Nhân vụ GS Chu Hảo, nghĩ về việc xây dựng một tầng lớp học giả pháp lý và chính trị đẳng cấp, liêm chính và nhân bản (2)

  • Bởi Admin
    13/12/2018
    0 phản hồi

    Nguyễn Kiều Dung

    I. SỰ THIẾU VẮNG TƯ DUY KHÁCH QUAN VÀ NHÂN BẢN VỀ PHÁP LÝ VÀ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

    Đại đa số các tổ chức chính trị đối lập liên quan đến Việt nam hiện nay khuyến khích công dân thực hành hoạt động chính trị, trong khi việc khuyến học để trở thành các nhà nghiên cứu chưa được chú trọng. Đôi khi các tổ chức này cũng có những học giả đầu tư nhiều thời gian nghiên cứu để viết các đề án/bài phân tích Chính trị. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi quan điểm của tổ chức mà họ tham gia, chưa kể bản thân họ có thể là những người thực hành hoạt động chính trị tích cực, nhiều người trong số đó thường cho ý kiến không khách quan. (Các đảng phái/tổ chức lớn hàng triệu thành viên, có sức sống mạnh mẽ, thường có khả năng chấp nhận những thành viên có tư duy mâu thuẫn với lập trường chính trị của tổ chức, để phê và tự phê, hơn các tổ chức/nhóm chính trị nhỏ). Trên thực tế, nhiều ý kiến của các tổ chức chính trị đối lập chỉ phản ánh quan điểm của các nhóm lợi ích.

    Đội ngũ luật sư tham gia các hoạt động chính trị, xã hội rất đông. Tuy nhiên, cũng giống như các doanh nhân thực hành kiến thức kinh doanh, luật sư là những người thực hành nghề luật, và có rất ít thời gian giành cho việc nghiên cứu. Trên thực tế, luật sư thường chỉ bảo vệ lợi ích cho các nhóm công dân (cũng là các nhóm lợi ích), chứ không có thời gian để nghiên cứu những vấn đề pháp lý, dung hòa lợi ích của nhiều nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội, để đưa ra những giải pháp bền vững cho quốc gia.

    Ý kiến của tất cả các nhóm lợi ích trong xã hội đều đáng được quan tâm. Trong số các quan điểm đó, cũng có những thứ song trùng với lợi ích của quốc gia. Tuy nhiên, để biết quan điểm nào thực sự đem lại sự phát triền lâu dài của quốc gia thì cần những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, đánh giá một cách khách quan. Thông thường những người này làm việc ở trường đại học và viện nghiên cứu, hoặc các tổ chức nghiên cứu của nhà nước hoặc tư nhân,

    Đương nhiên, không phải nhà nghiên cứu chuyên nghiệp nào cũng đủ năng lực và sự liêm chính để đánh giá các vấn đề chính trị. Khoa học chính trị là một ngành nhạy cảm, hơi khác các ngành khoa học khác. Có nhiều giáo sư chính trị phương tây (và Việt nam) phát biểu dựa trên lợi ích của nước họ hoặc dựa trên quan điểm của đảng pháp/tổ chức mà họ công khai hoặc bí mật tham gia. Những bất cập của đội ngũ nghiên cứu về Pháp lý và Chính trị ở Việt nam sẽ được trình bày chi tiết ở các phần sau. Cộng đồng các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp có khả năng đánh giá nhà nghiên cứu nào là đủ năng lực và liêm chính. Tuy nhiên nhiều người khác, đặc biệt là những người trẻ, không đủ kinh nghiệm và kiến thức để biết điều này.

    Một vấn đề khác của xã hội Việt nam là thiếu sự khoan dung và nhân bản. Điều này có nguyên do nặng nề từ quá khứ. Lịch sử đã để lại cho dân tộc ta một di sản đầy chia rẽ là một cộng đồng gắn bó với chế độ Việt nam Cộng hòa, và có nhiều bất mãn, thù hận với chính quyền hiện nay. Tăng cường dân chủ luôn luôn phải đi kèm với khoan dunghòa giải để tránh những xáo trộn đau đớn. Nước Mỹ đã rất vất vả để chống lại chủ nghĩa McCathy (chủ nghĩa chống Cộng cực đoan). Ngày nay nước Mỹ và các quốc gia phương vẫn có đảng Cộng sản, và những người cộng sản từ các quốc gia khác như Philippines, Singapore sang Mỹ tị nạn được luật pháp Mỹ bảo vệ để tiếp tục phê phán chính quyền ở quê hương họ. Tôi nghĩ rằng công cuộc chống tham nhũng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hiện nay là đúng đắn để tạo ra một tầng lớp lãnh đạo trong sạch hơn. Tuy nhiên, tất cả các chính quyền ở các xã hội đang phát triển luôn có rất nhiều khuyết tật cố hữu, và rất cần tư duy hòa giảikhoan dung để giải quyết và thúc đẩy dân chủ hóa. Chính vì vậy, cần xây dựng đội ngũ học giả pháp lý và chính trị trình độ cao để nâng cấp nền học thuật nước nhà, cải cách hệ thống luật, cơ chế, chính sách, và nghiên cứu các thể chế/chính sách nhân bản trên thế giới (ví dụ như Ủy ban Sự thật và Hòa giải của Nam Phi, Canada, Đức, Ma rốc, El Salvado, Philippines, Congo…) và các biện pháp ổn định xã hội khác, để áp dụng ở Việt nam, đổng thời lan tỏa những tư tưởng khoan dung trong toàn xã hội. Một số ví dụ về các chính sách hòa giải và khoan dung là những người phạm các tội tham nhũng hoặc vi phạm nhân quyền nếu thành thật khai báo thì sẽ không bị truy tố, hoặc sẽ không truy cứu những cáo buộc liên quan đến chính trị xảy ra trước thời điểm năm 20xx nào đó.

    II. ĐẢNG PHÁI KHÔNG CÓ CHỨC NĂNG THÚC ĐẨY TINH THẦN CÔNG DÂN TRÊN PHẠM VI TOÀN XÃ HỘI

    “Tinh thần Công dân liên quan đến những đức tính và hành vi mà người công dân cần có, như biết kiểm soát bản thân, khoan dung, tôn trọng, quan tâm đến người khác và các vấn đề xã hội, đồng thời cam kết tham gia các hoạt động cộng đồng để hoàn thành trách nhiệm và bổn phận của mình” [16]. Tinh thần Công dân rất quan trọng để tạo ra một cộng đồng hài hòa, bảo vệ thiên nhiên và môi trường, khuyến khích công dân tham gia vào các hoạt động cộng đồng, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, đem lại nhiều ý nghĩa cuộc đời cho mỗi cá nhân.

    Trên thế giới có những tổ chức dân sự rất lớn, chẳng hạn như Tổ chức Hướng Đạo Sinh Hoa kỳ, với 2.4 triệu người, có khả năng thúc đẩy Tinh thần Công dân rất tốt (bao gồm các hoạt động như bổ túc cho giáo dục gia đình và học đường, rèn luyện kỹ năng sống cho thanh niên, giúp họ trở thành công dân tốt, có trách nhiệm, biết trọng danh dự và hữu ích cho xã hội.v.v...). Ở Việt nam cũng có các chi nhánh rời rạc của Tổ chức Hướng đạo Sinh, nhưng tiếc rằng không được phép đăng ký chính thức, và do vậy không thể hợp nhất thành một tổ chức lớn.

    Mặc dù các đảng có thể tạo ra được một số hội nhóm dân sự dưới sự chi phối của mình (ví dụ hội thanh niên, hội phụ nữ, đội thiếu niên v.v…), bản chất đảng phái với những nghi ngờ về tham vọng/tranh giành quyền lực, cùng với những bê bối cố hữu không thể tránh (do các đối thủ chính trị tổ cáo hoặc do đấu tranh nội bộ trong đảng), khiến cho các đảng không phù hợp để trở thành nhân tố chủ đạo thúc đẩy Tinh thần Công dân. Điều này đúng với mọi đảng chính trị.

    Khuyến khích tinh thần công dân xưa nay là việc của các tổ chức dân sự độc lập, các tổ chức văn hóa, và tôn giáo với bộ máy lãnh đạo vô tư, không bị những vấn đề cố hữu gắn liền với quyền lực chính trị khiến đông đảo công chúng nghi ngờ, ác cảm. Nhiều đảng trên thế giới sử dụng hình ảnh của các danh nhân, anh hùng, (ví dụ ở Mỹ là George Washington, Abraham Lincoln, Martin Luther King) để khuyến khích công dân. Tuy nhiên, trong các đảng luôn luôn có những thành viên vào đảng vì ham hố quyền lực, và những người dính vào những tham nhũng lớn khiến cho người dân phẫn nộ, cộng thêm việc các đối thủ chính trị không ngừng phanh phui các bê bối cũng như bôi bẩn khiến cho không đảng nào trên thế giới đủ uy tín để có thể kích hoạt Tinh thần Công dân trên phạm vi toàn xã hội.

    Tôi cho rằng Đảng, Quốc hội và Chính phủ nên để cho các tổ chức dân sự, văn hóa, và tôn giáo được tự do thực hiện chức năng thúc đấy Tinh thần Công dân của họ. Không nên lo lắng về những nguy cơ bất ổn do các tổ chức này gây ra, đặc biệt là những tổ chức mà tôn chỉ, mục đích của nó ít màu sắc chính trị, và chỉ nên cử người tham gia, bí mật giám sát là đủ.

    III. NGHIÊN CỨU CÁC MÔN CƠ SỞ NGÀNH PHÁP LÝ VÀ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

    Vai trò của Triết học đối với KHXH&NV cũng quan trọng tương tự như vai trò của Toán học đối với KHTN&KT.

    Triết học Chính trị là tên gọi khác của Lý thuyết Chính trị. Triết học đặc biệt quan trọng đối với xây dựng và hoàn thiện pháp luật, cơ chế, và chính sách, bởi một trong những mảng quan trọng nhất của Triết học Chính trị là nghiên cứu về Luật pháp và Thi hành Luật. Khoa học Luật Pháp (Jurisprudence), hay còn gọi là Lý thuyết Pháp lý (Legal Theory), là ngành nghiên cứu về các nguyên tắc cơ sở của luật pháp, với sự đóng góp chủ yếu là của các triết gia (những triết gia nổi tiếng nhất gần đây là Herbert Hart, Ronald Dwokin, John Rawls). Ngành học này đặc biệt phổ biến ở các quốc gia theo hệ Thông Luật của Anh-Mỹ. (Việt nam cũng đang học hỏi hệ Thông luật để cải cách mạnh mẽ hệ thống luật pháp [17]). Triết học về Luật pháp (Philosophy of Law hay còn gọi là Legal Philosophy) nghiên cứu về bản chất của luật pháp và các hệ thống luật, mối quan hệ giữa luật pháp và đạo đức và biện minh cho các thiết chế luật pháp. Ngoài ra, lý thuyết của ngành Xã hội học có hai phần: Lý thuyết xã hội và Lý thuyết Xã hội học, trong đó Lý thuyết Xã hội chính là Triết học Lục địa (nghĩa là Triết học thế kỷ 19, 20 ở châu Âu). Triết học là môn cơ sở ngành quan trọng của hầu hết các ngành KHXH&NV khác (v.d. Báo chí, Văn chương, Lịch sử, Giáo dục, Kinh tế, Tâm lý, Nhân học, Ngôn ngữ…). Triết học cũng rất cần thiết đối với các ngành KHTN&KT bởi dạy sinh viên tư duy hoài nghi và khái quát, không chấp nhận điều gì là chân lý vĩnh viễn, rất hữu ích để phát triển năng lực sáng tạo. Triết học còn là nội dung chủ đạo, quan trọng nhất để giáo dục công dân. Mọi đánh giá Phải-Trái-Đúng-Sai về con người thuộc môn Đạo đức, một chuyên ngành của Triết học. Ví dụ, để đánh giá tham nhũng, minh bạch, và nhân quyền thì không thể thiếu tư duy triết học.

    Luật pháp Việt nam kém chính vì năng lực Khoa học Pháp lý (Triết học Chính trị, Lý thuyết Pháp lý và Triết học Luật pháp) yếu kém. Ở phương tây, các nhà nghiên cứu Triết học và Luật học tranh cãi kịch liệt về mọi vấn đề luật pháp và chính sách trên các tạp chí nghiên cứu, tạp chí phổ thông và các diễn đàn (ví dụ về các hiện tượng chính trị, các quyền tự do, quyền của người lao động, quyền riêng tư, quyền của người đồng tính, hợp pháp hóa mại dâm v.v…). Từ kết quả những tranh luận ấy mới sinh ra các điều luật, chính sách, và cơ chế thi hành. Những nước đi sau như Việt nam có thể sao chép nguyên xi nhiều điều luật của phương tây. Tuy nhiên, rất nhiều điều luật mới cần phải tự xây dựng để phù hợp với hoàn cảnh Việt nam, và do vậy rất cần năng lực Triết học. Nhưng trên thực tế, rất hiếm khi thấy các nhà nghiên cứu Triết tham gia tranh luận về các vấn đề ấy (ngoại trừ những bài viết tuyên truyền cho chủ trương. chính sách của nhà nước). Do đề cao chủ nghĩa Marx-Lenin, nghiên cứu Triết học Chính trị thời sau Marx không được quan tâm cho nên không hỗ trợ gì cho Luật pháp. Trong khi đó, Lý thuyết Pháp lý và Triết học Luật pháp thì hầu như chưa tồn tại [3]. Có thể nói, các nhà nghiên cứu triết học Việt nam không tham gia gì đáng kể vào việc lập pháp và hoạch định chính sách, điều lẽ ra thuộc trách nhiệm của họ.

    Ngoài ra, có vô số vấn đề về Triết học Đạo đức, Triết học Xã hội, và các Triết học khác rất thiết thực (ví dụ các vấn đề chính trị, tham nhũng, minh bạch, phim ảnh khiêu dâm, đạo đức lãnh đạo, đạo đức kinh doanh, cha mẹ đơn thân, sống thử, nạo phá thai, cấy ghép nội tạng, triết lý giáo dục, tự do trên mạng, ăn thịt động vật, đánh giá các nhân vật lịch sử, nghĩa vụ công dân, ý nghĩa cuộc đời, đạo đức Robot và A.I v.v…và nhiều vấn đề phải-trái-đúng-sai liên quan đến con người) rất hiếm khi thấy các nhà nghiên cứu Triết học Việt nam tham gia tranh luận, cả trên các tạp chí khoa học lẫn báo chí phổ thông. Trong khi đó ở phương tây, các chủ đề đó mở ra những “cơ hội chém gió” quý báu cho các Triết gia. Lý do là Việt nam hầu như không có Triết học Xã hội và Triết học Ứng dụng, còn Triết học Đạo đức thì xa rời thực tế. Các nhà KHXH&NV khác có tham gia tranh luận, nhưng đa phần đóng góp nhiều ý kiến khá lạc hậu, thiếu cập nhật. Có lẽ họ không đọc các tài liệu thảo luận Triết học của thế giới về những chủ đề này.

    Có những giảng viên Triết trả lời rất dài trên báo về tầm quan trọng của việc học Triết học nhưng không nêu được một ứng dụng thực tiễn nào. Chính vì sự xa rời thực tế ấy cho nên sinh viên Việt nam không hiểu học Triết để làm gì. Trong khi Triết học đâu phải chỉ toàn siêu hình, trừu tượng. Ở phương tây, những tranh luận triết học như vậy rất phổ biến. Ý kiến của các nhà nghiên cứu Triết giữ vai trò rất quan trọng để định hướng dư luận, xây dựng hệ thống luật pháp, cơ chế và chính sách quốc gia, và làm cơ sở cho hệ thống chính sách của các tổ chức quốc tế. Các Triết gia phương tây trở thành biểu tượng xã hội (public figure) chính nhờ tham gia tranh luận những vấn đề rất thiết thực như vậy.

    Về Khoa học Chính trị, đây là một ngành học đặc biệt quan trọng để hiểu được cấu trúc của hệ thống chính trị và hành chính, hoạch định chính sách đối nội, đối ngoại, so sánh, đánh giá quan điểm và chủ trương của Việt nam và thế giới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội. Tuy nhiên ở Việt nam, ngành này dường như chỉ là một công cụ tuyên truyền. Một nghiên cứu của Đại học KHXH&NV cho biết: “Một thực trạng ở rất nhiều tạp chí, đặc biệt là tạp chí khoa học là tính chất thông tin, cổ vũ, tuyên truyền cho các chủ trương, chính sách, văn bản... của Đảng, Nhà nước và các chính sách của từng ngành vẫn đang lấn át những bài viết mang tính phản biện thực sự hoặc thảo luận, tranh luận về một vấn đề mang tính học thuật. Cũng dùng các phương pháp nghiên cứu, cũng đụng chạm đến các nội dung liên ngành, nhưng các tạp chí khoa học hiện nay dường như đang “tránh” hoặc “sợ” khi chạm tới các vấn đề tranh luận mang tính học thuật. Thí dụ: Trên các tạp chí Khoa học về chính trị, các tạp chí phân tích rất sâu, rất kỹ và khá nhiều về sự đúng đắn của các chủ trương, chính sách được ban hành, các văn bản luật và dưới luật được phổ biến... nhưng những bài viết mang tính phản biện xã hội sâu sắc thì đang xuất hiện rất hạn chế. Tất nhiên, phản biện trong khoa học phải có bằng chứng và phân tích thấu đáo. Bởi vậy, nhược điểm này có thể do hai nguyên nhân: Hoặc là đội ngũ nghiên cứu ở Việt Nam chưa đủ trình độ để phản biện các vấn đề đó. Hoặc là các tạp chí còn “sợ” sự nhạy cảm khi đụng chạm đến vấn đề chính trị. Đã chọn hướng an toàn thì tốt nhất là không đăng các vấn đề nhạy cảm. Chính điều này đã làm giảm đi tính đặc trưng rõ rệt của các tạp chí nghiên cứu, biến hệ thống tạp chí này trở thành một loại hình thông tin tuyên truyền,cổ vũ cho các chính sách hơn là phản biện lại các chính sách để hoàn thiện nó. Một ví dụ khảo sát trên 4 tạp chí về khoa học chính trị (Tạp chí Cộng sản, tạp chí Lý luận Chính trị, tạp chí Khoa giáo và tạp chí Kinh tế và Chính trị thế giới) cho thấy kết quả phản biện bị các nội dung khác lấn át”. Cụ thể, tổng số bài báo xuất bản (trong hai năm 2010 và 2011), của 4 tạp chí (Cộng sản, Khoa giáo, Kinh tế & Chính trị Thế giới, Lý luận Chính trị) lần lượt là 497, 383, 212, và 319. Trong đó, tỷ lệ số bài có nội dung phản biện chính trị chỉ chiếm: 3,6%; 2,8%; 0%; và 18%. [5]. Các tạp chí khoa học còn giả dối như vậy, không có gì ngạc nhiên, hệ thống truyền thông đại chúng cũng đầy rẫy giả dối, chủ yếu chỉ tuyên truyền, ca ngợi, chứ không phải là phản biện chính trị đúng nghĩa.

    Một môn cơ sở thiết yếu để xây dựng hệ thống luật pháp và cơ chế đáp ứng nguyện vọng của người dân là Xã hội học Chính trị. Xã hội học Chính trị nghiên cứu những nội hàm của một xã hội dân chủ: Đảng phái, Đa nguyên, Hòa giải, Khoan dung, Xã hội Dân sự, Công đoàn, Nghiệp đoàn, Hội đoàn Độc lập, Nhóm lợi ích, Phong trào Xã hội, Quyền lực Chính trị, Bầu cử, Biểu tình, Đình công, v.v… và cả các vấn đề nóng bỏng của xã hội Việt nam chẳng hạn như Chính sách đất đai, Tham nhũng, Minh bạch, Bất bình đẳng. Các tổ chức dân sự độc lập có vai trò quan trọng để xây dựng nhà nước pháp quyền và đảm bảo các quyền tự do cho công dân. Tuy nhiên Quy định 102-QĐ/TW ban hành cuối năm ngoái nêu rõ đảng viên không được đòi thực hiện xã hội dân sự, tam quyền phân lập, đa nguyên đa đảng. Việc này, tuy chỉ đề cập đến đảng viên, nhưng đương nhiên ảnh hưởng rất xấu đến nghiên cứu Xã hội học Chính trị, bởi lẽ Đảng lãnh đạo toàn diện mọi lĩnh vực chính trị, xã hội ở Việt nam.

    Ngoài ra, còn phải kể đến Kinh tế Chính trị, môn học nghiên cứu về các mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, trong đó bao gồm những vấn đề nóng bỏng nhất ở Việt nam: ví dụ Chính sách Đất đai, mối quan hệ giữa Dân chủ và Phát triển, Cơ chế chính trị và Bất bình đẳng Giàu nghèo, Hòa giải, Khoan Dung, Tham nhũng, Minh bạch, Chủ nghĩa Tư bản Thân hữu v.v…Khác với Việt nam, ở phương tây môn học Kinh tế Chính trị thường không nằm ở Khoa Khoa học Chính trị mà thuộc Khoa Kinh tế. Quan trọng hơn, Kinh tế Chính trị ở Việt nam là Kinh tế Chính trị Marx-Lenin, nghĩa là mâu thuẫn với chiến lược phát triển Kinh tế Thị trường của quốc gia. Những người quan tâm đến hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách cần phải am hiểu kinh tế, bởi các chính phủ luôn đặc biệt quan tâm đến phát triển kinh tế và các chỉ số kinh tế luôn luôn là những thước đo quan trọng nhất để đo lường hiệu quả điều hành của Chính phủ.

    Việc xây dựng và sửa đổi luật, cơ chế, chính sách liên quan đến các quyền dân sự ở Việt nam có nhiều bất thường. Chẳng hạn, Luật Biểu tình đã được quy định trong Hiến pháp từ 2013 nhưng Quốc hội trì hoãn thông qua hết năm này qua năm khác. Dự thảo Luật về Hội 2018 có nhiều điểm còn tệ hơn pháp luật hiện hành. Việc nghiên cứu, soạn thảo các luật đó và phát triển các quyền dân sự không phải là việc riêng của các luật gia, mà cần có sự tham gia của các nhà nghiên cứu Triết học, Xã hội học Chính trị, Kinh tế Chính trị, và Khoa học Chính trị. Thông qua hệ thống truyền thông, Đảng và Chính phủ luôn khẳng định nỗ lực phát triển các tổ chức dân sự và các quyền dân sự hiến định, nhưng thực tế không như vậy [18].

    Đã có một số giáo sư các ngành Chính trị là Việt kiều hoặc người nước ngoài quan tâm đến chính trị Việt nam nhưng nhiều người trong số đó chỉ chú trọng hỗ trợ giới thực hành chính trị (ví dụ tổ chức biểu tình tự phát) chứ không khuyến khích tập trung vào nghiên cứu. Có nghĩa là, mặc dù là giáo sư Chính trị nhưng họ chỉ quan tâm đến Việt nam với tư cách một nhà hoạt động chính trị chứ không khuyến khích nghiên cứu để cải tổ hệ thống luật pháp và xây một nền học thuật bền vững.

    Nói vắn tắt, cơ sở tri thức của hệ thống luật, cơ chế, và chính sách, và chính trị của Việt nam đang trong tình trạng yếu kém nghiêm trọng và tương lai rất mờ mịt. Ngoài việc tuyên truyền, cổ vũ cho chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, nghiên cứu của các ngành này ở Việt nam không phải là khoa học đúng nghĩa, không có tính phản biện hiệu quả để phục vụ các chiến lược phát triển Kinh tế-Xã hội của quốc gia. Đây là sự giả dối nghiêm trọng trong khoa học, dẫn đến sự giả dối tràn lan trên hệ thống báo chí truyền thông, núp dưới hình thức tuyên truyền, cổ vũ cho chủ trương, chính sách của Nhà nước.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi