Nhân vụ GS Chu Hảo, nghĩ về việc xây dựng một tầng lớp học giả pháp lý và chính trị đẳng cấp, liêm chính và nhân bản (1)

  • Bởi Admin
    12/12/2018
    3 phản hồi

    Nguyễn Kiều Dung [A1]

    “Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
    Gây thù kết oán trải mấy mươi năm"
    - Nguyễn Trãi, 1428 -

    Nhiều năm rồi, tôi ít quan tâm đến chính trị. Nhưng vụ GS Chu Hảo khiến tôi chợt nhớ ra, chủ nghĩa Marx-Lenin và việc chính trị hóa hệ thống nghiên cứu và giảng dạy ở Việt nam cũng là một vấn đề rất nghiêm trọng, kìm hãm sự phát triển của quốc gia, tạo sự giả dối tràn lan trong xã hội, và là sự xúc phạm đối với giới trí thức. Tôi viết bài này nhằm trao đổi với các nhà khoa học/nhà khuyến học, và những người quan tâm đến tình hình chính trị nước nhà về những tác hại của chủ nghĩa Marx-Lenin và tầm quan trọng của việc xây dựng một Tầng lớp Học giả Pháp lý và Chính trị đẳng cấp, liêm chính và nhân bản. Tầng lớp học giả ấy sẽ là những người góp phần: (i) Nâng cấp các ngành khoa học Pháp lý và Chính trị nói riêng, và toàn bộ nền khoa học Việt nam nói chung; (ii) Cải tạo hiệu quả hệ thống luật pháp, cơ chế, và chính sách; (iii) Tăng cường các quyền dân sự cho người dân thông qua thiết kế các thể chế/chính sách Dân chủ song song với việc thiết kế các thể chế/chính sách Hòa giải và Khoan dung; (iv) Lan tỏa tinh thần Dân chủ - Hòa giải – Khoan dung trong toàn xã hội. Quá trình Dân chủ hóa phải được tiến hành song song với quá trình Hòa giải và Khoan dung để tránh hỗn loạn, đấu tố, và trả thù và đảm bảo ổn định chính trị. Ngoài ra còn có một số đề nghị khác nhằm loại trừ những ảnh hưởng xấu của Chủ nghĩa Marx-Lenin đối với xã hội. Những việc này lẽ ra phải được Nhà nước quan tâm thúc đẩy song song với việc nâng cấp nền hành chính công từ cách đây gần 30 năm. Dựa vào các phê bình, góp ý của độc giả, tôi đã soạn thảo một thư riêng gửi cho Đảng, Quốc hội, và Chính phủ và đăng ở trang http://danchuhoagiaikhoandung.blogspot.com.

    TÓM TẮT NỘI DUNG

    Hầu hết những vấn đề bức xúc nhất của xã hội Việt nam hiện nay đều có nguyên nhân là yếu kém về luật pháp, cơ chế, và chính sách. Trong khi đó, Triết học, môn cơ sở ngành quan trọng nhất để cải cách hệ thống luật pháp, cơ chế, và chính sách, lại là môn học đặc biệt yếu kém và bị kìm hãm phát triển ở Việt nam.

    Vai trò của Triết học đối với Khoa học Xã hội và Nhân Văn (KHXH&NV) đặc biệt quan trọng tương tự như vai trò của Toán học đối với Khoa học Tự nhiên và Kỹ thuật (KHTN&KT). Triết học Chính trị là tên gọi khác của Lý thuyết Chính trị. Triết học đặc biệt cần thiết để cải cách pháp luật, cơ chế, và chính sách, bởi một trong những mảng quan trọng nhất của Triết học Chính trị là nghiên cứu về Luật pháp và Thi hành Luật. Khoa học Luật Pháp (jurisprudence), hay còn gọi là Lý thuyết Pháp lý, là ngành nghiên cứu về các nguyên tắc cơ sở của luật pháp, với sự đóng góp chủ yếu của các triết gia. Chưa kể, một ngành cơ sở rất hữu ích khác là Triết học Luật pháp. Ngoài ra, lý thuyết của ngành Xã hội học có hai phần: Lý thuyết Xã hội và Lý thuyết Xã hội học, trong đó Lý thuyết Xã hội chính là Triết học Lục địa. Triết học là môn cơ sở ngành của hầu hết các ngành KHXH&NV khác (Báo chí, Truyền thông, Văn chương, Lịch sử, Giáo dục, Kinh tế, Tâm lý, Nhân học, Ngôn ngữ…). Triết học cũng rất quan trọng đối với các ngành KHTN&KT bởi rèn luyện cho sinh viên tư duy khái quát và hoài nghi, không chấp nhận điều gì là chân lý vĩnh viễn, rất hữu ích để phát triển năng lực sáng tạo. Triết học còn là nội dung chủ đạo, quan trọng nhất để giáo dục công dân. Mọi đánh giá phải-trái-đúng-sai về con người thuộc môn Đạo đức, một chuyên ngành của Triết học.

    Ở Việt nam, chủ nghĩa Marx-Lenin được Đảng lựa chọn làm triết lý chủ đạo. (Khoảng 90% các nhà nghiên cứu triết học ở Việt nam là về Triết học Marx-Lenin). Ngoại trừ mục đích tuyên truyền cổ vũ cho chủ trương, chính sách của Nhà nước, học thuyết này từ lâu đã chứng tỏ là một thứ Triết học khá vô dụng và phản cảm. Trong khi Việt nam đã chuyển sang Kinh tế Thị trường được hơn 30 năm, Triết học Marx-Lenin mâu thuẫn với mô hình kinh tế đó. Triết học này cũng không hỗ trợ gì cho các chiến lược phát triển khoa học kỹ thuật theo phương tây mà Việt nam theo đuổi (Cách Mạng 4.0, Công nghệ Trí tuệ Nhân tạo, Công nghệ Sinh học, Chính phủ Điện tử, Thành phố Thông minh,… ), và không có ứng dụng gì đáng kể ở các quốc gia phát triển. Trong khi ấy, viện trưởng viện Triết, viện Hàn lâm KHXH, và trưởng bộ môn Triết, một trường đại học cũng phàn nàn rằng số nhà nghiên cứu được đào tạo Triết học ngoài-Marx rất ít, ít người đọc được tài liệu tiếng nước ngoài, và khá ít tài liệu dạng này được dịch ra tiếng Việt. Nhiều triết gia xuất sắc, rất nhiều trường phái, thành quả nổi bật của thế giới không được giới thiệu cho sinh viên [1][2].

    Luật pháp và thi hành luật ở Việt nam yếu kém là do Khoa học Pháp lý (Triết học Chính trị, Lý thuyết Pháp lý, và Triết học Luật pháp) yếu kém. Ở phương tây, các nhà nghiên cứu Triết học và Luật học tranh luận kịch liệt về tất cả các vấn đề chính trị, xã hội trên các tạp chí khoa học và phổ thông. Từ các cuộc tranh luật đó mới sinh ra các điều luật/chính sách và cơ chế thi hành. Còn ở Việt nam, ngoài việc viết bài bảo vệ quan điểm của Đảng và Chính phủ, các nhà nghiên cứu Triết học dường như không (có khả năng) tham gia vào các cuộc tranh luận về luật pháp và chính sách. Trên thực tế, Triết học Chính trị hiện đại (sau Marx) không được nghiên cứu gì mấy, trong khi Lý thuyết Pháp lý và Triết học Luật pháp hầu như chưa tồn tại [3]. Việc giảng dạy Khoa học Pháp lý như vậy sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng của đội ngũ luật gia. Thêm nữa, chương trình cử nhân luật ở Việt nam bị coi là không tương đương với nhiều chương trình cử nhân luật ở các trường Luật uy tín của thế giới, hạn chế đáng kể cơ hội để sinh viên Việt nam theo học cao học ở các nơi đó. Một nghiên cứu của Đại học Quốc gia khuyến cáo: “Ở Việt nam, đường lối chủ trương của Đảng Cộng sản, tư tưởng quan điểm pháp lý của chủ nghĩa Marx-Lenin và Tư tưởng Hồ Chí Minh được xem là căn cứ để xây dựng ban hành giải thích pháp luật hoặc định hướng trong việc áp dụng thực hiện pháp luật. Thực hiện nguyên tắc pháp luật, Nhà nước cần hạn chế tới mức thấp nhất việc áp dụng trực tiếp loại nguồn này trong các hoạt động pháp lý cụ thể.” [4]

    Ngoài ra, có vô số vấn đề triết học thiết thực khác (ví dụ các vấn đề chính trị, tham nhũng, minh bạch, phim ảnh khiêu dâm, đạo đức lãnh đạo, đạo đức kinh doanh, cha mẹ đơn thân, sống thử, nạo phá thai, cấy ghép nội tạng, triết lý giáo dục, tự do trên mạng, ăn thịt động vật, đánh giá lịch sử, nghĩa vụ công dân, ý nghĩa cuộc đời, đạo đức Robot và Trí tuệ Nhân tạo v.v…và rất nhiều vấn đề liên quan đến phải-trái-đúng-sai về con người) rất hiếm khi các nhà nghiên cứu Triết tham gia tranh luận, cả trên các tạp chí khoa học lẫn truyền thông đại chúng. Các nhà nghiên cứu KHXH&NV khác tham gia thì đa phần ý kiến khá lạc hậu, thiếu cập nhật, có lẽ do họ không tham khảo những tranh luận triết học mới nhất về các vấn đề này. Có những giảng viên Triết học trả lời phỏng vấn trên báo rất dài để khuyến khích học Triết nhưng không nêu được một ứng dụng thực tế nào. Lý do là Triết học Xã hội, Triết học Ứng dụng hầu như chưa tồn tại ở nước ta, còn Triết học Đạo đức thì xa rời thực tế. Điều đó dẫn đến sinh viên Việt nam không biết học Triết để làm gì. Một nghiên cứu của đại học Vinh cũng thừa nhận giảng dạy Triết học ở Việt nam trừu tượng, không có ví dụ, không gắn với thực tiễn, và không gắn với các môn chuyên ngành. Nhiều cơ sở nghiên cứu và giảng dạy rất thiếu tài năng và khủng khoảng trầm trọng về chất lượng [2]. Trong khi Triết học đâu phải chỉ toàn siêu hình, trừu tượng. Ở phương tây, tranh luận triết học về những vấn đề như vậy rất phổ biến. Ý kiến của các nhà nghiên cứu Triết giữ vai trò quan trọng để định hướng dư luận, xây dựng hệ thống luật pháp, và làm cơ sở cho hệ thống chính sách của các tổ chức quốc tế. Các Triết gia phương tây trở thành biểu tượng của công chúng là nhờ tranh luận về những vấn đề rất thiết thực như vậy.

    Trong khi các cuộc thi kiến thức, thi Olympic về chủ nghĩa Marx-Lenin được tổ chức thường xuyên và phổ biến trên toàn quốc, hầu như không có các cuộc thi Triết học về các chủ đề chính trị-xã hội thiết thực kể trên. Tranh biện Triết học ở Việt nam có lẽ tụt hậu vài nghìn năm so với thế giới, bởi từ thời Hi Lạp Cổ đại, quốc gia này đã có những cuộc tranh biện công cộng được nhà nước bảo trợ về các chủ đề đó rồi.
    Trong khi giới Triết học quốc tế đang phối hợp với các ngành khoa học khác để nghiên cứu về Mạng Neuron, Trí tuệ Nhân tạo, Đạo đức Nhân bản vô tính, Nâng cấp Con người, Đạo đức của Sự bất tử,…thì ở Việt nam, Triết học chỉ để phục vụ Chính trị.


    Về các môn cơ sở chính trị khác, Khoa học Chính trị là một ngành học đặc biệt quan trọng để hoạch định chính sách đối nội, đối ngoại, phát triển quan hệ ngoại giao, thương mại quốc tế bởi giúp người học hiểu được cấu trúc chính trị, các nguyên tắc cơ bản của hệ thống hành chính, so sánh, đánh giá quan điểm và chủ trương đối nội, đối ngoại của Việt nam và thế giới trên tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội. Tuy nhiên, Khoa học Chính trị ở Việt nam chủ yếu chỉ để phục vụ mục đích tuyên truyền. Một nghiên cứu của Đại học KHXH&NV, Hà nội cho biết: “Trên các tạp chí Khoa học về chính trị, các tạp chí phân tích rất sâu, rất kỹ và khá nhiều về sự đúng đắn của các chủ trương, chính sách được ban hành, các văn bản luật và dưới luật được phổ biến... nhưng những bài viết mang tính phản biện xã hội sâu sắc thì đang xuất hiện rất hạn chế”. “Một ví dụ khảo sát trên 4 tạp chí về khoa học chính trị (Tạp chí Cộng sản, tạp chí Lý luận Chính trị, tạp chí Khoa giáo và tạp chí Kinh tế và Chính trị thế giới) cho thấy kết quả phản biện bị các nội dung khác lấn át”. Cụ thể, tổng số bài báo xuất bản trong hai năm 2010 và 2011, của 4 tạp chí (Cộng sản, Khoa giáo, Kinh tế & Chính trị Thế giới, Lý luận Chính trị) lần lượt là 497, 383, 212, và 319. Trong đó, số bài có nội dung phản biện chính trị chỉ chiếm: 3,6%; 2,8%; 0%; và 18%. [5]. Các môn học cốt lõi đối với sinh viên ngành Khoa học Chính trị ở nước ngoài như Phân tích Chính sách, Kinh tế chính trị Quốc tế, Các học thuyết Chính trị thì ở Việt nam không được dạy đầy đủ hoặc hoàn toàn không được giới thiệu. Không giống như ở các nước phát triển, chương trình đào tạo ngành này ở Việt Nam vẫn chưa tập trung vào các vấn đề chuyên sâu của Khoa học Chính trị như các Học thuyết Chính trị, Chính trị học So sánh và Quan hệ Quốc tế [6].

    Kinh tế Chính trị nghiên cứu về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, rất bổ ích cho việc quản lý nhà nước và hoạch định chính sách. Ví dụ, nghiên cứu về các vấn đề nóng bỏng nhất của quốc gia như Chính sách Đất đai, Tham nhũng, Minh bạch, Tư bản Thân hữu, Bất bình đẳng Giàu nghèo thì không thể thiếu kiến thức về Kinh tế Chính trị. Tuy nhiên, Kinh tế Chính trị ở Việt nam là Kinh tế Chính trị Marx-Lenin, nghĩa là không hỗ trợ giải quyết gì những vấn đề đó, và mâu thuẫn với chiến lược phát triển Kinh tế-Thị trường của quốc gia. Về Xã hội học Chính trị, một môn học thiết yếu để hoạch định các chính sách đáp ứng các nhu cầu của công dân, trước nay đã có nhiều bài viết đả kích Xã hội Dân sự [7]. Tuy nhiên Quy định 102-QĐ/TW ban hành ngày 15/11/2017, (nêu rõ đảng viên không được “đòi thực hiện thể chế "tam quyền phân lập", "xã hội dân sự", "đa nguyên, đa đảng"”), thể hiện sự thiếu cầu thị trầm trọng. Tôi cho rằng Việt nam là một quốc gia yếu kém về KHXH&NV, cần phải nghiên cứu để học hỏi thế giới. Đặc biệt, các thể chế đó đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới và chứng tỏ thành công ở rất nhiều quốc gia phát triển. Mặc dù văn bản này chỉ đề cập đến đảng viên, nhưng do Đảng lãnh đạo toàn diện mọi lĩnh vực Chính trị-Xã hội ở Việt nam cho nên chắc chắn văn bản này sẽ ảnh hưởng rất xấu đến việc nghiên cứu và phát triển những thể chế thuộc Xã hội học Chính trị này. Xã hội học Chính trị cũng nghiên cứu về các vấn đề nhức nhối ở Việt nam như Chính sách đất đai, Tham nhũng, Minh bạch, Bất bình đẳng, Phân phối Quyền lực chính trị…

    Pháp luật hành chính là công cụ để giới hạn quyền lực của Nhà nước trong mối quan hệ với công dân, và tổ chức của công dân, (ví dụ: các tổ chức xã hội, tổ chức dân sự). Tuy nhiên, các nghiên cứu Luật học ở Việt nam đã chỉ ra: “Trong bộ máy hành chính nhà nước vẫn tồn tại tâm lý và tự coi mình là người cai quản, dẫn dắt xã hội, mà không thấy được thực tế cả về nhận thức và thực tiễn là: xã hội là người dẫn dắt nhà nước, dẫn dắt bộ máy hành chính, do đó nhà nước, bộ máy hành chính phải hành động để phục vụ xã hội, phục vụ công dân. Chính vì tâm lý và nhận thức sai lệch như vậy nên không ít các quy định của pháp luật hành chính Việt Nam còn nặng về những quy định có lợi, hay thuận lợi cho hệ thống hành chính công quyền, mà chưa quan tâm đúng mức tới lợi ích, sự thuận lợi cho người dân.” [8].

    Cũng cần phải nói thêm, giới khoa học đã phàn nàn rất nhiều về xuất bản quốc tế của các ngành KHXH&NV nói chung, Luật và Khoa học Chính trị nói riêng. Theo thống kê năm 2016 và 2017, ngành Luật có tổng cộng 28 người được phong giáo sư, phó giáo sư, nhưng không có bài báo quốc tế nào (ISI/SCOPUS). Năm 2017, nhóm ngành Triết học-Xã hội học-Chính trị có 26 người được phong, nhưng cũng chỉ 2 người có bài báo quốc tế (tiếc rằng không có số liệu chi tiết) [9]. Theo Bộ trưởng Bộ Tư pháp, chỉ có 0.03% số luật sư có khả năng tư vấn bằng tiếng Anh cho các nhà đầu tư nước ngoài [A2]. Hệ thống luật pháp Việt nam được đánh giá là phức tạp nhất, lộn xộn vì nhiều luật nhất thế giới. 70-80% số vụ kiện ở Việt nam liên quan đến đất đai, nhưng đây cũng là lĩnh vực thi hành luật kém nhất thế giới [A3] [10].

    Nâng cấp một nền khoa học đòi hỏi một quá trình lâu dài. Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan hiên nay đã có những trường đại học lọt vào top 50 của thế giới (theo xếp hạng QS) ở tất cả các ngành Luật, Triết học, Xã hội học, Khoa học Chính trị và các ngành KHXH&NV khác, là nhờ chính sách khuyến học đúng đắn từ thời Park Chung Hee, Lý Quang Diệu, Tưởng Giới Thạch. (Có lẽ, mấy nước đó may mắn không phải đeo cái vòng kim cô Chủ nghĩa Marx-Lenin?) Trung Quốc cũng đã có những trường đạt đến thứ hạng ấy. Những năm gần đây, các trường đại học của Trung Quốc ráo riết tuyển các giáo sư Triết học phương tây về làm việc toàn thời gian ở các khoa Triết [11]. Học sinh phổ thông Trung Quốc đã tham gia vào kỳ thi Olympic Triết học Quốc tế từ 5 năm nay (mặc dù giống Việt nam, Triết học không phải là một bộ môn độc lập ở bậc phổ thông ở nước này). Tháng 8/2018 Bắc Kinh đã tổ chức thành công Đại hội Triết học Thế giới XXIV với số lượng nhà nghiên cứu áp đảo phương tây, và tham gia vào mọi chuyên ban. Không khó để lý giải, Trung Quốc muốn trở thành cường quốc thế giới trên mọi lĩnh vực cho nên họ sẽ không từ chối nghiên cứu bất kỳ cái gì của phương tây.

    Không thể nghĩ rằng chỉ cần phát triển Kinh tế và KHTN&KT là đủ, bởi các ngành khoa học đều liên quan mật thiết đến nhau. Hệ thống luật pháp nói chung kém, thì các luật lệ, cơ chế, chính sách liên quan đến Kinh tế và các ngành KHTN&KT cũng sẽ kém, dẫn đến kìm hãm phát triển các lĩnh vực đó. Khoa học Chính trị yếu kém sẽ gây ra nhiều bất mãn cho giới khoa học, khiến họ không an tâm nghiên cứu, ảnh hưởng đến toàn bộ nền khoa học. Tác hại của việc chính trị hóa khoa học còn không thể đong đếm ở khía cạnh khác. Kiến thức Pháp lý và Chính trị bậc đại học vốn không dễ hiểu đối với đa số công chúng, cho nên không thể là lý do gây nên bất ổn chính trị. Nhưng chính việc chính trị hóa ấy đã gây ra sự bất mãn sâu sắc trong giới trí thức, làm lu mờ mọi nỗ lực và thành tích khác của Nhà nước trong mắt họ, khiến họ kích hoạt sự bất mãn trong công chúng. Nhiều trí thức Việt kiều ác cảm với chế độ, thường xuyên nói xấu chế độ, làm nản lòng các nhà đầu tư, các nhà công nghệ nước ngoài quan tâm đến Việt nam, đồng thời kích hoạt sự bất mãn của cộng đồng cả trong và ngoài nước. Chính những điều đó dẫn đến nguy cơ bất ổn chính trị. Quan trọng hơn cả, tất cả các quốc gia phát triển trên thế giới đều chủ trương phát triển đồng đều các ngành khoa học.

    Từ đầu những năm 1990 đến nay, Đảng, Quốc hội, và Chính phủ rất chú trọng tăng cường đào tạo cao học Chính sách Công/Hành chính Công/Quản lý công nhằm nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ công chức, để cải thiện nền hành chính công. Trong khi đó, việc đào tạo cao học nhằm phục vụ nghiên cứu và phát triển các quyền dân sự cho người dân chưa được quan tâm, thậm chí bị kìm hãm bởi những văn kiện như Quy định 102-QĐ/TW, mặc dù hệ thống truyền thông luôn khẳng định Nhà nước nỗ lực phát triển các quyền dân sự và tổ chức dân sự [12]. Không thể nghĩ rằng Chính phủ đã quan tâm soạn thảo Luật về Hội, Luật Biểu tình, và phát triển các tổ chức dân sự… với sự tham gia của các luật gia là đủ. Đây là những vấn đề rất cần ý kiến của các học giả Triết học, Xã hội học Chính trị, Kinh tế Chính trị, và Khoa học Chính trị.

    Tôi cho rằng nhu cầu của giới trí thức về việc mở rộng các quyền dân sự, tiến tới đạt được cấp độ xã hội dân sự như các quốc gia phát triển là chính đáng, phù hợp với mô hình Kinh tế Thị trường và chiến lược phát triển Khoa học-Kỹ thuật theo phương tây mà Việt nam đang theo đuổi. Điều đó cũng mở ra rất nhiều cơ hội việc làm, cơ hội sáng tạo và phát triển cho những người thích nghiên cứu và thực hành chính trị. Tuy nhiên, tăng cường Dân chủ phải đi kèm với Khoan dungHòa giải để tránh hỗn loạn, đấu tố, và trả thù. Lịch sử để lại cho dân tộc ta một di sản đầy chia rẽ là một cộng đồng gắn bó với chế độ Việt nam Cộng hòa có nhiều hận thù, bất mãn với chế độ hiện nay. Chủ trương chống tham nhũng quyết liệt của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư (TBT) Nguyễn Phú Trọng, là đúng đắn để tạo ra một đội ngũ lãnh đạo trong sạch hơn. Tuy nhiên, các chính quyền ở tất cả các quốc gia đang phát triển luôn có rất nhiều khuyết tật cố hữu. Để giải quyết các khuyết tật đó và đạt được cấp độ dân chủ hóa mới, rất cần xây dựng đội ngũ các học giả Pháp lý và Chính trị trình độ cao để cải cách hệ thống luật pháp, cơ chế, và chính sách, và nghiên cứu các thể chế/chính sách hòa giải, khoan dung (ví dụ Ủy ban Sự thật và Hòa giải của Nam Phi, Canada, Đức, Ma rốc, El Salvado, Philippines, Congo…) và các biện pháp ổn định chính trị ở các quốc gia khác để áp dụng ở Việt nam, đồng thời lan tỏa tinh thần khoan dung trong toàn xã hội. (Một số ví dụ của chính sách hòa giải và khoan dung là những người phạm các tội tham nhũng hoặc vi phạm nhân quyền nếu thành thật khai báo thì sẽ không bị truy tố, hoặc sẽ không truy cứu những cáo buộc liên quan đến chính trị xảy ra trước thời điểm năm 20xx nào đó). Đội ngũ này cũng sẽ là lực lượng chủ chốt để nâng cấp nền học thuật nước nhà. Bây giờ đã là khá muộn để Đảng, Quốc hội, và Chính phủ bắt đầu thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình: tăng tốc thúc đẩy quá trình Dân chủ, Hòa giải, và Khoan dung song song với thúc đẩy cải cách nền hành chính công.

    Có thể khẳng định, việc lấy chủ nghĩa Marx-Lenin làm học thuyết chủ đạo cộng thêm chương trình đào tạo chính trị bậc đại học phi lý là những chủ trương phản cảm nhất đối với giới trí thức Việt. Chưa kể, lâu nay các nghiên cứu KHXH&NV liên quan đến chính trị thường bị định hướng theo quan điểm của Đảng chứ không tôn trọng sự thật khách quan. Đây là chuyện “con voi ở trong phòng”, không có gì mới nữa. Hơn nửa thế kỷ nay, đã có rất nhiều trí thức lên tiếng phản đối, bởi việc chính trị hóa đó chà đạp lên lương tri của tất cả những người biết trân quý sự thật, và kìm hãm nghiêm trọng sự phát triển của quốc gia. TBT Nguyễn Phú Trọng từng trăn trở về hiện tượng “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời Chính trị” [13]. Nếu ông Trọng cũng là người trân quý sự thật, ông sẽ thấy ngay nguyên nhân của hiện tượng đó.

    Khi bắt đầu Đổi mới, năm 1990, GDP/đầu người (GDP/Capita based on PPP) của Việt nam xếp hạng 128 trên thế giới. Năm 2017, GDP/đầu người của Việt nam đứng thứ 127. Nghĩa là sau 27 năm, nước ta tăng lên được… 01 bậc. Trong khu vực ASEAN, năm 1990 Việt nam chỉ hơn Campuchia, và bây giờ vẫn thế. (Năm 2017, thu nhập trung bình của người Việt chỉ tương đương 4.4 triệu VND/tháng, một con số rất thấp). Trong khoảng thời gian đó, GDP/đầu người của Trung Quốc tăng 44 bậc. Năng suất lao động của Việt nam vẫn thuộc nhóm thấp nhất châu Á, thua cả Lào [14]. Đấy là những chỉ số kinh tế quan trọng nhất, khiến độc giả phải giật mình. Ngoài ra, còn phải kể đến chính sách đất đai, điểm yếu cốt tử của nền kinh tế. Tham nhũng trầm trọng trong xây dựng cơ bản và khu vực công. Đầu tư dài hạn kém hiệu quả, đặc biệt là đầu tư hạ tầng đô thị và đầu tư cho năng lực đổi mới sáng tạo. Hệ thống ngân hàng yếu ớt, dễ bị tổn thương. Nền tảng kinh tế thị trường thiếu minh bạch, với sự can thiệp thô bạo của mệnh lệnh hành chính. Chủ nghĩa Tư bản thân hữu đã trở thành nạn dịch. Cấu trúc phân quyền Nhà nước lộn xộn, không trọng dụng được người tài. Tài nguyên cạn kiệt và ô nhiễm môi trường do chất thải. Sự bất mãn tràn lan trong xã hội vì tham nhũng và nghi ngờ ảnh hưởng của Trung Quốc. Khả năng các tổ chức dân sự tham gia cải tổ luật pháp, cơ chế, chính sách rất hạn chế. Mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020, do Đảng đề ra năm 2001, đã không đạt [15]. Bên cạnh đó, triết lý chính trị chủ đạo mâu thuẫn nghiêm trọng với các chiến lược phát triển của quốc gia. Một nền luật pháp rách nát, vá víu chằng đụp, phản khoa học. Một nền báo chí chủ yếu chỉ phục vụ Đảng, thiếu tự do phản biện chính trị. KHXH&NV bị chính trị hóa, giả dối đến mức không đáng gọi là một nền khoa học. Và một nền giáo dục chỉ sinh ra những con rối, hiểu biết méo mó về Chính trị, và chỉ hành động chính trị khi được Đảng, Đoàn giật dây. Đâu phải bây giờ Chính phủ mới bắt đầu hô hào Chính phủ Điện tử, Cách mạng Công nghệ Thông tin. Thập kỷ 1990 đã hô hào rồi nhưng kết quả thực hiện không ra sao cả.
    Tôi nghĩ rằng, ở các quốc gia dân chủ người dân sẽ không bao giờ chấp nhận để cho một đảng cầm quyền lâu như vậy mà kết quả tồi tàn như vậy. Đã đến lúc Đảng phải tăng cường mạnh mẽ chia sẻ quyền lực cho người dân bởi tất cả những điều đó cho thấy Đảng không đủ năng lực lãnh đạo quốc gia, và không đáng tin cậy để tự thực hiện bất kỳ chiến lược dài hạn nào nữa.
    (Nhóm Ngân hàng Thế giới tập trung quan tâm nhất vào chỉ số Năng suất Lao động của các nước đang phát triển. Và đó cũng là chỉ số Việt nam đặc biệt kém).


    Phần “VII. Một số kiến nghị” của bài viết này đề nghị Đảng, Quốc hội, và Chính phủ tích cực xây dựng một tầng lớp học giả pháp lý và chính trị đẳng cấp, liêm chính và nhân bản thông qua: (1) Tăng cường các khóa đào tạo bậc cao học trở lên về các lĩnh vực này ở nước ngoài, chú trọng đào tạo những người quan tâm xây dựng các thể chế/chính sách Dân chủ-Hòa giải-Khoan dung; (2) Tăng gấp đôi số chỉ tiêu cao học pháp lý ở nước ngoài từ nguồn ngân sách nhà nước, trong đó chú trọng đào tạo các luật gia quan tâm xây dựng các thể chế/chính sách Dân chủ-Hòa giải-Khoan dung; (3) Phối hợp với các tổ chức quốc tế để mở các chương trình đào tạo liên kết, trực tuyến tương tự trên, mời chuyên gia nước ngoài sang bổ túc kiến thức cho những người không có khả năng du học; (4) Tổ chức các cuộc thi kiến thức và tranh biện Triết học (trước và sau Marx)/Xã hội học Chính trị/Kinh tế Chính trị/Khoa học Chính trị phương tây với quy mô và tần suất không ít hơn các cuộc thi và tranh biện về Chủ nghĩa Marx Lenin; (5) Tổ chức thi Olympic Triết học Quốc gia thường niên nhằm tuyển chọn học sinh dự thi Olympic Triết học Quốc tế; (6) Thành lập Quỹ Dịch thuật Quốc gia để dịch các tài liệu nổi tiếng về Pháp lý và Chính trị; (7) Loại bỏ những văn bản pháp lý đi ngược lại những học thuyết tiến bộ của nhân loại như Quy định 102-QĐ/TW; (8) Phổ biến quan điểm nghiên cứu để học hỏi tất cả các thành tựu Pháp lý và Chính trị của thế giới trong toàn Đảng và toàn dân, không có vùng cấm; (9) Thay thế việc tuyên truyền cho chủ nghĩa Marx-Lenin bằng phổ biến Khoa học Pháp lý và Chính trị hiện đại trên hệ thống truyền thông đại chúng. (10) Thành lập Ủy ban Tư vấn, Giám sát Dân chủ độc lập để tư vấn, giám sát các hoạt động ấy và xây dựng lộ trình dân chủ cho Việt nam. Ngoài ra còn có một số đề xuất khác. Việc xây dựng tầng lớp học giả đó sẽ: (i) Hỗ trợ cải cách luật pháp, cơ chế, và chính sách hiệu quả; (ii) Hỗ trợ phát triển KHXH&NV vững mạnh, song hành với KHTN&KT; (iii) Tạo ra một tầng lớp chuyên gia đẳng cấp, liêm chính và nhân bản, làm chỗ dựa cho công chúng trong các lĩnh vực đó, góp phần ổn định chính trị; (iv) Thể hiện thiện chí của Chính phủ về tăng cường các quyền dân sự cho người dân; (v) Tạo ra các thể chế/chính sách khoan dung, nhân bản để hỗ trợ quá trình dân chủ hóa (vi) Tạo cơ hội sáng tạo và phát triển cho những người có sở trường nghiên cứu và thực hành Pháp lý và Chính trị. (vii) Góp phần thúc đẩy Tinh thần Công dân.

    Việc đưa môn học Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản vào bậc đại học trên toàn quốc là bất hợp lý, bởi chương trình giáo dục quốc gia không thể phục vụ riêng Đảng. (Đảng Cộng sản chỉ có 4,5 triệu đảng viên, trong khi dân số Việt nam hiện nay là 95 triệu). Việc đưa môn học Tư tưởng Hồ Chí Minh vào chương trình bắt buộc trên toàn quốc cũng không phù hợp, bởi lẽ cụ Hồ là nhà cách mạng nổi tiếng thế giới, nhưng không được giới học giả quốc tế công nhận là nhà tư tưởng tầm cỡ thế giới. Về mặt tư tưởng, cụ Hồ không thể so sánh được với rất nhiều danh nhân vỹ đại quốc tế. Các tài liệu về Tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ nên lưu trữ ở thư viện cho các học giả quan tâm nghiên cứu. Đã đến lúc Bộ Giáo dục cần chuyển 3 môn lý luận bắt buộc ở bậc đại học (Những Nguyên lí Cơ bản của Chủ nghĩa Marx-Lenin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản) thành các môn tùy chọn, đồng thời xây dựng chương trình lý luận chính trị bậc đại học tương đồng với chương trình đó ở các quốc gia phát triển. (Trên thực tế, hầu hết các trường đại học ở Việt nam đều có các chương trình liên kết do nước ngoài cấp bằng không phải học 3 môn này. Thế nên, nếu như không lo rằng sinh viên các chương trình liên kết đó gây bất ổn chính trị thì cũng không có lý do gì để lo rằng sinh viên của các chương trình do Bộ Giáo dục cấp bằng sẽ như vậy).

    Về học thuyết chính trị chủ đạo, Đảng có thể kết hợp chủ nghĩa Marx-Lenin với một (số) học thuyết đang áp dụng ở một (số) quốc gia phát triển, ví dụ với chủ nghĩa xã hội ở Thụy Điển, rồi dần dần giảm bớt vai trò của chủ nghĩa Marx-Lenin, lấy (các) học thuyết kia làm chủ đạo, để giải quyết mâu thuẫn với các triết lý phát triển Kinh tế-Xã hội khác của quốc gia.

    Bài viết cũng trao đổi với các tổ chức khoa học/khuyến học về việc xây dựng tầng lớp học giả nêu trên, đồng thời lan tỏa những giá trị nhân bản tốt đẹp đến công chúng. Hiện nay cũng có một số học giả thuộc các tổ chức chính trị đối lập đầu tư thời gian nghiên cứu chính trị. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi lập trường chính trị của các tổ chức đó hoặc do định kiến cá nhân, nhiều người trong số đó thường cho ý kiến không khách quan. Mặc dù ý kiến của tất cả các nhóm lợi ích trong xã hội đều đáng được quan tâm, việc xây dựng một tầng lớp học giả liêm chính, tách biệt với việc thực hành chính trị, để đảm bảo tính khách quan, vì lợi ich quốc gia chứ không vì lợi ích của đảng phái, phe nhóm, cần thiết hơn bao giờ hết. Bài viết đề nghị các tổ chức khoa học/khuyến học: (1) Khuyến khích tinh thần “Học tập suốt đời”; (2) Phát động phong trào “Tây du” mới để học cao học về Pháp lý và Chính trị; (3) Phối hợp với các tổ chức quốc tế để mở các chương trình cao học liên kết và trực tuyến cho những người không có điều kiện du học. Vận động Bộ Giáo dục công nhận các bằng cấp đó; (4) Tổ chức các cuộc thi kiến thức về các môn cơ sở ngành Pháp lý và Chính trị (bước đầu có thể thi về các chủ đề xã hội); (5) Xây dựng tiêu chí về trí thức “Đẳng cấp, Liêm chính, Nhân bản” trong cộng đồng. Tinh thần “Dân chủ hóa-Hòa giải-Khoan dung” phải trở thành phương châm của xã hội, và trong tương lai gần phải được ghi vào Hiến pháp để chuẩn bị cho những chuyển đổi Chính trị-Xã hội quan trọng.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh từng viết: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu!” Nếu còn sống, tôi tin rằng cụ Hồ sẽ rất tích cực thúc đẩy quyền học tập của công dân và thấu hiểu tầm quan trọng của việc mở rộng các quyền dân sự cho người dân.

    Bao nhiêu người đã ngã xuống cho đất nước này không phải để chứng kiến Chủ nghĩa Marx-Lenin tàn phá quốc gia, hủy hoại nhân cách bao nhiêu thế hệ sinh viên Việt nam như thể này. Báo cáo Tổng quan Việt nam 2035 do Ngân hàng Thế giới và Bộ Kế hoạch đầu tư xuất bản đã khuyến cáo Việt nam cần phải xây dựng mô hình tam quyền phân lập, phát triển các tổ chức dân sự độc lập, và thành lập nghiệp đoàn độc lập. Mới đây Đảng hứa hẹn về Cách mạng 4.0, lập khung chính sách phát triển kinh tế đến năm 2035, nhưng vẫn ngăn cản xây dựng nhà nước pháp quyền (tam quyền phân lập), để tiếp tục thao túng hệ thống tòa án. Thật chẳng khác nào hứa xây tòa nhà cao, hiện đại cho dân nhưng lại từ chối làm móng tốt.

    Với năng lực lãnh đạo kém cỏi đã được minh chứng, Đảng không thể hi vọng thổi bùng “khát vọng hùng cường” của dân tộc như các con rồng châu Á, trong khi bắt chước Trung Quốc lấy chủ nghĩa Marx-Lenin để kìm hãm quốc gia và bắt nạt người dân, đồng thời tiếp tục phớt lờ lời khuyên của các cơ quan phát triển quốc tế.

    Hà nội, ngày 26/11/2018
    TS. Nguyễn Kiều Dung

    NỘI DUNG

    I. SỰ THIẾU VẮNG TƯ DUY KHÁCH QUAN VÀ NHÂN BẢN VỀ PHÁP LÝ VÀ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

    II. ĐẢNG PHÁI KHÔNG CÓ CHỨC NĂNG THÚC ĐẨY TINH THẦN CÔNG DÂN TRÊN PHẠM VI TOÀN XÃ HỘI

    III. NGHIÊN CỨU CÁC MÔN CƠ SỞ NGÀNH PHÁP LÝ VÀ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

    IV. GIẢNG DẠY CÁC MÔN CƠ SỞ NGÀNH PHÁP LÝ VÀ CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM

    V. SO SÁNH VỚI CÁC QUỐC GIA KHÁC TRONG KHU VỰC

    VI. CẢI CÁCH LUẬT PHÁP, CƠ CHẾ, VÀ CHÍNH SÁCH: NGHIÊN CỨU PHẢI ĐI TRƯỚC THỰC HÀNH MỘT BƯỚC

    VII. LÒNG DÂN BẤT MÃN, KHÔNG THỂ CÓ KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG

    VIII. XÂY DỰNG MỘT TẦNG LỚP HỌC GIẢ PHÁP LÝ VÀ CHÍNH TRỊ ĐẲNG CẤP, LIÊM CHÍNH, VÀ NHÂN BẢN

    IX. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI ĐẢNG, CHÍNH PHỦ VÀ CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC/KHUYẾN HỌC VÀ NHỮNG NGƯỜI QUAN TÂM ĐẾN CHÍNH TRỊ

    PHỤ LỤC: DU HỌC CÁC NGÀNH CƠ SỞ CỦA PHÁP LÝ VÀ CHÍNH TRỊ

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Chú thích

    [A1] Tác giả tốt nghiệp Tiến sỹ Kinh tế từ Đại học Bang New York, Albany, Hoa kỳ (SUNY), đã có nhiều năm kinh nghiệm tư vấn, phản biện luật, cơ chế, chính sách, và tham gia xây dựng các đề án phát triển Kinh tế-Xã hội trong nước và quốc tế. Tác giả cũng đã tham dự một số lớp cao học về Triết học, Xã hội học ở SUNY, và có một số nghiên cứu khoa học về Kinh tế, Triết học, Xã hội học, bao gồm xuất bản quốc tế. E-mail: [email protected]. Tác giả xin chân thành cám ơn tất cả các bạn gần xa đã động viên, góp ý. @Bản thảo đầu tiên của lá thư này được đăng trên facebook của tác giả ngày 26/11/2018, và đăng trên site: http://danchuhoagiaikhoandung.blogspot.com

    [A2] Có lẽ nhiều luật gia của các công ty nước ngoài và tư nhân ở Việt nam giỏi ngoại ngữ và chuyên môn, nhưng đội ngũ lập pháp và hoạch định cơ chế, chính sách của nhà nước có nhiều vấn đề như Bộ trưởng đã nêu.

    [A3] Khác với các quốc gia phát triển, Quốc hội Việt nam không có đủ năng lực lập pháp như yêu cầu chức năng của nó. Quốc hội không bao gồm những nhà lập pháp có chuyên môn và chuyên nghiệp, chỉ làm việc bán thời gian và chỉ họp 60 ngày/năm. Một số lượng đáng kể các đại biểu quốc hội là công chức hành chính. Cơ quan lập pháp chính của quốc gia là các bộ/ngành. Quy trình lập pháp thông thường là (i) Bộ/ngành soạn thảo luật; Chính phủ đồng thuận; Quốc hội thông qua (ii) Một nghị định kèm theo luật được bộ/ngành soạn thảo rồi Chính phủ ban hành; (iii) Một thông tư hướng dẫn thi hành luật được bộ/ngành ban hành. Các luật thường được soạn thảo chung chung đến mức không thể thi hành được, nếu không có các nghị định và thông tư hướng dẫn đi kèm. Như vậy các cơ quan hành pháp của Việt nam đồng thời được trao quyền giải thích luật. Lý thuyết pháp lý (jurisprudence) không được coi là một phần của hệ thống pháp luật, tuy hàng năm Tòa án Tối cao cũng tập hợp những vụ án điển hình kèm theo bình luận và hướng dẫn (theo http://www.nyulawglobal.org/globalex/Vietnam1.html)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Độc Tài hay là chính sách uyên bác?

    Lý Quang Diêu là nhà làm chính sách uyên bác. Ông xuất thân từ Oxford.

    Ngô Đình Diệm cũng là tay có số má về chính sách uyên bác. Khi ông tìm đường cứu nước tại Mỹ, thay vì vào nhà hàng làm phụ bếp. Ông ta vào đại học Michigan làm việc, kết bạn, thu hút những tay tổ của đại học Michigan làm quân sư quạt mo để soạn thảo những chính sách cho Nam Việt Nam. (Đại học Michigan là đại học thứ dử, cung cấp các lý luận cách mạng, đề cho tổng thống Reagan và bà đầm Thatcher làm ra cái gọi
    Reaganism.)

    Sự phát triển thần kỳ của người anh, người bạn, người đồng chí của cánh mạng Việt Nam không phải là lỳ do đôc tài mà do chính sách hợp với thực tế, Chính sách mèo nào bắt được chuột là OK Salem. Tuy là cộng sản nhưng họ cung cấp sự tự do tối thiểu, khi thực tế có nhu cầu thoáng.

    Chốt lại, độc tài cái éo, chính sách đấy, Dân Quê ạ,

    Chính sách uyên bác phần lớn dược sinh đẻ từ các ông bà đại học,từ tháp ngà trí thức
    Thực tế cho thấy, chính sách sinh đẻ từ các ông bà Dân Quê, bồi tàu, thiến heo...là ụ á, nhân dân không chết thì cũng đi làm Hoa nuôi gia đình.

    Tác giả viết các vấn đề của tháp ngà trí thức môt cách dể hiểu, tác giả này đặc biệt và dũng cảm.

    Cám ơn tác giả.

    Tái Bút: Dân Quê, huynh làm một bài hoàng tráng cho anh em vào chiến cho vui những ngày nghỉ.

    Bài này viết toàn những điều cao siêu viển vông vô tích sự. Có lẽ tác giả muốn khoe kiến thức lòe thiến hạ hay sao ấy?
    Tác gìả viết: "xây dựng một Tầng lớp Học giả Pháp lý và Chính trị đẳng cấp, liêm chính và nhân bản. Tầng lớp học giả ấy sẽ là ..." Xin hỏi: những người như thế nào thì được gọi là "học giả"?
    Tác giả lại viết: "chủ nghĩa Marx-Lenin được Đảng lựa chọn làm triết lý chủ đạo". Lại xin hỏi" Đảng ta theo chủ nghĩã Mác Lênin là theo những cái gì? Tại sao Liên xô (ông thày dạy các dân tộc khác theo CN Mác Lê nin) và các nước Đông Âu lại vứt chủ nghiã Mác Lênin vào sọt rác?
    Nếu nhìn vào thực tế xã hội nước ta hiện nay thì có phải nước ta là nưỡ XHCN hay không?
    Ông này lý thuyết suông quá nhiều, chắc ông là loại "học giả" chùm chăn?
    Chắc chắn 100% là ông này chỉ biết nói như con vẹt chứ không biết trả lời những người hoạnh lại đâu. Lại im như thóc.

    Tác giả cứ như cô gái ngây thơ Mỵ Châu vậy.
    Ý tưởng cao cả của tác giả sẽ được thực hiện sau khi tác giả tham gia (thành công) sự nghiệp phế bỏ chế độ độ độc đoán CS.