvwKBBmgZ8JFm8Rf3rlN6nMKEHtJDWagk8z8mM

    [26] Santacreu, A. ‘The New World Leader in Innovation’, On the Economy Blog, Federal Reserve Bank of St. Louis, 2017

    [27]http://www.worldbank.org/content/dam/Worldbank/document/EAP/Vietnam/Vietnam-STI-review-executive-summary-TIENGVIET-FINAL.pdf

    [28] https://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/vi-mo/viet-nam-dat-muc-tieu-gdp-binh-quan-dat-10-000-usd-vao-2035-3849600.html

    [29] https://news.zing.vn/de-an-dao-tao-tien-si-khong-dat-kien-nghi-thu-hoi-50-ty-tu-bo-gd-dt-post810210.html

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi