Nhân vụ GS Chu Hảo, nghĩ về việc xây dựng một tầng lớp học giả pháp lý và chính trị đẳng cấp, liêm chính và nhân bản (3)

  • Bởi Admin
    13/12/2018
    0 phản hồi

    Nguyễn Kiều Dung

    IV. GIẢNG DẠY CÁC MÔN CƠ SỞ NGÀNH PHÁP LÝ VÀ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

    Từ đầu thập kỷ 1990 đến nay, Đảng và Chính phủ rất chú trọng đào tạo nhân lực cho các ngành Chính sách Công/Hành chính Công/Quản lý Công để tăng cường năng lực quản lý và hình ảnh của đội ngũ công chức. Tuy nhiên, các ngành này ở Việt nam thường chỉ đào tạo ở bậc cao học. (Các cán bộ/công chức nhà nước đã có bằng đại học thường được khuyến khích học thêm các ngành đó để nâng cao trình độ). Việc đào tạo Triết học và lý luận ở bậc đại học, cao đẳng chỉ nhằm tuyên truyền cho chủ trương, chính sách Nhà nước. Sinh viên của tất cả các ngành bắt buộc phải học 3 môn lý luận: (Những Nguyên lí Cơ bản của Chủ nghĩa Marx-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản. Môn Những nguyên lí Cơ bản của Chủ nghĩa Marx-Lenin bao gồm 3 học phần: Triết học Marx-Lenin, Kinh tế Chính trị Marx-Lenin, và Chủ nghĩa Xã hội Khoa học).

    Nhiều nhà khoa học đã phản đối đào tạo lý luận chính trị bậc đại học ở Việt nam. Thật ra, 3 môn lý luận đỏ chỉ là yêu cầu bắt buộc đối với các chương trình do Bộ Giáo dục cấp bằng. Tất cả các chương trình liên kết tại Việt nam do nước ngoài cấp bằng không bắt buộc phải học các môn đó, và có thể sử dụng hoàn toàn chương trình của nước ngoài.

    Về Khoa học Chính trị, GS. Phạm Quang Minh, hiệu trưởng trường đại học KHXH&VN cho biết: “Điểm yếu nhất trong chương trình đào tạo chính trị học là cách tiếp cận liên ngành, mà ngành chính trị học là một trong những ngành đòi hỏi kiến thức của nhiều ngành khác như lịch sừ, kinh tế, luật, xã hội học, tâm lý học... Có rất ít sự tích hợp, phối “kết hợp” (integration) giữa các môn học và các môn học dường như không gắn kết với nhau để tạo thành một chương trình hoàn chỉnh. Một sổ môn học cốt lõi bắt buộc đối với sinh viên ngành khoa học chính trị ở nước ngoài ví dụ như “Phân tích Chính sách” (Policy Analysis), “Kinh tế Chính trị quốc tế’’ (International Political Economy), '‘Các học thuyết chính trị” (Political Theories)... không được giảng dạy một cách đầy đù hoặc hoàn toàn không được giới thiệu. Sự thiếu hụt một số môn học bổ trợ (nhưng vô cùng quan trọng) như kỹ năng và phương pháp nghiên cứu, thống kê, ngoại ngữ…đã làm giảm chất lượng cùa ngành học và khả năng ứng dụng cùa sinh viên”. “Không giống như các chương trình đào tạo ngành khoa học chính trị ờ các trường đại học tiên tiến, chương trình đào tạo ngành chính trị học ở Việt Nam vẫn chưa tập trung vào các vấn đề chuyên sâu của khoa học chính trị như các học thuyết chính trị, chính trị học so sánh và quan hệ quốc tế” [6].

    Sinh viên một số ngành như Báo chí, đặc biệt là Luật, cũng được học một số môn liên quan đến Triết học. Tuy nhiên, chương trình cử nhân Luật của Việt nam tương đối khác với chương trình cử nhân Luật của thế giới (ví dụ sinh viên không được học Lý thuyết Pháp lý, Triết học Luật Pháp, Xã hội học Pháp luật. Triết học Chính trị thì rất khác với các quốc gia phát triển). Vậy nên bằng cử nhân luật của Việt nam khó được công nhận tương đương để học tiếp lên cao ở nhiều trường uy tín của thế giới, dẫn tới hạn chế đội ngũ luật gia có trình độ cao. Hiện giờ cũng có một số chương trình đào tạo liên kết về Luật, bậc thạc sỹ, thường học 1-3 năm ở Việt nam, và 2-3 năm cuối ở nước ngoài để lấy bằng nước ngoài, nhưng đào tạo chủ yếu thạc sỹ luật thương mại và luật dân sự. Chương trình đào tạo của khoa Triết của các trường đại học thì tương đối nhiều các môn Triết học, về mặt số lượng và tên gọi.Tuy nhiên, với thực trạng nghiên cứu Triết đã nêu ở phần trên, không thể kỳ vọng gì ở chất lượng giảng dạy.

    Điều nghiêm trọng hơn cả là việc đào tạo Khoa học Chính trị như vậy chỉ tạo ra những con người hiểu biết phiến diện về Chính trị, và hạn chế năng lực sáng tạo. Với việc giảng viên nghiên cứu Khoa học Chính trị đầy giả dối, chỉ nhằm cổ vũ, tuyên truyền, thiếu trầm trọng tính phản biện như đã nêu, hậu quả tất yếu là sinh viên cũng coi đây là lĩnh vực nhạy cảm không dám phản biện, và trở thành những con rối cơ hội, chỉ hành động chính trị khi được Đảng, Đoàn giật dây.

    Nói vắn tắt, chương trình đào tạo các môn cơ sở Pháp lý và Chính trị bậc đại học ở Việt nam bị chính trị hóa nghiêm trọng dẫn đến rất nhiều vấn đề về chất lượng. Mặc dù các trường đại học đều có các chương trình liên kết quốc tế, đại đa số sinh viên Việt nam không có khả năng theo học các chương trình này vì học phí cao.

    V. SO SÁNH VỚI CÁC QUỐC GIA KHÁC TRONG KHU VỰC

    Triết học Marx-Lenin đã trở thành nỗi ám ảnh kinh niên đối với giới trí thức Việt nam, và được họ coi là căn nguyên kìm hãm sự phát triển của quốc gia. Đã có rất nhiều người phản đối gay gắt thứ Triết học này. Nhiều giáo sư Triết cũng thừa nhận thực trạng buồn của ngành. GS Phạm Văn Đức, viện trưởng viện Triết, viện Hàn lâm KHXH viết: “Tuy nhiên, triết học Marx-Lenin được hình thành và là kết quả của sự khái quát thực tiễn lịch sử của những năm cuối thể ký XIX đầu thế kỷ XX. Do vậy, trong học thuyết của C.Marx, Ph.Engen và V.I.Lenin, ngoài những luận điểm vẫn còn nguyên giá trị định hướng cho hoạt động thực tiễn của chúng ta hôm nay, không tránh khỏi có một số luận điểm không còn phù hợp với những điều kiện lịch sử mới”, “Trong thời gian tới, cần tích cực đào tạo một đội ngũ chuyên sâu về Triết học ngoài-Marx, nếu được thì chuyên sâu về từng tác giả. Trước mắt, trong điều kiện tài liệu tham khảo còn ít, trình độ ngoại ngữ của những người làm công tác nghiên cứu và giảng dạy chưa tốt thì việc tiếp tục đầu tư dịch một số tác phẩm tiêu biểu của các tác giả nổi tiếng thuộc các trường phái triết học khác nhau là hết sức cần thiết” [1]. GS Triết học Nguyễn Trọng Chuẩn, nguyên viện trưởng viện Triết, viết: “Tôi chắc là tất cả đều biết, thậm chí biết rất rõ. Nếu bây giờ tiến hành một cuộc điều tra xã hội học nghiêm túc, thật sự khách quan và cơ bản về sự quan tâm, sự hứng thú của người học các bộ môn Marx - Lenin chúng ta sẽ có những con số đáng để lưu tâm và suy nghĩ.”,”Chúng ta đã nói đến đổi mới tư duy suốt hai mươi năm nay nhưng sự đổi mới tư duy trong lĩnh vực giảng dạy, đào tạo về Triết học thì còn quá chậm” [19]. GS Triết học Dương Phú Hiệp đề nghị: “Hiện nay rất cần biên soạn lại giáo trình triết học theo hướng tăng thêm phần lịch sử triết học trước Marx và triết học hiện đại để qua đó, có cơ sở nhận thức đúng đắn Triết học Marx - Lenin đã kế thừa và phát triển Triết học như thế nào. Đồng thời, cần tìm hiểu kỹ hơn những trào lưu triết học mới, đặc biệt là những khái quát triết học mới trên cơ sở những thành tựu to lớn của cách mạng Khoa học-Công nghệ hiện đại”[20].

    Như đã nêu, các môn cơ sở ngành Pháp lý và Chính trị ở nước ta (Triết học, Luật, Xã hội học Chính trị, Kinh tế chính trị, Khoa học Chính trị) đã tụt hậu nghiêm trọng. Trong khi ấy, các quốc gia phát triển trong khu vực đều có chính sách phát triển các ngành khoa học đồng đều. Ngay từ thời kỳ thực hiện các chính sách khắc nghiệt để chuyển từ nước thu nhập thấp lên trung bình, Lý Quang Diệu, Park Chung Hee, Tưởng Giới Thạch đều có chủ trương thúc đẩy khoa học KHXH&NV song hành với KHTN&KT. Để giờ đây, họ đã có các khoa Triết học, Xã hội học, Chính trị, Luật, và hầu hết các ngành KHXH&NV vào top 50 của thế giới (QS 2018). Ngay cả Trung Quốc, một quốc gia có nhiều điểm tương đồng với Việt nam cũng có 2 trường đại học có khoa Triết vào top 50 của thế giới (ĐH Bắc Kinh và ĐH Nhân Dân Trung hoa), 2 trường khác được xếp hạng từ 51-100 (ĐH Sư phạm Bắc Kinh, ĐH Triết Giang). Học sinh phổ thông Trung Quốc đã tham gia thi Olympic Triết học Quốc tế từ 5 năm nay. Tháng 8/2018, Trung Quốc đã tổ chức thành công Đại hội Triết học Thế giới XXIV, với số lượng nhà nghiên cứu áp đảo các học giả đến từ các quốc gia khác, và tham gia vào đầy đủ các chuyên ban. Các đại học Trung Quốc đã hợp tác nghiên cứu với các trung tâm triết học lớn của thế giới như trung tâm của đại học Harvard, Princeton, New York v.v…Gần đây việc tuyển các giảng viên triết học phương tây vào làm việc toàn thời gian ở các khoa Triết học đã trở thành một xu thế đáng kể [9]. Không khó để lý giải, Trung Quốc muốn trở thành cường quốc hàng đầu thế giới trên mọi lĩnh vực, và do đó họ sẽ không từ chối nghiên cứu bất kỳ học thuyết nào của phương tây. Xã hội học, Kinh tế và nhiều ngành KHXH&NV của Trung Quốc đều có một số trường đạt được thứ hạng cao, trong top 50 của thế giới.

    Phát triển khoa học đòi hỏi chính sách đúng đắn vài chục năm mới thu được thành quả. Sự từ chối những tri thức cơ sở pháp lý và chính trị hiện đại của thế giới đang gây ra sự bất mãn sâu rộng trong giới trí thức và cả sinh viên. Những tuyên truyền thổi phồng về những bê bối của các quan chức chính phủ, sự chối bỏ những nỗ lực và thiện chí của Đảng, Quốc hội, và Chính phủ trong rất nhiều lĩnh vực khác thiết tưởng là những phản hồi mạnh mẽ của giới trí thức, học giả, và sinh viên đối với những chủ trương kìm hãm sự phát triển khoa học của quốc gia.

    VI. CẢI CÁCH LUẬT PHÁP, CƠ CHẾ, VÀ CHÍNH SÁCH: NGHIÊN CỨU PHẢI ĐI TRƯỚC THỰC HÀNH MỘT BƯỚC

    Hầu hết các vấn đề nhức nhối của xã hội Việt nam hiện nay đều có nguyên nhân là sự yếu kém về luật pháp, cơ chế, và chính sách. Tranh chấp đất đai chiếm tới 70-80% số vụ kiện dân sự ở Việt nam là do pháp luật về quyền sử dụng đất, quy hoạch, và sở hữu bất động sản nhiều bất cập [21]. Nạn tham nhũng, ăn cắp của công, thiếu trách nhiệm trong xây dựng dựng cơ bản, và trong các tập đoàn/tổng tông ty nhà nước đều có nguyên nhân là cơ chế, chính sách phòng ngừa, kiểm soát, và trừng phạt không hợp lý. Chuỗi khủng khoảng các trạm thu phí BOT năm 2017 trên toàn quốc là do cơ chế thực thi các dự án BOT thiếu minh bạch. Những bê bối giáo dục năm 2018 như vụ phong giáo sư, phó giáo sư nhiều bất thường, gian lận điểm thi TNPT ở một loạt tỉnh phía Bắc đều do cơ chế phòng ngừa và kiểm soát không tốt. Ngay cả khi có luật, thi hành luật yếu kém là do cơ chế thi hành luật không tốt.

    Thông thường, để xây dựng hoặc cải tổ luật pháp, cơ chế và chính sách, Chính phủ cần mời các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp và các chuyên gia làm tư vấn, phản biện cho các bộ/ngành. Đối với những bộ luật, chính sách, cơ chế quan trọng, Chính phủ thường phải thành lập một đề án nghiên cứu, trong đó chủ trì/trưởng nhóm đề án thường phải là nhà một nghiên cứu chuyên nghiệp. Các thành viên tham gia đề án bao gồm các nhà nghiên cứu khác, các chuyên gia, và chuyên viên hỗ trợ. Lấy ví dụ, theo yêu cầu của hiệp định CPTPP đã ký, Việt nam sẽ phải thành lập một nghiệp đoàn khác để bảo vệ quyền lợi của người lao động bên cạnh tổ chức công đoàn hiện nay. Để xây dựng nghiệp đoàn ấy, Chính phủ cần thành lập một đề án nghiên cứu, trong đó trưởng nhóm nghiên cứu thường là một nhà nghiên cứu chuyên nghiệp có chuyên môn về Nghiệp Đoàn (Xã hội học Chính trị, nếu có), Luật, hoặc Kinh tế Lao động (hoặc Kinh tế Chính trị). Ngoài ra, các thành viên khác tham gia nhóm nghiên cứu có thể là các nhà nghiên cứu/chuyên gia về Triết học Chính trị (lẽ ra là rất cần), Khoa học Chính trị (nếu có), Công đoàn, Tư pháp, Tâm lý, Chính sách Xã hội, An ninh quốc phòng, Hành chính-Nhân sự, đại diện người lao động, đại diện các doanh nghiệp, v.v…Nhóm nghiên cứu ấy sẽ nghiên cứu tài liệu hàn lâm và các tài liệu khác, có thể tham vấn những chuyên gia trong nước và quốc tế khác và công chúng, và thậm chí tiến hành các cuộc điều tra, khảo sát để lấy số liệu hỗ trợ nghiên cứu.

    Vai trò của nhà nghiên cứu chuyên nghiệp trong các đề án do vậy rất quan trọng, bởi mục tiêu đào tạo các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới chính là để nghiên cứu hàn lâm và để tư vấn, phản biện luật, chính sách và cơ chế cho các chính phủ. Những người đó phải có khả năng tra cứu tài liệu hàn lâm, được đào tạo về phương pháp nghiên cứu, và được rèn luyện sự liêm chính, khách quan của nhà khoa học. Họ được học cách điều hòa nhu cầu của các nhóm lợi ích (ví dụ ở đây là nhóm người lao động, nhóm chủ doanh nghiệp…), nhu cầu phát triển của xã hội, và để đánh giá tác động của nghiệp đoàn đối với quốc gia theo nhiều góc độ khác nhau (kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, tâm lý người lao động và công chúng v.v…). Tài liệu hàn lâm quan trọng bởi chúng chứa đựng những nghiên cứu, điều tra, tổng kết về các nghiệp đoàn trên thế giới và đề xuất nhiều mô hình khác nhau. Nhà nghiên cứu chỉ việc rà soát lại để đỡ mất công “phát minh lại cái bánh xe”, lựa chọn và điều chỉnh một mô hình sẵn có phù hợp với hoàn cảnh nước mình.

    Trưởng nhóm nghiên cứu do vậy, thường phải có trình độ tiến sỹ hoặc thạc sỹ đã có kinh nghiệm nghiên cứu. Thực tế, những người không phải là nhà nghiên cứu chuyên nghiệp (ví dụ các luật sư, đại diện giới chủ, đại diện người lao động,…) thường không có thời gian và kỹ năng để nghiên cứu vấn đề một cách toàn diện và thường chỉ bảo vệ quyền lợi của một nhóm lợi ích nào đó. Ý kiến của họ dù rất quan trọng, nhưng nhiều khi phiến diện. Nhà nghiên cứu chuyên nghiệp sẽ thu thập tất cả các ý kiến đó, nghiên cứu đào sâu thêm và đưa ra kết luận cuối cùng.

    Sau khi nhóm nghiên cứu xong sẽ trình đề xuất cuối cùng lên Chính phủ (hoặc Quốc hội hoặc các bộ ngành liên quan). Tuy nhiên, không phải lúc nào đề xuất của nhóm nghiên cứu cũng tốt. Bởi lẽ khi năng lực của đội ngũ nghiên cứu của nhóm kém, hoặc các nhóm lợi ích tác động lên các thành viên chủ chốt của nhóm thì sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của đề xuất. Ví dụ, vừa rồi hai nhóm làm sách giáo khoa tiểu học (nhóm Chống lại Công nghệ Giáo dục và nhóm Ủng hộ Công nghệ Giáo dục) xung đột dữ dội bởi tiền bán sách giáo khoa hàng năm trên toàn quốc lên tới hàng trăm tỷ. Trong khi lẽ ra họ chỉ được quyền cùng với Bộ Giáo dục tham gia xây dựng bộ sách, quyền phát hành và bán các sách đó phải thuộc về Nhà nước để tăng thu ngân sách, nhằm tái đầu tư cho hệ thống trường công lập. Hai nhóm đó có thể bí mật vận động hoặc gây áp lực lên nhóm nghiên cứu hoặc các chuyên viên quản lý ở các bộ liên quan để giành quyền phát hành và bán sách. Dĩ nhiên, có nhiều trường hợp các nhóm lợi ích tác động lên quan chức chính phủ, hoặc các thành viên chủ chốt ở Quốc hội. Chuyện này hầu như nước nào cũng có. Ví dụ, tổng thống Obama rất muốn cấm công dân sử dụng súng nhưng không làm nổi vì các công ty sản xuất vũ khí và công dân các bang miền nam vốn có truyền thống tự do vận động các nghị sỹ chống lại điều đó.

    Hầu hết những vấn đề Chính trị-Kinh tế-Xã hội quan trọng nhất của Việt nam đều là những vấn đề phức tạp, cần phải nghiên cứu nghiêm túc chứ không thể dựa vào trực giác để kết luận đúng sai. Hiện giờ, số lượng ý tưởng gửi rất nhiều, nhưng các bộ/ngành rất bận rộn. Thông thường lãnh đạo các bộ/ngành sẽ giao cho các chuyên viên nghiên cứu và đánh giá các ý tưởng đó. Tuy nhiên, chuyên viên của các nơi đó không có thời gian hoặc đôi khi không có kỹ năng nghiên cứu để đánh giá những ý tưởng đó có khả thi hay không. Chính vì vậy, nếu các tác giả không đào sâu nghiên cứu để trình bày vấn đề một cách rõ ràng, không đánh giá được hết những tác động của ý tưởng đối với quốc gia, thì chuyên viên các bộ/ngành có thể sẽ loại bỏ ý tưởng đó ngay.

    Ngoài ra, nhiều tổ chức chính trị hoặc cá nhân có những ý tưởng chưa sát với thực tế, hoặc chưa phù hợp ngay với giai đoạn hiện nay. Thông thường để đạt được những mục tiêu lớn phải có lộ trình. Trong từng giai đoạn phát triển của quốc gia, nên đặt ra những mục tiêu, cột mốc nhỏ hơn. Nhưng để xác định những mục tiêu, cột mốc nhỏ hơn đó là gì thì cần phải nghiên cứu.

    Trong bối cảnh số lượng và chất lượng các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp về Pháp lý và Chính trị đều yếu như hiện nay, Đảng, Chính phủ cần phải có chính sách đào tạo, tăng cường năng lực. Các tổ chức khoa học/khuyến học cần khuyến khích thanh niên học cao học để trở thành nhà nghiên cứu chuyên nghiệp. Số lượng và chất lượng nhà nghiên cứu chuyên nghiệp phải đủ lớn, xã hội đủ liêm chính thì mới đủ sức chống lại các thế lực bảo thủ và các nhóm lợi ích ngăn cản đổi mới. Việc xây dựng đội ngũ các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp còn nhằm phát triển nền khoa học quốc gia một cách bền vững.

    Nghiên cứu phải đi trước thực hành chính trị một bước, theo nghĩa phải có cơ sở lý thuyết phù hợp với hoàn cảnh quốc gia trước thì mới đảm bảo việc thực hành đúng. Không nghiên cứu cẩn thận thì nhiều khả năng bức xúc sai. Để thực hiện điều đó, việc đầu tiên là phải xây dựng đội ngũ các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp có trình độ cao. Sẽ có những người lý luận rằng các nhóm lợi ích nên thực hành các hoạt động chính trị như là một cách đấu tranh vì lợi ích của họ. Tuy nhiên, điều này cũng có hai mặt.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi