Một thứ tự do hoang dại

  • Bởi Admin
    06/12/2018
    21 phản hồi

    Vương Trí Nhàn

    Lần đầu lên Đà Lạt, tôi được nghe kể là người Pháp trước kia đề ra những quy chế rất gắt gao cho việc xây dựng các biệt thự ở đây. Ví dụ, phải có diện tích đất bao nhiêu mới được làm nhà; còn về kiểu cách, trong khi bắt buộc mỗi nhà phải khác các nhà chung quanh (để tạo cảm giác độc đáo), thì anh lại vẫn phải kết hợp với cảnh quan sẵn có một cách nhịp nhàng. Nhìn Đà Lạt hồi trước, ai cũng thấy là không chỉ có nhiều nhà đẹp mà thú vị hơn là cả một thành phố đẹp.

    Còn như các khu phố mới được xây dựng ở các đô thị thời nay thì hoàn toàn ngược lại. Rất nhiều quy định chung chung, nhưng những quy định quan trọng nhất liên quan đến việc đóng góp của ngôi nhà vào vẻ đẹp của thành phố lại không có, bởi không ai có ý niệm gì về vấn đề này. Không thiếu nhà đẹp, từng cái rất đẹp, nhưng toàn bộ lại xấu.

    Ở Hà Nội hiện nay có những căn nhà chiều ngang mỏng dính, rồi những căn nhà học đòi kiểu cách nước ngoài trông thật kỳ cục, đến mức một nhà báo đã phải trương lên cái tiêu đề cho một bài báo: Eo ôi Hà Nội phố! (nhại tên bài hát "Em ơi Hà Nội phố" của Phú Quang).

    “Hỏi các chủ nhà thì cái câu trả lời thường nhận được là: “Nhưng mà tôi thích vậy”.

    Quá lên một chút nữa, người ta lại giở giọng “Tùy tôi muốn sống thế nào thì sống, không ai được dí mũi vào việc riêng của tôi cả”.

    Vừa phóng xe vừa hút thuốc. Vào rạp chiếu phim vẫn nói điện thoại di động oang oang. Phô bày những cái xấu xa ngay giữa nơi công cộng. Xả rác ngay dưới chân cái bàn ngồi ăn. Đánh vợ chửi con ầm ĩ hàng xóm láng giềng. Hành hạ ô sin lấy cớ tôi đã thuê mướn thì dày vò thế nào cũng phải chịu… Cái khác của người thời nay so với thời xưa là làm những trò ngang ngược ấy một cách trâng tráo. Người ta viện dẫn cái gì chưa có luật cấm thì cứ làm. Đến lúc có luật cấm - như chuyện hút thuốc thời nay - thì lại bảo quen nết rồi bỏ sao nổi.

    Một nét thời đại nữa là trong đầu óc những người làm cái việc hơn đời ấy luôn có sẵn một mớ lý sự để sẵn sàng bảo vệ cho cách sống của mình.

    Họ vận dụng một khái niệm triết học - tự do để giải thích.

    Nghe có lý quá!

    Mang sách ra mà tra, thường tôi thấy những cuốn phổ thông nhất cũng đã ghi cái ý tự do là không bị ràng buộc gì hết, tự do là để con người làm theo ý muốn.

    Chỉ có điều nếu đọc kỹ hơn thì thấy khi bàn về tự do, các nhà xã hội học đã lưu ý ngay là không được đẩy nó lên cực đoan.

    Thứ nhất, do con người sống trong xã hội nên cái đi kèm với tự do là sự kiểm soát xã hội. Tự do của người này không thể cản trở tự do của người khác. Nói “điều kiện đầu tiên để có tự do là tự do phải bị hạn chế” là với nghĩa đó.

    Thứ hai, tự do ở đây phải có tính nhân văn, với nghĩa con người chỉ có quyền tự do để sống cận nhân tình hơn, tốt đẹp hơn chứ không phải để hư hỏng, xấu xa đi.

    Theo một nhà triết học Trung Quốc cận đại là Lương Khải Siêu, thứ tự do bừa bãi kia nên gọi là tự do hoang dại, và đó là dấu hiệu của một xã hội phát triển thấp.

    Ông và các đồng sự như Nghiêm Phục đã băn khoăn mãi khi tìm một chữ gì trong tiếng Hán để tương ứng với chữ liberty trong tiếng Anh.

    Tính toán mãi các ông đành dùng chữ tự do.

    Theo nghĩa đen, tự do nghĩa là từ mình mà ra đồng thời là trở về với mình.

    Nhưng mà con người ta phải là cái gì trí tuệ, hiểu biết, tự làm chủ được mình thì mới có quyền trở về mình chứ? Để cho thứ tự do hoang dại kia lôi cuốn là làm rối loạn xã hội!

    Chính vì hiểu thế, Lương đặt vấn đề là các nhà quản lý xã hội không chỉ thân dân, gần gũi dân mà còn phải tân dân, làm cho dân ngày một tốt hơn.

    Ngoài nghĩa thông thường, tự do còn là một phạm trù thu hút không biết bao nhiêu giấy mực của các nhà triết học.

    Như tên gọi của nó đã chỉ rõ, Bàn về tự do của John Stuard Mill in năm 1859 - nhà xuất bản Tri thức đã cho in bản dịch - là cuốn sách kinh điển viết về khái niệm này, ở đó tác giả bàn kỹ về ý nghĩa xã hội của tự do như tự do tư tưởng, tự do về đời sống tinh thần.

    Những ý kiến khác nhau về cùng một vấn đề phải có quyền tồn tại ngang nhau, không ai được lấy cớ gì để ngăn cấm.

    Những khía cạnh đó cũng đang thành chuyện thời sự ở ta. Cái khó là ở chỗ trong khi thứ tự do theo nghĩa thiêng liêng đang là chuyện mỗi người hiểu một cách và phải gỡ dần dần, thì ý niệm tự do theo nghĩa phàm tục lại chiếm lĩnh tâm trí nhiều người.

    Tầm thường dung tục trong quan niệm và học đòi những cái nhố nhăng, những hành xử kiểu đó kéo người ta thấp xuống.

    Nó chỉ làm cho một xã hội trở nên nhộn nhạo thậm chí đầy tai vạ, chứ không phải là dấu hiệu của một khao khát tự do nào hết.

    Nó đóng vai trò một thứ van xì hơi, giúp người ta xả bớt những bức xúc trong lòng nhưng lại làm lãng quên cái quyền tự do cơ bản là tự do nâng cao chất nhân văn trong mỗi con người để mở đường đi tới xã hội văn minh.

    TIẾP TỤC CÂU CHUYỆN TỰ DO HOANG DẠI

    Bác sĩ Zhivago trong cuốn tiểu thuyết cùng tên của Boris Pasternak có lần nói với bạn gái:

    “ Cô thử nghĩ xem cái thời đại chúng ta thật là lạ lùng. Và cô với tôi đang phải sống trong đó. Thật ngàn năm một thuở mới lại xẩy ra những chuyện điên rồ như thế này. Cô có thấy cả nước Nga như mất nóc -- tôi và cô, tất cả những người như chúng ta đang sống ngoài trời. Không còn ai kiểm soát chúng ta. Tự do ! Đúng là tự do thực chứ không phải những lời rỗng tuếch, nhưng đó là một thứ tự do ngoài mọi sự chờ đợi của chúng ta, tự do vì tình cờ vì ngộ nhận.”

    Tôi ngờ rằng lẽ ra ở đây, tác giả muốn viết thêm …”tự do vô chính phủ, tự do làm khổ nhau hành hạ nhau.“

    Giá biết trước câu này, tôi sẽ dẫn vào bài Một thứ tự do hoang dại mới viết .

    Hóa ra ở đâu khái niệm tự do cũng là khó hiểu nhất!

    ----

    Từ những biến thiên kiểu ấy, nay nước Nga rơi vào tình cảnh thế nào?

    Có hai chi tiết đáng nhớ nhất từ các bài báo mà rải rác tôi đã đọc.

    Một là về các vùng quê, thấy rất nhiều người đàn ông say rượu, có khi tất cả đàn ông trong làng say rượu. Còn đàn bà thì dạy nhau để làm sao bán được thân mình cho những người giầu có.

    Và thứ hai, nếu ngày xưa, các phương tiện truyền thông chuyên môn đóng vai giảng đạo thì nay ngược lại. Xem ti-vi, dân không phải nghe dậy bảo là hãy sống như thế này thế nọ nữa. Trong khi tha hồ lê lết trong cực khổ, giờ đây họ toàn được nghe những điều họ muốn nghe, những lời nịnh nọt rằng nước Nga thuộc loại cường quốc dắt dẫn thế giới, người dân Nga đang sống cực kỳ hạnh phúc.

    ---

    Nhung đấy còn là ở một dân tộc có niềm tin tôn giáo.

    Người bình dân VN trong quá khứ - và còn kéo dài cho đến hôm nay – cũng quen và rất thích thú thu hẹp khái niệm tự do vào nghĩa tự do hoang dại, nhưng thường bao hàm cái nghĩa chả có gì là nghiêm chỉnh cả.

    Câu tục ngữ sau tôi thường được nghe với tâm lý sảng khoái và vẻ mặt bất cần đời “thứ nhất quận công thứ nhì ỉa đồng”!

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    21 phản hồi

    Có người khoái đọc cái bài này, có người lại bảo có lẽ cụ Vương Trí Nhàn không còn việc già làm nên mố moi cái đề tài muôn thở này ra cho mọi người bàn tán. Tự do là khát vọng cảu con người cũng là điều con người phấn đấu để vươn tới vì thế người ta khoái đoc, nhất là ở cái đất nước rất hiếm tự do do chế độ độc quyền độn đảng, người dân chỉ biết cúi đầu vâng dạ, đéo được hỏi lại chứ chưa nói đén phản biện.
    Giá như cụ Vương Trí Nhàn nêu cái từ ĐẢNG để người ta bàn tán thi hay hơn và thiết thực hơn, có ích hơn, đến nay còn rất nhiều người ngày nào khi mở miệng cũng nhắc đế từ Đảng, nhưng đéo biết khái niệm ĐẢNG là cái gì?
    Con người muốn có tự do thì phải hiểu biết, tự do thì phải theo nguyên tắc từ ngày xưa từ Đông sang Tây "kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" (mình không muốn - ai làm cho mình- điều gì thì đừng làm cho ai điều đó). Con người sống cộng đồng trong xã hội thì vãn phải có những quy tắc riêng cảu con người và phải theo, đó là luật lệ. Làm vó có thừ tự do vô điều kiện, làm gì có thứ tự do tuyệt đối. Người ta chỉ có những thứ tự do hợp lý ở ở chỗ này và mất tự do ở chỗ khác, có thể lấy ví dụ cụ thể: ở nước này thì có tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, tự do báo chí, tự do biểu tình, tự do lập hội hay tự do lập đảng phái... còn ở những nước CS thì người này được tự do lập ra đảng CS, còn người khác đéo được lập ra đảng gì. Ngay cái quyền tự di cơ bản ủa con người là tự do mưu cầu dân sinh thì có thời CS ở nước ta cũng cấm đoán như cấm người ta buôn bán , sợ tự phát tiến lên CNTB. May nhờ ơn Liên xô sụp đổ, ta mới mở mắt ra và mở rộng quan hệ với cá nưc[s tư bản nên ta mới xóa bỏ chế độ quan liêu bao cấp, cho dân được tự do buôn bán theo chủ nghiã tư bản, nhờ thế đời sóng mới khấm khá dần dần.
    Theo tôi nếu bàn về tự do thì nên đi vào vấn đề cụ thể nhà nước càn trả lại tự do cho dân như cần thực hiện những quyền tự do cơ bản giống như các nước dân chủ văn minh. Có được tự do như thế thì đất nước mới tiến lên được. Còn như hiện nay thì một người nói giống cả triệu người, cả triệu người nói giống một người thì con người còn tự giam cầm mình trong cái vòng Kim cô của bàn tuyên giáo. Cả triệu người học tạp theo Hồ Chí Minh thì đất nước mình định đào tao ra Hồ Chí Minh đề đi lãnh đạo các nước khác hay sao? Nước Mỹ có học tạp ai đâu , sao họ tiến nhanh thế.

    Người rừng: minh họạ số 2

    Trong phần vừa qua tôi đã mượn cuộc sống của người rừng để minh hoạ cho sự tồn tại của thuộc tính tự do của con người. Tôi cũng lần theo lịch sử để minh hoạ phần nào các bước con người đi từ trạng thái tự do hoàn toàn trong thiên nhiên sang thân phận nô lệ khi sống tụ tập thành xã hội. Trong bước chuyển đổi từ con người tự nhiên sang con người xã hội người rừng cũng có thể minh hoạ cho một khía cạnh không kém quan trọng khác nữa; đó là khía cạnh vai trò và sự đóng góp của từng cá nhân trong sự hiểu biết chung mà ngày nay có tên là khoa học-kỷ thuật của xã hội.

    Khi cha con người rừng được dẫn dắt trở lại xã hội ở Quảng Ngãi truyền thông VN đưa tin rầm rộ. Truyền thông quốc tế cũng vào cuộc một cách hào hứng không kém. Khắp nơi người ta tiếp nhận tin này với tâm trạng có lẽ phải nói là một sự tổng hợp của ngạc nhiên, tò mò, thích thú, và không ít thương cảm. Người rừng là hiện thân của đời sống trên 40 năm biệt lập, hoang sơ, đơn giản, hoàn toàn không có chút bóng dáng văn minh của bất cứ thời kỳ nào. Thích thú và thương hại là ở chỗ đó. Nhưng nếu ta thử đặt câu hỏi rằng bản thân mình bị đặt vào hoàn cảnh của người rừng liệu ta có thể sống sót qua sáu tháng? Câu trả lời cho câu hỏi này sẽ mở đường cho một chuỗi nhận thức rõ hơn về vai trò của từng cá nhân trong cấu trúc và các bước tiến của xã hội.

    anh_6_q.ngai_tro_ve_cua_nguoi_rung_.jpg
    Hoàn toàn biệt lập trong rừng sâu với những dụng cụ như thế này một người sẽ sống được bao lâu? (*)

    Trước hết là bản thân tôi. Trong hoàn cảnh này tôi thấy khó có thể sống sót có lẽ quá sáu tháng hoặc một năm. Mà không riêng gì tôi, một cách trung thực, hầu hết con người xã hội cũng sẽ thấy mình không thể sống được lâu trong hoàn cảnh như vậy. Đây là phần tự suy xét. Còn theo nghiên cứu của các chuyên gia thì kết quả cũng không có gì khác: bất kể người đó là ai, một người không thể sống trong tình trạng hoàn toàn cách ly với xã hội. (1)

    860x394.jpg
    Các chuyên gia điều phối chuyến bay thám hiểm không gian của NASA hầu như không thể sống sót trong hoàn cảnh của người rừng.(*)

    onu1.jpg
    unsc.jpg
    Tinh hoa chính trị của thế giới cũng khó sống sót trong hoàn cảnh của người rừng (*)

    nobel-prize-1976-2017.jpg
    Các khoa học gia được trao giải Nobel vẫn không đủ hiểu biết để sống sót trong hoàn cảnh của người rừng.(*)

    people.jpg
    Hầu như không ai trong số con người xã hội có đủ kỷ năng để sống tách biệt như người rừng (*)

    Kết quả này có thể làm nhiều người bất ngờ nhưng xét kỹ sẽ thấy hợp lý.

    Trên phương diện cá nhân, con người xã hội chỉ có thể tồn tại bên trong cộng đồng xã hội. Tách rời khỏi xã hội con người không thể tồn tại. Điều này có nghĩa trong đời sống hoang sơ không chút bóng dáng văn minh con người có hiểu biết sâu rộng hơn đồng loại có đời sống gọi là hiện đại. Điều này cũng có nghĩa con người xã hội dù thuộc loại tinh hoa bậc nhất thì sự hiểu biết cũng rất hẹp, và hiểu biết ấy chỉ có giá trị khi được hợp tác với hiểu biết của nhiều người khác.

    Trên phương diện xã hội, tương quan hiểu biết giữa người rừng và thành phần xã hội tinh hoa cho thấy cấu trúc, thành tựu, tầm phát triển, tốc độ phát triển ... tuỳ thuộc vào sự tương tác của tất cả mọi thành viên trong xã hội. Và quan trọng nhất, nó cho thấy không một cá nhân nào được mặc nhiên coi là xứng đáng với vai trò chỉ huy, uốn nắn hay định hướng xã hội.

    Nói cụ thể như trường hợp trung tâm điều phối chuyến bay của NASA. Trên phương diện cá nhân không thành viên nào trong trung tâm này có hiểu biết quý báu sâu rộng như người rừng. Nhưng phối hợp lại họ có thể hướng dẫn việc phóng con tàu vào không gian, bay hàng triệu km rồi trở về hạ cánh xuống trái đất an toàn. Mỗi thành viên của trung tâm là một chuyên gia có hiểu biết rất sâu trong lĩnh vực phóng và hạ cánh con tàu, nhưng họ không biết cách sửa chữa khi toilet trung tâm bị nghẹt. Họ không thể hoạt động mà cũng không thể sửa chữa nếu mái của trung tâm bị dột. Họ cần sự hợp tác của những người làm những việc không liên quan gì tới không gian. Và khi một sứ mạng con thoi thành công, đây là thành tựu của các khoa học gia NASA? Không hẳn như vậy. Sứ mạng con thoi nào cũng có đóng góp của thợ lợp mái nhà và sửa toilet. Hay đây là thành tựu của nước Mỹ? Cũng không hẳn như vậy vì sứ mạng được thực hiện dựa vào nhiều mảng tri thức được đúc kết vào thời điểm rất lâu trước khi nước Mỹ ra đời. Chính xác hơn chỉ có thể nói đây là thành tựu của sự hợp tác của những con người xã hội.

    Hay như trường hợp các nguyên thủ quốc gia. Obama, Trump, Blair, Merkel, Phú Trọng, Cận Bình là những nguyên thủ quốc gia. Obama và Blair có hiểu biết tương đối sâu về luật pháp. Merkel và Cận Bình có hiểu biết tương đối sâu về các môn Lý - Hoá. Phú Trọng có hiểu biết đặc biệt về việc xây dựng đảng. Trump có hiểu biết nổi bật về kinh doanh bất động sản. Mỗi người có một tầm hiểu biết chuyên sâu nhưng căn cứ vào đa số mà nói thì họ không sống được nếu bị tách rời khỏi xã hội. Như vậy xã hội có hiểu biết nhiều hơn về những thứ quyết định mạng sống của chính họ, những thứ mà theo logic họ phải có hiểu biết hơn ai hết. Thực tế cho thấy Obama, Trump, Blair và Merkel có vẻ đã nhận ra điều này. Họ được đặt vào vị trí đứng đầu quốc gia nhưng họ tôn trọng hiểu biết của xã hội, họ không nhìn thành tựu của xã hội như thành tựu của đảng hay của bản thân họ, họ cũng không chủ trương uốn nắn hay định hướng xã hội. Họ để cho xã hội tự định hướng dựa theo tầm hiểu biết của nó.

    Riêng Phú Trọng và Cận Bình thì khác. (mai nói tiếp)

    (1) Yuval Noah Harari: Sapiens A Brief History Of Humankind
    (*) Hình minh hoạ nguồn: internet

    Không gian sống truyền thừa qua 9000 năm!

    Nhân bài này tác giả cũng có nói về kiến trúc đô thị, đề tài mà lịch sử đã cho thấy có nhiều chi tiết thú vị. Đưa ra đây để bạn đọc "thư giãn".

    Đầu thập niên 90, thế kỷ 20, các nhà khảo cổ đã khai quật được một tiểu đô thị ước chừng 9000 năm tuổi có tên Catal Huyuk ở Thổ Nhĩ Kỳ. Những gì quan sát được cho thấy một cụm dân cư với nhà mái bằng san sát nhau, không có đường đi, cũng không có không gian công cộng! Đô thị tiền sử này cho thấy một không gian sống khá đặc biệt mà qua 9000 năm tưởng đã bị các bước tiến của nền văn minh khoả lấp. Nhưng không, ngày nay vẫn có những cụm dân cư với nhà mái bằng san sát nhau, không có đường đi và không có không gian công cộng, giống hệt như 9000 năm trước!

    goingiran-sar-agha-seyed-village-3.jpg
    "Làng" Sar-Agha-Seyed ở Iran, cấu trúc là bản sao của tiểu đô thị Catal Huyuk.

    Ashoka (A-Dục) là con trai thứ của thủ lĩnh Bindusara, người cai trị vùng đất Maurya khu vực ngày nay phần lớn là Ấn Độ. Khi Bindusara qua đời Ashoka nhanh tay hạ thủ người anh trai, người theo truyền thống sẽ thừa kế quyền thủ lĩnh, và được thừa nhận là thủ lĩnh mới của đế chế Maurya.

    Không lâu sau khi nắm quyền Ashoka đem quân chinh phạt Kalinga, vùng đất ở phía nam Maurya, với lý do vùng đất này không chịu thuần phục. Với quân số và vũ khí vượt trội Ashoka nhanh chóng "làm cỏ" Kalinga. Nhưng khi tận mắt chứng kiến chiến tích của mình Ashoka bàng hoàng và tỏ ra hối hận trước những gì mình gây ra.

    "150, 000 người bị bắt mang đi, 100, 000 người bị giết tại chỗ, và con số người chết còn nhiều hơn thế gấp bao nhiêu lần, điều này khiến cho ta vô cùng hối hận vì mình đã giày xéo một đất nước chưa từng nếm gót giày xâm lược, và gây tang tóc lưu đày cho vô số dân Kalinga. Đây là nỗi đau đớn xót xa của ta."(1)

    Theo câu chuyện truyền miệng sau trận Kalinga thủ lĩnh Ashoka biến thành một con người khác.

    Theo những dòng chữ khắc trên đá được tìm thấy ngày nay, sau trận Kalinga Ashoka đã thực hiện một cuộc cải cách xã hội hết sức phản chính thống. Thủ lĩnh đế chế Maurya đã ban ra một bản hướng dẫn với những quy định cụ thể là:

    - Bãi bỏ việc mua bán nô lệ
    - Trị bệnh miễn phí cho người nghèo
    - Dạy học miễn phí cho trẻ em nghèo
    - Ân xá tội phạm mỗi năm một lần
    - Tôn trọng sinh mạng của muôn loài
    - Chấp nhận mọi sự khác biệt tôn giáo (2)

    Một mặt nôi dung của bản hướng dẫn này bộc lộ hai khía cạnh.

    Ở khía cạnh thứ nhất, khía cạnh con người, nó cho thấy bị dằn vặt bỡi đau thương chết chóc do mình gây ra ở Kalinga Ashoka đã tìm tới triết lý của Phật Giáo để sửa chữa lỗi lầm. Đối tượng mà Ashoka muốn thay đổi là đời sống và nhận thức của người dân. Ông muốn người dân có cuộc sống mà ông cho là tốt nhất.

    Ở khía cạnh thứ hai, khía cạnh xã hội, nội dung của bản hướng dẫn cho thấy Ashoka gián tiếp xác định rằng người dân trong xã hội Maurya sẽ sống với những chuẩn mực này.

    Mặt khác, nội dung của bản hướng dẫn cho thấy các chuẩn mực xã hội không nhất thiết chỉ được xác định bỡi người thủ lĩnh hay bỡi giới có quyền trong xã hội.

    Thủ lĩnh có sở hữu nô lệ nhưng chắc chắn không có nhiều hoạt động mua bán nô lệ. Hoạt động mua bán phần lớn là của giới con buôn, giới có tài sản. Vậy thì muốn có một xã hội phi nô lệ, giới có tiền có thể tự chấm dứt việc mua bán và sở hữu nô lệ của mình mà không cần đến sắc lệnh hay hướng dẫn của thủ lĩnh.

    Thủ lĩnh không có khả năng chữa bịnh. Chữa bịnh là việc của thầy thuốc. Vậy thì để xã hội có chuẩn mực chữa bịnh miễn phí cho người nghèo giới thầy thuốc có thể tự thiết lập các dịch vụ mà không tính công. Việc này đâu cần đến sự can thiệp của thủ lĩnh.

    Thủ lĩnh cũng không có khả năng dạy học. Đây là việc của các thầy giáo. Vậy thì giới thầy giáo cũng có thể làm thay đổi bộ mặt xã hội mà không cần đến quyền của thủ lĩnh.

    Chỉ có việc ân xá tội phạm là tuỳ thuộc hoàn toàn vào thủ lĩnh, còn những chuẩn mực tôn trọng sinh mạng của muôn loài, chấp nhận mọi sự khác biệt tôn giáo, là những thứ có thể tạo ra bỡi chính các thành phần trong xã hội.

    Con người xã hội sống với nhau, hợp tác với nhau theo chuẩn mực nào là chuyện có thể được hướng dẫn bỡi thủ lĩnh, nhưng nếu vì một lý do gì đó thủ lĩnh có đầu óc bị đông đặc "dưới chuẩn", chuẩn mực xã hội có thể được thiết lập bỡi những người dân thường.

    Cải cách xã hội của Ashoka 2200 năm trước đã có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở khắp tiểu lục địa Ấn Độ mà còn lan trải đến tận Đông Nam Á, cụ thể là trường hợp Thái Lan hiện nay. Về phía tây cải cách của Ashoka đã ảnh hưởng đến tận nền văn minh Hy Lạp với những bản dịch còn lưu truyền đến ngày nay.

    Ngày nay cải cách của Ashoka được nhìn nhận là Tuyên Ngôn Nhân Quyền đầu tiên của nhân loại. Nhân quyền được hiểu như là những chuẩn mực mà cuộc sống của con người trong xã hội hiện đại cần có.

    (1) BBC: Nền văn minh của nhân loại
    (2) Edict of Ashoka

    (mai nói tiếp)

    Nói về sự kiện Kalinga trước hết phải nói tới hai bước phát triển quan trọng diễn ra trong thời gian trước đó. Thứ nhất là phát triển chữ viết diễn ra cách đây chừng 4000-6000 năm. Thứ hai là sự xuất hiện khái niệm quốc gia, cách đây chừng 3000-4000 năm. Cả hai là những bước phát triển tư duy vượt bậc, bộc lộ khả năng liên kết và hợp tác của con người, những khả năng làm nền tảng để có một xã hội bền vững. Chữ viết đã đóng vai trò thế nào trong đời sống và trong các bước phát triển văn minh mà ta có ngày nay là điều không còn gì phải bàn cãi. Riêng khái niệm quốc gia, tuy là một trong những khái niệm phổ quát nhất, từ lúc nó xuất hiện cho đến tận ngày nay, đây là môt trong những khái niệm dẫn tới nhận thức lệch lạc nhiều nhất và trong một nghiên cứu gần đây cho thấy quốc gia có thể là sản phẩm trừu tượng đã gây chiến tranh và chết chóc nhiều nhất cho nhân loại.

    Xã hội lơài người cách đây 3000 năm là xã hội đã phân chia thành nhiều tầng lớp theo mô hình kim tự tháp. Trên chóp là thủ lĩnh với quyền chính trị tối cao và tài sản nhiều vô kể. Tiếp theo là tầng lớp thư lại - quí tộc. Chữ viết tạo ra một lớp người biết chữ. Những người này đảm nhận việc thu thuế, ghi chép công văn và quản lý sổ sách của chính quyền. Người biết chữ cũng giúp thủ lĩnh trong việc liên lạc với bên ngoài (trong nhiều trường hợp thủ lĩnh lại mù chữ!) và sát cánh bên thủ lĩnh khi có chiến tranh. Tầng lớp thư lại - quí tộc sinh ra từ nhóm người biết chữ này và chiếm ước chừng chỉ 1% dân số.

    Tiếp theo là tầng lớp có tài sản. Thành phần này bao gồm nông dân, người buôn bán và thợ thủ công. Thành phần này chiếm chừng 20% dân số.

    Tiếp theo là phần dưới cùng của kim tự tháp bao gồm người không có tài sản và người nô lệ. Đúng ra phải nói người không có tài sản có thân phận trong xã hội cao hơn người nô lệ nhưng xét về quan hệ với tầng lớp trên, quí tộc và thủ lĩnh, người không có tài sản và người nô lệ có thân phận tương đương.

    Khái niệm quốc gia được chế tác ra bỡi giới biết chữ nhưng ý nghĩa được nhận thức có phần khác nhau giữa các tầng lớp trong xã hội kim tự tháp. Với thủ lĩnh quốc gia là của cải thâu tóm được qua việc thu thuế. Vì ranh giới lãnh thổ chưa đạt tới được tình trạng phân định rõ ràng những tài sản tiềm năng như quặng mỏ và các tài nguyên thiên nhiên khác chưa được nhận biết, quốc gia là đám thần dân sống dưới sự cai trị của thủ lĩnh mà cụ thể là của cải thu được qua thuế. Nhiệm vụ của thủ lĩnh là duy trì quốc gia để truyền lại cho con cháu và mở rộng quyền cai trị bằng cách thôn tính các khu vực, các quốc gia khác nếu có thể.

    Với tầng lớp thư lại - quí tộc quốc gia được nhận thức là của thủ lĩnh nhưng họ có liên đới và có trách nhiệm phải phò tá thủ lĩnh trong việc bảo vệ và phát triển quốc gia.

    Với tầng lớp có tài sản quốc gia là một khái niệm mập mờ. Một phần trong số này (nhóm có nhiều tài sản) nhận thức rằng quốc gia có tồn tại nhưng thuộc về thủ lĩnh hoặc thủ lĩnh và nhóm quí tộc. Phần còn lại (nhóm có ít tài sản) hoàn toàn không có nhận thức hoặc nhận thức rất mơ hồ về sự tồn tại của quốc gia.

    Với tầng lớp không có tài sản và nô lệ quốc gia nếu có tồn tại thì nó là thứ thuộc về "bề trên". Thân phận dưới đáy xã hội mà đề cập tới quốc gia là vô phép, phạm thượng.

    80% dân số hoặc là không có khái niệm quốc gia hoặc là có nhưng cho rằng sự tồn tại tùy thuộc hoàn toàn vào thủ lĩnh và một số quí tộc thân cận. Ngược lại thủ lĩnh và nhón quí tộc thì cho rằng sự tồn tại của quốc gia tùy thuộc rất lớn vào năng lực của đám thần dân bên dưới. Sự trái ngược trong nhận thức vế quốc gia này lưu truyền mãi cho tới ngày nay.

    Với đời sống con người trong tình trạng này một người được sinh ra 3000 năm trước sẽ rơi vào một trong các trường hợp sau:

    Sinh ra trong một nhóm du cư săn bắn - hái lượm, tuy phải liên tục sống trong tình trạng tinh thần căng thẳng nhưng hoàn toàn tự do, không tên không tuổi, có chiều cao trung bình 5cm cao hơn và tuổi thọ trung bình 5 năm cao hơn người định cư đô thị.

    Sinh ra trong nhóm người nô lệ, người này hầu như chắc chắn sẽ bị bán đi bán lại nhiều lần, sẽ làm nô lệ cho nhiều người trước khi gục chết vì kiệt sức hoặc vì bệnh tật ở tuổi 25-30.

    Sinh ra trong tầng lớp không có tài sản, người này không chắc sẽ có tên, sẽ không được phép đi học, sẽ làm việc quần quật để kiếm miếng ăn cho đến khi qua đời lúc 25-30 tuổi.

    Sinh ra trong thành phần có tài sản, người này có thể sẽ được thừa hưởng của cải từ cha mẹ, sẽ có tên có tuổi nhưng vẫn không được phép đi học, sẽ không nhất thiết phải làm việc, sẽ có thể mua nô lệ và theo đuổi những ý thích của bản thân trong cuộc sống.

    Sinh ra trong giới thư lại - quí tộc, người này sẽ được thừa kế chức vụ và tài sản từ người cha, sẽ được phép đi học, sẽ sở hữu nhiều nô lệ, sẽ là một phần trong hệ thống cầm quyền, và có thể sẽ có cơ hội lật đổ thủ lĩnh để chiếm quyền sinh sát tối cao.

    Sinh ra trong gia đình thủ lĩnh, người này nếu không phải đương nhiên là thủ lĩnh tương lai thì cũng ngấp nghé ngôi vị của thủ lĩnh, ngấp nghé ở chỗ chỉ còn một bước nữa sẽ có quyền vô hạn, có của cải vô kể, sẽ thành thần thánh được thần dân sùng bái đời đời.

    2200 năm trước Ashoka là một người sinh ra trong gia đình thủ lĩnh, ở một nơi đang chìm trong vòng xoáy chiến tranh - phát triền khốc liệt nhưng cuộc đời của nhân vật này đã chỉ ra cho nhân loại thấy có một con đường khác để phát triển xã hội.

    (mai nói tiếp)

    Nhân nói về Khổng Tử, gần đây có người nghiên cứu Nho Giáo cho rầng câu: quân xử thần tử thần bất tử bất trung, phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu là của người đời sau thêm vào, Khổng Tử không có tư tưởng quá hiếu sát như vậy. Xét về tình trạng xã hôi đương thời và những điểm căn bản trong tư tưởng của Khổng Tử tôi cho rằng quan điểm này rất gần với sự thật. Hơn nữa, trong luồng văn hoá TQ ảnh hưởng vào VN còn có câu dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh ( hình như cũng được cho là của Khổng Tử ), thành ra với phuơng tiện internet hiện nay và với kho tri thức của thế giới phần lớn đã đuợc số hoá và công khai trên mạng, những nghi vấn thuộc loại này có thể được tra cứu thêm.

    Trở lại với câu chuyện ở Athens, tuy là thị quốc lớn nhất trong vùng nhưng dân số chỉ chừng 40,000 người. Trừ ra người nô lệ, phụ nữ và người không có tài sản, số còn lại được phép cầm viên đá lựa chọn chỉ chừng 6000.

    Về khía cạnh tự do, có thể nói 10,000 năm sau bước khởi đầu của nền văn minh đây là 6000 người đầu tiên được tự do. Nhưng ở đây tự do chưa phải là điều quan trọng nhất, tương nhượng tự do còn quan trọng hơn.

    Trong 6000 người được phép cầm viên đá lựa chọn đại đa số mù chữ, nhưng trong số không mù chữ lại là những người có bộ óc xuất sắc. Họ là những tướng lĩnh chỉ huy quân đội như Miltiades, người chỉ huy trận Marathon. Họ là những người như Aeschylus, Sophocles, Euripides những tác giả của bi kịch cổ đại Hy Lạp mà cho tới ngày nay thế giới vẫn chưa có ai xứng tầm. Họ là những người như Hippocrates, "người cha" của ngành y hiện đại mà bác sĩ nào khi ra trường cũng phải đưa tay tuyên thệ rập theo lời của ông. Họ là những người như Plato, Aristotle, những người "yêu thích hiểu biết và sự thông thái". Họ là những người "chuyên lý giải" với những ý tưởng như nếu cắt đôi, cắt đôi, cắt đôi ... một vật thì sẽ đến một lúc không thể cắt được nữa; họ gọi tình trạng không thể chia tách được nữa của vật chất là atom, một khái niệm khoa học hết sức sống động trong hai thế kỷ vừa qua. Cùng lúc Athens cũng đã có tầng lớp viên chức chính quyền có học và thông thạo việc quản trị xã hội. Làm sao để ý nghĩa của những viên đá trắng đen được tôn trọng trong một tập thể có sự chênh lệch hiểu biết quá lớn như vậy?

    Nói cụ thể hơn, trước một quyết định hoàn toàn có tính chất quân sự như "hoà hay chiến?", làm sao để một người như tướng Miltiades có thể chấp nhận lựa chọn của ông cũng chỉ có giá trị ngang bằng với lựa chọn của một người mù chữ? Hay như quyết định về việc "quy hoạch" một khu đô thị, xây một ngôi trường hay mở một con đường, làm sao những người đã thiết kế những công trình mà 2500 năm sau cả thế giới vẫn còn ngưỡng mộ có thể chấp nhận lựa chọn của họ cũng chỉ có giá trị ngang bằng với lựa chọn của những người mù chữ?

    Mà không chỉ là chấp nhận giá tri ngang bằng trong lựa chọn. Không ai biết tướng Miltiades và một chục tướng lĩnh khác chọn đá trắng hay đá đen. Chỉ biết sau khi có kết quả, bất luận lựa chọn của mình thế nào các tướng đồng loạt phục tùng quyết định của nhóm đa số đá trắng. Phục tùng có nghĩa là tương nhượng tự do. Và câu hỏi vẫn là: làm sao để những người giàu, những người có địa vị cao trong xã hội, những người có am hiểu sâu rộng, có thể gạt bỏ sự lựa chọn có tính chất sinh tử và tương nhượng tự do của mình trước quyết định của đa số nghèo và có ít hiểu biết hơn?

    Đây là câu hỏi rất khó trả lời, nhưng không phải không trả lời được. Có thể nói từ lúc thoát khỏi nguy cơ tuyệt chủng 70,000 năm trước cho đến ngày nay con người không có câu hỏi và câu trả lời nào có giá trị cao hơn câu hỏi và câu trả lời này. Và không ở đâu tính nhân văn có thể thấy rõ như thấy trong câu trả lời của người Athens.

    Câu trả lời chỉ ra rất rõ khái niệm bình đẳng.

    Nhân nói về nhân văn phải nói thêm là hiện có những người tự cho mình có hiểu biết hơn người khác, tự cho mình có thể "định hướng" cả xã hội, tự cho mình có quyền trước đời sống của hàng trăm triệu người mà không cần đến sự uỷ thác của họ, nhưng lại rêu rao là mình đang "rất nhân văn"! Những người này nếu có thêm chút hiểu biết họ sẽ thấy "nhân văn" của họ là thứ nhân văn bán khai.

    2500 năm trước tư duy của người Athens đã làm loé lên những sự kiện cho ta thấy bản chất tự do của con người, các điều kiện để tương nhượng tự do các yếu tố cấu thành khác trong tính chính danh của quyền thủ lĩnh. Ngày nay giai đoạn này được thẩm định là một trong vài thời kỳ mà tư duy con người sẽ làm nền tảng cho các bước tiến văn minh về sau.

    Là một thị quốc bé nhỏ, ở một nơi bất tiện về địa lý, ý tưởng của người Athens bị hút mất vào vòng xoáy chiến tranh - phát triển tràn lan đương thời. Tự do cá nhân biến mất. Tính chính danh của quyền thủ lĩnh trở lại với chiến thắng cùng sự hổ trợ của thần linh. Phải 2000 năm sau xu hướng lý giải về sự tự do cá nhân và tính chính danh của quyền thủ lĩnh mới xuất hiện trở lại. 2000 năm tiếp theo nhân loại sẽ chìm vào một vùng tăm tối. Tuy nhiên đây đó vẫn có những khoảng khắc bừng sáng mà một trong những khoảng khắc bừng sáng đó đã đưa nhân loại đến khái niệm Nhân quyền như ta hiểu ngày nay.

    200 năm sau văn minh Athens, ở vùng đất ngày nay gọi là Ấn Độ có một thủ lĩnh tên Ashoka cai trị tiểu quốc tên Kalinga. Những gì diễn ra ở đây sẽ là bài học đầu tiên của nhân loại về Nhân quyền.

    (mai nói tiếp)

    Như vậy cách đây 3000 năm chính quyền có chính danh dựa trên 2 yếu tố: uy tín cá nhân và truyền thống xã hội.

    Vào lúc này, về mặt chính trị toàn thế giới có chừng 30,000 chính quyền, rải khắp các khu vực từ Trung Quốc, Ấn Độ, Cận Đông, chung quanh Điạ Trung Hải, Phi Châu đến Bắc và Nam Mỹ.

    Về mặt xã hội, trong các bước tiến hoá đến thời điểm này có 2 bước cần lưu ý.

    1) Tiếng nói phát triển thành ngôn ngữ đặc trưng của nhiều nhóm người nhưng tình trạng chung là những khái niệm dân tộc, quốc gia,, hay thống nhất chưa xuất hiện. (Trung Quốc, Ấn Độ ... là những cái tên được đặt ra sau này)

    2) Đã có chữ viết, có nhiều văn bản thuộc loại thơ ca, thần chú; văn bản ghi chép các hoạt động buôn bán, đi lại, các vị trí địa lý ...vv, nhưng không có luật (Mặc dù có 2 văn bản có tính chất luật là Ur-Nammu 2000 BC. và Hammurabi 1700 BC. nhưng cả hai không đề cập đến quyền của thủ lĩnh trước người bị trị).

    70,000 năm tính từ khi tiến bước ra ngoài Phi Châu, 7000 năm trong vòng xoáy chiến tranh - phát triển, với đầu óc có xu hướng lý giải con người tiếp tục tìm tòi, suy nghiệm. Họ suy nghiệm những gì?

    Có ít nhất một dẫn chứng.

    1200 năm BC người du mục Aryan tiến chiếm miền bắc Ấn Độ mang theo kinh Vệ Đà, đây là triết lý về cuộc sống của họ, trong đó có những câu:

    Ai thông suốt mọi chuyện, ai có thể nói cho ta nghe tường tận vạn vật đến từ đâu? Nguồn gốc của chúng nơi chốn nào? Vũ trụ được sáng tạo trước rồi mới đến thiên thần, thì ta biết hỏi ai đây? Sáng thế là công của ai? Phải chăng là công ông Trời? Trời cao chứng giám mọi điều, Trời chí khôn, Trời tất biết nhưng có khi Trời dại, Trời chẳng hay. (1)

    Rõ ràng là người Aryan hoà nhập với người Ấn đã suy nghiệm về rất nhiều vấn để trong đời sống con người. Đặc biệt là họ suy nghiệm ngay vào niềm tin của họ. Đây là dấu hiệu đầu tiên cho thấy từ xu hướng lý giải con người bắt đầu có ngờ vực về sự tồn tại và quyền lực của thần linh.

    Và sau kinh Vệ Đà là một đợt sóng tư duy (Axis period)

    Trong khoảng trên dưới 500 năm BC, nhân loại có một đợt sóng tư duy đồng bộ nổi lên từ Đông sang Tây mang đến những ý tưởng vẫn còn đang được nghiên cứu ngày nay. Ở Trung Quốc nổi lên một loạt người "chuyên lý giải" mà Khổng Tử là nhân vật nổi bật. Khổng Tử với những suy nghiệm về vấn đề làm sao để tránh chiến tranh, để con người sống với nhau công bằng, lương thiện trong một xã hội hài hoà, bền vững. Trong sách Luận Ngữ có những câu: (Ý của Khổng Tử nhưng do học trò ông ghi lại)

    Hãy dùng luật lệ để trị dân nhưng nếu chỉ dùng hình phạt không thôi để giữ cho dân không loạn thì họ sẽ lánh xa ta và mất đi lòng tự trọng. Hãy lấy Đức để trị dân, lấy Lễ để duy trì kỷ cương thì dân sẽ biết tự trọng và tự tìm đến ta.(1)

    Như vậy Khổng Tử cũng suy nghiệm và đưa ra lời khuyên về vai trò của vua. Đây là chỉ dấu cho thấy ở "phương Đông" xu hướng lý giải của con người cũng bắt đầu chạm đến quyền cai trị tối cao "bất khả luận" của thủ lĩnh.

    Ở Ấn Độ nổi lên Tất Đạt Ta, một ông vua nhưng vì suy nghiệm-lý giải đã từ bỏ quyền thủ lĩnh để đi tìm con đường giải thoát những đau khổ trong một đời người.

    Ở các thị quốc trong vùng Địa Trung Hải cũng xuất hiện một loạt các nhân vật "chuyên lý giải", trong số này lý giải về tính chính danh của thủ lĩnh, nổi bật có Socrates ở Athens. Ông này cho rằng quyền thủ lĩnh tốt nhất là nằm trong tay những người "yêu thích kiến thức và sự thông thái", nhũng người mà ngày nay ta gọi là triết gia. Đến đây thì đầu óc suy lý của con người không còn đưa tới ngờ vực hay góp ý khuyên răn mà là phủ nhận hoàn toàn tính chính danh của thủ lĩnh.

    Và đặc biệt cũng ở thị quốc Athens trong thời gian này câu hỏi "từ đâu, từ căn bản lý lẽ nào để mọi người trong xã hội phải làm theo ý muốn của thủ lĩnh?" đã có câu trả lời khác. Câu trả lời ở đây không phải vì thủ lĩnh đã có thành tích chiến thắng hay thủ lĩnh là một vị thần mà là thủ lĩnh được đa số người dân uỷ quyền. Nói cách khác, tính chính danh thủ lĩnh có được từ uy tín cá nhân và truyền thống xã hội đã bị phủ nhận, thay vào là sự uỷ quyền của đa số người dân. Một viên đá trắng bỏ vào thùng là uỷ quyền, viên đá đen là không uỷ quyền. Năm 490 BC, trắng hay đen là lựa chọn "hoà hay chiến" của người Athens trước sự uy hiếp của đạo quân Ba Tư khổng lồ. Chiến là 1 chống 2, là chấp nhận chết hoặc sống và giữ được tài sản, gia đình, hoà thì sống nhưng phải làm thân nô lệ! Người Athens đã chọn những viên đá trắng nhiều hơn đá đen. Kết quả là chiến thắng để lại cái tên rất phổ biến đến tận ngày nay: Marathon.

    2500 năm trước con người đã đi đến chỗ nhận thức rằng quyền thủ lĩnh là quyền của từng cá nhân trong xã hội, thủ lĩnh chỉ có quyền này thông qua sự uỷ thác của các cá nhân. Nhận thức này là một bước tiến mà đến nay đã được nhìn nhận là bước tiến quan trọng nhất trong tư duy của nhân loại.

    Chỉ tiếc Athens là một thị quốc quá nhỏ!

    (mai nói tiếp)
    (1) BBC: Nền văn minh của nhân loại

    https://www.lepoint.fr/societe/gilets-jaunes-acte-viii-des-rassemblements-partout-en-france-05-01-2019-2283504_23.php

    Gilets jaunes : un acte VIII sous le signe de la violence

    Tôi e rằng nếu cứ bạo lực đốt phá, ... như thế này, thế nào cũng đổ máu, mất mạng, đưa đến chiến tranh dân sự trong nước.
    Gilets jaunes là những nhóm không có tổ chức chặt chẽ, tự phát, bao gồm đủ mọi thành phần, trong đo có cả cực đoan và bạo lực, có lẽ kể cả tội phạm nữa. Một vài gilets jaunes bịt mặt, đập cửa kính một tàu restaurant, cặp bến sông Seine, ném bình xăng đốt tàu !! Cứu hỏa phải can thiệp
    Ở Marseille, hai nhóm Gilets jaunes chống nhau, tự cho là đại diện phong trào Gilets jaunes ... và cảnh sát phải can thiệp

    Như vậy thì, quả thật qua việc lý giải, con người đã nhận thức được thế nào là bất công, áp bức, vô nhân, và tìm cách khôi phục lại các thứ quyền tự do cá nhân hay là dân sự. Vấn đề của lý giải là nếu nó bị ý thức hệ xỏ mũi thì nó có thể đi đến mức thái cực, làm nền tảng đạo đức bị phả sản, biến con người thành con thú trở lại; thí dụ: cách mạng vô sản và chủ nghĩa cộng sản.

    TUAN334 viết:
    Bác Mở Miệng: nhờ bác chỉ giùm, từ "lý giải" phải dịch sang tiếng Anh hay tiếng Pháp như thế nào mới đúng nghĩa.

    Reasoning (Anh), raisonnement (Pháp)

    Bác Mở Miệng :
    " Duy có một thứ không thay đổi, đó là LÝ. Con người vẫn giữ nguyên đầu óc với xu hưóng lý giải các hiện tượng chung quanh. Và với đầu óc suy lý này con người tìm lại được tự do. "

    Bác viết mấy bài còm công phu về tự do. Tôi đồng ý với quan điểm trên vì tiến bộ của xã hội ngày nay là kết quả của cái lý phần lớn vi lợi ích chung.

    Tuy nhiên không phải tất cả đều có cái lý giống nhau, cho nên xu hưóng lý giải các hiện tượng chung quanh cũng khác nhau. Có ngườì vì lợi ích cá nhân, vì phe nhóm, vi` tinh thần cực đoan dân tộc, vì tìm hiẻu khoa học, vi mê tín dị đoan, vi vô kỷ luật anarchism, ... Tôi viết "Tui e rằng không phải ai cũng có cái LÝ thích hợp cho xã hội chung" là với quản điểm này

    Gilet jaune có đòì hỏi không tăng thuế xăng dầu, tăng sức mua của ngườì dân, là hợp ý với đa số ngườì dân. Họ cứ việc biểu tình cả năm trờì nếu họ muốn và là quyền của họ.

    Cái mà tôi không ưa chính là cách họ biểu tình : chặn đường, không cho ngườì khác buôn bán, đi làm việc (đây cũng là một quyền) và nhất là gây nguy hiểm thương vong, phá hư hại vật chất của ... ngườì khác.

    Ông Macron cũng nhượng bộ một phần như không tăng thuế xăng dầu, ... Có ngườì cho rằng đây là kết quả (nhượng bộ) của "bạo lực có ích" (violences utiles) ?

    NGT viết:
    Tui e rằng không phải ai cũng có cái LÝ thích hợp cho xã hội chung.

    Tôi thì e rằng tôi không thể hiểu những câu loại này!!

    NGT viết:
    -Gilet jaune bao gồm rất nhiều thành phần khác nhau trong đó có cả bọn casseurs khoái đập phá cửa hàng, đốt xe hơi. Tuy chỉ là thiểu số nhưng bọn casseurs gây thiệt hại nhiều về vật chất. Cái lý lẽ cuả bọn casseurs thì không thể chấp nhận được

    Cái này thì bác phải tìm "bọn gilet jaune" và "casseurs" gì đó mà nói với họ. Tôi không biết cái lý của "bọn" này có chấp nhận được hay không chỉ nghe đâu Tổng thống Pháp đã nhượng bộ rồi

    NGT viết:
    -Lý lẽ độc quyền của bọn tham nhũng quyền lực trong TƯ, BCT, cũng không thể chấp nhận được

    Cái này bác cũng phải nói với TƯ, BCT chứ nói ở đây thì ngớ ngẩn quá!

    NGT viết:
    -Xu hưóng lý giải các hiện tượng chung quanh ? Chống tham nhũng ở VN chỉ đánh bắt cá nhân vi phạm, không làm audit lý giải lỗi hệ thống về quản lý, điều hành, ... và đưa giải pháp khắc phục

    Cái này bác phải đọc cho kỹ xem có chỗ nào ở đây nói về chống tham nhũng hay không.

    NGT viết:
    -Xu hưóng lý giải các hiện tượng chung quanh ? Hiện tượng gì ? Chẳng phải là một số dân các nước vẫn rất mê tín dị đoan đối với những hiện tượng mơ hồ, muốn áp dụng luật tôn giáo thờì xa xưa vào xã hội ?

    Phần này tôi chỉ liên quan phân nửa thôi, mà với phân nửa này nếu bác đọc- hiểu tiếng Việt bình thường thí ắt phải thấy tôi đã đưa ra 2 ví dụ rất rõ rồi!

    Bác Mở Miệng :
    " Duy có một thứ không thay đổi, đó là LÝ. Con người vẫn giữ nguyên đầu óc với xu hưóng lý giải các hiện tượng chung quanh. Và với đầu óc suy lý này con người tìm lại được tự do. "

    Tui e rằng không phải ai cũng có cái LÝ thích hợp cho xã hội chung.

    Ví dụ :
    -Gilet jaune bao gồm rất nhiều thành phần khác nhau trong đó có cả bọn casseurs khoái đập phá cửa hàng, đốt xe hơi. Tuy chỉ là thiểu số nhưng bọn casseurs gây thiệt hại nhiều về vật chất. Cái lý lẽ cuả bọn casseurs thì không thể chấp nhận được
    -Lý lẽ độc quyền của bọn tham nhũng quyền lực trong TƯ, BCT, cũng không thể chấp nhận được
    -Xu hưóng lý giải các hiện tượng chung quanh ? Chống tham nhũng ở VN chỉ đánh bắt cá nhân vi phạm, không làm audit lý giải lỗi hệ thống về quản lý, điều hành, ... và đưa giải pháp khắc phục
    -Xu hưóng lý giải các hiện tượng chung quanh ? Hiện tượng gì ? Chẳng phải là một số dân các nước vẫn rất mê tín dị đoan đối với những hiện tượng mơ hồ, muốn áp dụng luật tôn giáo thờì xa xưa vào xã hội ?

    Cho tới cách đây 3000 năm tính chính danh của các thủ lĩnh một phần đến từ thành tích chiến thắng (uy tín cá nhân). Một phần nữa là từ niềm tin thần thánh trong xã hội.

    Con ngưòi tiền sử có hai bước tiến hóa quan trọng, một là đi thẳng trên hai chân, hai là có bộ não với dung lượng lớn (hơn hẳn các "tiền bối" linh trưởng). Với bộ não dung lượng lớn người tiền sử có khả năng cảnh giác cao và có xu hướng lý giải tất cả các hiện tượng chung quanh. Tinh thần cảnh giác cao và xu hướng tìm câu trả lời cho tất cả các hiện tượng chung quanh đưa con người tới khả năng nhận biết, đây là ưu thế đặc biệt đưa con người tới khả năng sống sót và phát triển vươt trội. Ví dụ, với những tiếng sột soạt lớn, nhanh, trong lùm cây ven rừng tiếp theo sau là sự xuất hiện của một con thú lớn nguy hiểm, xu hướng cảnh giác-lý giải làm con người nhận biết các hiện tượng này liên quan với nhau. Trong những lần sau khi nghe những tiếng động tương tự con người bỏ chạy. Ngược lại, nếu tiếng động nhỏ, thong dong chậm rãi, thì đây là tín hiệu của một con thú nhỏ có thể săn được. Hay tình cờ có cục đá rơi vào đống lửa, một lúc lại thấy có chất lỏng lóng lánh chảy ra, lôi ra khỏi lửa thì chất lỏng đông cứng lại, con người lý giải chất lỏng lóng lánh là ở trong đá, lửa làm tan đá và chất lỏng chảy ra. Nếu muốn có chất lỏng thì bỏ đá vào lửa. Trong 300,000 năm tiền sử, các bước tiến vượt bậc có được là nhờ xu hướng lý giải các hiện tượng chung quanh của con người.

    Nhưng xu hưóng lý giải cũng đưa con người đến thế giới thần thánh. Mặt đất đùng đùng chuyển động, một trái núi không lồ sụp đổ, một tiếng sét làm cháy rụi một cánh rừng .... là sao lý giải những hiện tượng này? Tiếng động lạ đi kèm với một con thú nguy hiểm, bỏ đá vào lửa sẽ chảy ra chất lỏng lóng lánh là những hiện tượng có thể kiểm chứng. Động đất, bão lụt, sấm sét là những hiện tượng mà lời lý giải không thể được kiểm chứng! Xu hướng lý giải cao bao nhiêu thì tâm trạng bị thôi thúc phải có câu trả lời cũng cao bấy nhiêu. Cho tới một ngày kia, sét đánh xuống làm cháy cánh rừng và để lại một hình ảnh na ná như mặt người trên một thân cây loang lỗ. Lý giải sự xuất hiện của gương mặt này thế nào đây? Lời lý giải dễ nghe nhất là trong rừng, trên núi có những "người" hình hài giống ta, cũng sống, cũng hoạt động như ta nhưng ta không nhìn thấy được. Những "người" này có sức mạnh vô hạn, có thể làm mọi chuyện. Thế gìới thần thánh ra đời từ những tình huống như vậy (cho tới ngày nay những câu chuyện loại này vẫn còn nhiều ở VN!).

    Con người tiền sử tin rằng mình sống trong hai cõi, cõi thực và "cõi trên". Hoàn toàn không có ngờ vực nào về sự cùng tồn tại của hai cõi này. Chiến thắng của thủ lĩnh cũng thần bí như sấm sét, nó phải là kết quả được quyết định bỡi "cõi trên". Ngay bản thân thủ lĩnh cũng tin rằng có chiến thắng là nhờ được thần thánh trợ giúp. Mà đã được thần thánh trợ giúp thì chỉ một bước nữa là bản thân cũng thành thần.

    Niềm tin đã thành truyền thống trong xã hội rằng chiến thắng vì có thần thánh hổ trợ, người chiến thắng là đại diện hoặc có mối giao kết với các vị thần. Niềm tin này làm tính chính danh của thủ lĩnh có yếu tố thứ hai, yếu tố theo truyền thống. Đến đây xã hội có thủ lĩnh vừa là vua vừa là một vị thần.

    Cho đến 3000 năm trước thủ lĩnh vừa là vua vừa là thần, cha truyền con nối, có quyền sinh sát vô hạn, người dân dù có bị ngược đãi, có bị giết hàng loạt một cách vô cớ vẫn phục tùng, vẫn một mực tôn thờ thủ lĩnh. Nhưng rồi từ 3000 năm trở về sau tất cả những chuyện náy thay đổi.

    230,000 sống trong cảnh suýt tuyệt chủng, 70,000 năm sinh sôi từ 10,000 lên đến 20 triệu và lan tỏa khắp trái đất, từ tình trạng tự do hoàn toàn thành thân phận nô lệ hoàn toàn, con người đã trải qua những thay đổi không đủ lời để nói. Duy có một thứ không thay đổi, đó là . Con người vẫn giữ nguyên đầu óc với xu hưóng lý giải các hiện tượng chung quanh. Và với đầu óc suy lý này con người tìm lại được tự do.

    (mai nói tiếp)

    Chính quyền: quyền là tác lực buộc người khác phải làm theo ý mình; chính là tính chính danh của người có quyền được thẩm định dựa theo các yếu tố: pháp lý, truyền thống, (đức tin trong xã hội), và uy tín cá nhân.

    Trong phần này tôi cũng sẽ lần theo lịch sử để trình bày các bước tự do được tương nhượng trước chính quyền và bị tước đoạt bỡi chính quyền.

    Theo học thuyết "di dân" mới sử dụng công nghệ sinh học DNA thì tổ tiên con người hiện đại ("người khôn" Homo sapiens) đã rời khỏi Phi Châu theo lối "cữa Nam" các đây chừng 70,000 năm. Cũng theo học thuyết này giống "người khôn" xuất hiện sau một bước tiến hoá cách đây chừng 300,000 năm. Như vậy có 230,000 năm "người khôn" sống bên trong lục địa Phi Châu. Về tư do và chính quyền thì giai đoạn này không có chính quyền nên có thể nói con người hoàn toàn tự do. Săn bắt theo từng nhóm thì có tổ chức, có phân công, nhưng không có tương nhượng tư do có tính nguyên tắc như ta hiểu ngày nay. Đây là giai đoạn săn bắt hái lượm hoang dã, về mặt xã hội không để lại nhiều thông tin. Tuy nhiên, gần đây người ta có đưa ra vài số liệu đáng chú ý.

    Trong 230,000 năm tồn tại bên trong Phi Châu công đồng "người khôn" chỉ tăng được tới mức 10,000 người! Nghe nói cũng có lúc con số tăng tới mức vài trăm ngàn nhưng rồi sau đó tụt xuống, và đến khi có những nhóm dọ dẫm tiến ra bên ngoài thì chỉ ở mức con số đó. Đây là con số đáng chú ý vì nó tương phản với con số 20 triệu tăng trưởng bên ngoài Phi Châu, cũng với đời sống săn bắn hái lượm hoang dã trong 60,000 năm tiếp theo.

    Đến thời kỳ cách đây chừng trên dưới 10,000 năm con người phát triển kỷ năng trồng lúa và sống thành cộng đồng bộ lạc hay những cụm dân cư nhỏ. Viêc canh tác lúa đòi hỏi những hiểu biết về thời điểm và điều kiện gieo trồng. Đòi hỏi này làm lộ ra những người có hướng dẫn đưa tới vụ mùa sản lượng cao. Sau nhiều thành công người có hướng dẫn tốt sẽ được nhìn nhận như thủ lĩnh. Thủ lĩnh diện "dân sự" này tuy có quyền cưỡng chế nhưng phạm vi rất hẹp, và người dân tương nhượng tư do để đổi lấy hy vọng có vụ mùa thu hoạch cao.

    Việc canh tác lúa cũng đưa tới tình trạng lương thực chung của cộng đồng lệ thuộc vào các vụ mùa. Được mùa, lương thực sẽ thặng dư và có nguy cơ bị cướp. Mất mùa, thiếu lương thực sẽ phải tấn công vào những cộng đồng khác để cướp miếng ăn. Tổ chức giữ và cướp miếng ăn làm lộ ra những người chỉ huy, người chỉ huy thành công sau cuộc chiến sẽ thành thủ lĩnh. Thủ lĩnh trong thời gian này thường là một cá nhân có quyền cưỡng chế, không có quyền sinh sát. Và nếu có thể coi thủ lĩnh, của cả hai diện "dân sự" và "quân sự"g, là chính quyền, tính chính danh được nhìn nhận qua sự đồng thuận của hầu hết người trong cộng đồng trước uy tín của thủ lĩnh. Phần tự do mà người dân phải tương nhượng trước "chính quyền" trong giai đoạn này chỉ bó gọn trong những việc phải làm theo sự hướng dẫn của thủ lĩnh khi gieo trồng và tuân lệnh của thủ lĩnh khi luyện tập và chiến đấu. Trường hợp tương nhượng này cũng là tương nhượng để sống còn.

    Tiếp theo là thời kỳ cách đây từ 3000 đến 10000 năm. Đây là thời kỳ diễn ra vòng xoáy mà có lẽ là vòng xoáy cay nghiệt nhất trong lịch sử nhân loại. Vòng xoáy đó là: xã hội phát triển hỗ trợ chiến tranh - chiến tranh thắng lợi hỗ trợ xã hội phát triển! Kết quả là trong khi mức sống của con người càng ngày càng lên cao thì giá trị của con nguời lại càng ngày càng xuống thấp!

    Trong thời kỳ này chữ viết và trường học ra đời, vàng được khai thác; các thứ kim loại sắt, đồng, bạc ... được tinh luyện; các loài trâu, bò, heo, dê, lừa, ngựa ... được thuần dưỡng; các cụm dân cư thành các tiểu thành thị; nhà cữa vững chắc, an toàn hơn; lương thực đa dạng và dồi dào hơn; đường xá rộng và ngăn nắp hơn; hoạt động sản xuất hàng hóa, hoạt động thương mại phát triển phong phú và nhanh chưa từng có.

    Những phát triển vượt bậc trong xã hội cũng thúc đẩy chiến tranh đến nhanh với tốc độ vượt bậc. Chữ viết và trường học mở đường cho mệnh lệnh quân đội vượt qua cách trở không gian. Kim loại tinh luyện được sẽ thành gươm, giáo, thành vũ khí kim loại có sức công phá vượt bậc. Vàng được dùng để mua vũ khí thay vì phải sản xuất. Bạc được dùng để trả lương cho binh lính. Thú thuần dưỡng thành phương tiện di chuyển của quân đội ... Mổi bước phát triển của xã hội đưa tới một bước tiến trong ưu thế của quân đội, ưu thế sẽ đưa tới chiến thắng mà chiến thắng có nghĩa là sẽ thâu tóm tất cả mọi thứ của phe chiến bại.

    Trong những gì phe chiến thắng thâu tóm của phe chiến bại có con người. Hoá ra đây là chiến lợi phẩm có giá trị nhất. Quân đội hùng mạnh có được từ xã hội hùng mạnh. Mà xã hội hùng mạnh nghĩa là phải có thành cao hào sâu, phải khai kinh đắp đập, phải đào mỏ luyện kim ....vv, tóm lại là đòi hỏi sức lao động. Nhưng có sức lao động thì phải trả công, vậy thì có sức lao động mà không phải trả công là chuyện đáng ham muốn nhất. Đây là chỗ giải thích lý do tại sao trong lịch sử nhân loại có người nô lệ. Nô lệ là người của phe chiến bại bị phe chiến thắng thâu tóm, nhưng đây chưa phải là phần tồi tệ nhất trong thân phận của người nô lệ.

    Với sức lao động của người nô lệ xã hội giàu mạnh, xã hội giàu mạnh làm quân đội hùng mạnh, quân đội hùng mạnh đưa tới chiến thắng, chiến thắng là có thêm nhiều nô lệ, nhiều người nô lệ đưa tới xã hội giàu mạnh ..... đây có lẽ là vòng xoáy cay nghiệt nhất trong gần nửa triệu năm tồn tại của loài người.

    Nô lệ là người bị tước đoạt hoàn toàn tự do, nhưng không phải chỉ riêng người nô lệ, những thành phần khác trong xã hội cũng bị tước đoạt hầu như toàn bộ tự do . Trong vòng xoáy chiến tranh - phát triển những đế chế khổng lồ được thiết lập với người thủ lĩnh cai trị chỉ với hai mục tiêu: chiến thắng kẻ thù ở phía trước và giữ vững địa vị, bảo đảm không bị lật đổ từ phía sau. Với hai mục tiêu này người thủ lĩnh tước đoạt toàn bộ tự do của người khác.

    (mai nói tiếp)

    TUAN344 viết:
    Không phải riêng tự do thôi, mà hầu như từ ngữ nào cũng bao hàm nhiều ý nghĩa và khó định nghĩa đầy đủ được, nếu chúng ta dừng lại một chút để suy ngẫm lại. Ai cũng "hiểu" các từ: dân chủ, công bằng, quảng đại, bảo thủ, cấp tiến, thông minh, văn hoá, văn minh vv nếu chỉ nói phớt qua; nhưng nếu bị hỏi là các từ ấy có ý nghĩa gì, thì chúng ta sẽ bị khựng lại. ....Chữ "dân chủ" còn tệ hơn chữ "tự do": Thế nào là "dân"? Thế nào là "chủ"? Ai làm chủ? Làm chủ cái gì?

    Nếu hỏi dân ta lúa, gạo, ruộng, đồng, sông, núi ....có nghĩa là gì? Chắc chắn dân ta sẽ trả lời đúng phanh phách. Những thứ này là của ta, ta biết rõ. Còn những thứ bácđưa ra là từ bên ngoài du nhập vào, mà bên ngoài thì ngôn ngữ ta không rành nên không hiểu hết được ý nghĩa của chúng, lại còn "tam sao thất bổn", "sai một ly đi một dặm" nữa. Đã vậy những thứ bác đưa ra đều bị xếp vào loại "nhạy cảm" dân ta không được phép tìm hiểu, cho nên khi được hỏi dân ta "khựng" lại là đúng rồi. Bác cũng có thắc mắc về 'dân trí' và tôi định nghĩa dân trí là năng lực trí tuệ của đất nước, chỗ này có thể minh họa phần nào cho định nghĩa đó. Dân trí ta thấp, năng lực trí tuệ của nước ta thấp nên không mấy ai nắm bắt được chính xác những khái niệm đã quá quen với dân ở nhiều nước khác. Không thật sự hiểu nên khi được hỏi dân ta 'khựng' lại.

    TUAN344 viết:
    Tôi nghĩ là tại vì người ta không chế ra những thuật ngữ mới để gọi các ý niệm mới ấy, mà lại dùng những chữ có sẵn trong ngôn ngữ

    Cái này thì bác cảm nhận đúng, ngôn từ không phát triển đủ nhanh để đặt tên cho những bước phát triển ở các lĩnh vực khác trong đời sống. Nhưng với dân ta đây là câu chuyện ngược lại. Cũng là "dùng những chữ có sẵn" và từ bên ngoài du nhập vào nhưng dân ta không những không "khựng" mà còn tỏ ra rất rành, rất hăng hái giải thích. Ví dụ "cách mạng", trước năm 1789 nhân loại không có khái niệm cách mạng. Chỉ đến khi dân Paris và sau đó toân dân Pháp làm những chuyện thay đổi, đảo lộn chưa từng có, và vì chưa từng có nên người ta không biết gọi tên nó là gì. Vậy là người ta lôi ra một từ đã có sẵn, "revolution", và áp đặt cho nó thêm một nghĩa nữa. Cái này khi du nhập vào dân ta gọi là "cách mạng". Tại nơi "chôn nhau cắt rốn" của nó ý nghĩa của cách mạng đã có phần đa nghĩa, mơ hồ, bằng chứng là khi nó tỏa ra thế giới, nhiều nơi, nhiều lúc nó được dùng với nghĩa rất khác nhau (mới đây thì có "cách mạng 4.0" làm nhiều người chưng hửng). Đa nghĩa, mơ hồ nhưng vào VN thì dân ta không "khựng"! Kết quả là gì? Cái này nhiều người đã nhìn thấy.

    Trước khi nói tiếp qua phần tự do có thể và không thể tương nhượng trước chính quyền phải xác định quyền là gì.

    "We hold these truths to be self-evident, that all men are created equal, that they are endowed by their Creator with certain unalienable Rights, that among these are Life, Liberty and the pursuit of Happiness."

    "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc"

    Hóa ra ngay từ lúc mở mắt chào đời của chính quyền cộng sản ông chú ông bác lãnh tụ đã nhân thức sai ben bét khái niệm quyền. Quyền là quyền, tự do là tự do, làm gì có thứ "quyền tự do"! Thảo nào gần 80 năm sau cái "tuyên ngôn" về quyền con người này dân VN vẫn mơ hồ lẫn lộn không biết quyền của mình ở đâu, tự do của mình ở đâu.

    Trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ Rights (Quyền) là: chuẩn mực xã hội (được người Mỹ nhìn nhận). Life là sinh mạng được bảo đảm. Liberty là không bị nhà cầm quyền áp bức (tước đoạt quá nhiều hoặc toàn bộ tự do). Pursuit of Happiness là tìm kiếm hạnh phúc. Như vậy quyền này có nghĩa khác xa với quyền trong "chính quyền".

    Trong "chính quyền" quyền là tác lực buộc người khác phải làm theo ý mình.

    Đến đây có một điểm quan trọng cần phải nhấn mạnh. Đó là người Việt thường nhầm lẫn nặng nề quyền với tùy ý muốn. Ví dụ người ta nói rất nhiều câu: " ... đi (và nhiều động từ khác) hay không là quyền của họ/nó/mày/tao", trong khi đúng nghĩa phải nói " ...đi hay không là tùy ý muốn của họ/nó/mày/tao". Cách hiểu và phát ngôn cẩu thả này làm khái niệm quyền ngày càng rối rắm, khó hiểu trong xã hội VN.

    Một điểm quan trọng nữa là "Nhân quyền" trong Tuyên ngôn Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Quyền ở đây là chuẩn mực xã hội nhưng, giống như quyền trong TNĐL của Mỹ, chuẩn mực này do chính xã hội sở tại xác định. Chính quyền cộng sản có ký vào với tinh thần tôn trọng nhưng trên thực tế họ có thể viện dẫn chuẩn mực là do xã hội VN xác định để diễn giải méo mó, rộng hẹp túy ý những quyền ghi trong Tuyên ngôn này. Thành ra người Việt đấu tranh để có Nhân quyền không nên vin vào bản Tuyên ngôn của LHQ. Muốn có Nhân quyền, trước hết, người Việt phải xây dựng một tập hợp các chuẩn mực xã hội, sau đó đấu tranh phổ biến để các chuẩn mực này được nhìn nhận.

    Trở lại với chính quyền. Quyền ở đây là tác lực buộc người khác phải làm theo ý mình. Chính xác hơn là một người hay một nhóm nhỏ có tác lực buộc một số đông người khác phải làm theo ý họ. Từ đâu, từ căn bản nào sinh ra tác lực này? Đây là câu hỏi có từ xa xưa nhưng tới nay người ta vẫn còn đang tranh cãi về câu trả lời. Vì vậy tôi nghĩ cần phải dẫn ra một chút lịch sử để thấy quá trình hình thành và nguồn gốc của nó.

    Lịch sử cho thấy từ đời sống săn bắn hái lượm theo từng nhóm nhỏ tiến tới đời sống bộ lạc nuôi trồng canh tác con người có những thay đổi như sau:

    Đôi tay hái lượm săn bắn ----> đôi tay nuôi trồng và cầm vũ khí.
    Thức ăn chỉ có được từ săn bắn hái lượm -------> thức ăn có thể có qua cướp giật.
    Các cá nhân hợp tác, không có thủ lĩnh, không ai có quyền cưỡng chế người khác ------> có thủ lĩnh nhưng không có quyền cưỡng chế.

    Từ đời sống bộ lạc nuôi trồng tiến đời sống xã hội cụm dân cư con người có những thay đổi như sau:

    Nuôi trồng là hoạt động chủ yếu ------> nuôi trồng và buôn bán.
    Xung đột chiến tranh vì thiếu lương thực -------> xung đột chiến tranh có thêm lý do chiếm đất, và kiểm soát nguồn lợi thương mại.
    Thủ lĩnh là người có khả năng hướng dẫn nuôi trồng và phòng chống đột nhập từ bên ngoài, thủ lĩnh có quyền cưỡng chế (tác lực buộc người khác làm theo ý mình) nhưng không có quyền sinh sát (tác lực buộc người khác phải chết) ------> thủ lĩnh là người thắng các cuộc chiến, thủ lĩnh có quyền sinh sát nhưng chỉ hạn chế trong tình trạng đang có chiến tranh.

    Từ đời sống cụm dân cư tiến tới đời sống cộng đồng quốc gia con người trải qua những thay đổi như sau:

    Nuôi trồng, buôn bán -----> nuôi trồng buôn bán và tổ chức sản xuất, buôn bán.
    Chiến tranh mở rộng kiểm soát nguồn lợi -----> có thêm chiến tranh tương trợ, chiến tranh vì đồng minh.
    Thủ lĩnh được hổ trợ bỡi nhóm nhỏ không cấp bậc ----> thủ lĩnh được hổ trợ bỡi một hệ thống quyền lực nhiều cấp bậc, thủ lĩnh có quyền cưỡng chế, quyền sinh sát rộng lớn không cần lý do.

    Qua các bước hình thành cấu trúc xã hội rồi quốc gia này ta thấy QUYỀN cũng dần dần xuất hiện.

    Hiện tượng con người sống quy tụ thành cộng đồng đã đưa nhân loại đến nền văn minh ngày nay là chuyện không còn gì phải bàn. Ở đây ta chỉ xem xét người thủ lĩnh với quyền cưỡng chếquyền sinh sát đi kèm với nền văn minh ấy.

    Thủ lĩnh xuất thân là người thông minh. Với trí thông minh thủ lĩnh đúc kết kinh nghiệm thành những phương pháp nuôi trồng cho ra sản lượng cao. Với óc thông minh thủ lĩnh phân công canh gác hợp lý, công thủ chặt chẽ. Dưới sự hướng dẫn của thủ lĩnh bộ lạc có lương thực dồi dào và tự vệ có hiệu quả trước những tấn công từ bên ngoài. Rồi cũng với trí thông minh thủ lĩnh tổ chức quân đội, vạch ra chiến lược, chiến thuật, áp dụng kỷ thuật và vật liệu mới vào vũ khí ... ., với trí thông minh thủ lĩnh chỉ huy quân đội đánh bại kẻ thù. Chiến thắng đưa thủ lĩnh vào vị trí đỉnh cao với quyền cưỡng chế và quyền sinh sát tuyệt đối.

    Quyền cưỡng chế và quyền sinh sát trong chính quyền quân chủ hình thành qua các bước như vậy.

    Đến đây tạm đúc kết phần này: quyền có 2 nghĩa: 1- quyền là tác lực buộc người khác phải làm theo ý mình, 2- quyền là chuẩn mực của một xã hội được thừa nhận bỡi chính xã hội đó. Trong quyền là tác lực buộc ngưòi khác phải làm theo ý mình có quyền cưỡng chế và quyền sinh sát. Trong hầu hết các trường hợp, chính quyền quân chủ hình thành sau chiến thắng với một thủ lĩnh được gọi là vua hay một cái tên gì đó tương tự. Vua có quyền cưỡng chế và quyền sinh sát tuyệt đối.

    Tiếp theo sẽ là phần thủ lĩnh chính quyền quân chủ thay đổi thế nào sau khi chiếm được đỉnh cao quyền lực.

    TUAN344 viết:
    Chữ "dân chủ" còn tệ hơn chữ "tự do": Thế nào là "dân"? Thế nào là "chủ"? Ai làm chủ? Làm chủ cái gì?

    Sống ở thế kỷ thứ 21, vào được đến internet mà còn hỏi những câu hỏi vô tích sự này !

    Cuộc đời thì có cái quái gì là tuyệt đối, kể cả chữ nghĩa.

    Trong toán học, ai cũng nghĩ chính xác đến tận răng bởi 2+2=4, nhưng với cái từ toán học "vô cực", thì liệu có đếm được những con số chính xác ở vô cực, vì vậy lấy vô cực mà trừ cho vô cực thì không là zero nhé, bởi nó không xác đinh được.

    Còn từ "tuyệt đối" trong toán học ư ? dù là số cộng hay số trừ, nhưng khi đã là giá trị tuyệt đối thì mọi số đều là số dương, vì vậy cách thực sự để xem xét các giá trị tuyệt đối là khoảng cách của một số từ 0 trên dòng số, thí dụ một dòng số cho thấy khoảng cách từ -3 đến 0 là 3 (giống với giá trị tuyệt đối của -3) ... khoảng cách từ 0 đến 0 là 0 (giống với giá trị tuyệt đối của 0) ... khoảng cách từ 0 đến 5 là 5 (giống như giá trị của 5).

    "Dân Chủ" hay "Tư Do" thì nó có như là "vô cực" hay "giá trị tuyệt đối" trong toán học. Hỏi là trả lời.

    Tóm lại, "Dân Chủ" hay "Tư Do" chính là thước đo, dài hay ngắn chính là xã hội xác định.

    @Mở Miệng:
    Tôi khoái đọc cái còm của bác hơn cái bài blog này của ông Vương Trí Nhàn :)-

    Bác có thể góp ý tiếp về phần: cá nhân sống trong xã hội thì phải tương nhượng tự do với chính quyền như thế nào, cái gì, và bao nhiêu để mô hình xã hội được hoàn thiện?

    Không phải riêng tự do thôi, mà hầu như từ ngữ nào cũng bao hàm nhiều ý nghĩa và khó định nghĩa đầy đủ được, nếu chúng ta dừng lại một chút để suy ngẫm lại. Ai cũng "hiểu" các từ: dân chủ, công bằng, quảng đại, bảo thủ, cấp tiến, thông minh, văn hoá, văn minh vv nếu chỉ nói phớt qua; nhưng nếu bị hỏi là các từ ấy có ý nghĩa gì, thì chúng ta sẽ bị khựng lại. Tôi nghĩ là tại vì người ta không chế ra những thuật ngữ mới để gọi các ý niệm mới ấy, mà lại dùng những chữ có sẵn trong ngôn ngữ "phàm tục" (chữ của VT Nhàn).
    Chữ "dân chủ" còn tệ hơn chữ "tự do": Thế nào là "dân"? Thế nào là "chủ"? Ai làm chủ? Làm chủ cái gì?

    Cách đây mấy năm tôi có định góp ý về đề tài tự do theo nội dung trong tác phẩm 'Khảo Luận Thứ 2 Về Chính Quyền" của John Locke nhưng rồi việc này không đi tới đâu. Nay nhân có bài này nơi khái niệm tự do được tác giả đưa ra với phạm vi hẹp và cụ thể hơn, tôi thấy có thể trình bày góp ý của mình trôi chảy nên muốn nói đôi điều ở đây.

    Để nhận biết con người (cá nhân) có hay không có tự do và nếu có là có bao nhiêu tôi thấy cách tiếp cận tốt nhất là dùng một minh họa có tính chất "cây nhà lá vườn": "Người rừng Quảng Ngãi".

    choila.jpg
    Chòi lá cao 9m của cha con "Người rừng Quảng Ngãi"

    Cha con người đàn ông này sống trong rừng sâu, tách biệt hoàn toàn với xã hội trong hơn 40 năm, họ sống hoàn toàn giữa thiên nhiên, không có môt liên quan nào tới xã hội. Họ chính là "con người tự nhiên" (Jean J. Rousseau), hay con người "trong trạng thái tự nhiên" (John Locke) mà hầu hết các tríết gia được coi là vĩ đại trong lịch sử nhân loại đã dùng làm xuất phát điểm khi xây dựng luận cứ để xác định sự tư do của con người.

    Trong môi trường thiên nhiên tuyệt đối, hoàn toàn tách biệt với xã hội này cha con "người rừng" có được sống tự do theo cái nghĩa muốn làm gì thì làm không? (Tự do này tương xứng với "tự do hoang dại" của tác giả)

    Rõ ràng là không có một tác lực nào ngăn cản cha con người rừng không được làm chuyện họ muốn làm, họ hoàn toàn tự do. Thực tế này chứng minh cho sự chính xác trong luận cứ thứ nhất của các triết gia: trong trạng thái tự nhiên con người hoàn toàn tự do.

    Nhưng nếu lộ trình tư duy được điều chỉnh một chút để câu hỏi đổi thành: trong môi trường thiên nhiên tuyệt đối có tác lực nào buộc cha con người rừng phải làm chuyện họ không muốn làm không? Câu trả lời ở đây lại là có! Như vậy chỉ mới tới đây đã thấy tự do có tính chất vừa xác định vừa phủ định. (Chỗ này tương xứng với câu "Hóa ra ở đâu khái niệm tự do cũng là khó hiểu nhất!" của tác giả.)

    Tự do hoàn toàn, ngoài ý nghĩa không có tác lực nào ngăn cản ta làm chuyện ta muốn làm còn có nghĩa là khi có nhu cầu phải đáp ứng ta có thể đáp ứng bằng cách dễ nhất, thuận tiện nhất. Cụ thể là khi đói người rừng sẽ đi tìm thức ăn trên con đường dễ đi nhất, đến chỗ gần nhất và có nhiều thức ăn nhất. Hay khi cần một chỗ để che nắng che mưa và lưu giữ thức ăn người rừng sẽ làm một túp lều lá theo cách dễ thực hiện nhất và dễ ra vào nhất. Chòi lá cách mặt đất 9m cho thấy người rừng không thể đáp ứng nhu cầu của mình theo cách dễ dàng, thuận tiện nhất.

    Dựng một mái lá trên mặt đất dễ hơn nhiều so với làm một nhà sàn lắt lẻo trên các trụ cột. Ngay cả khi bị bắt buộc phải làm nhà sàn thì nhà sàn cách mặt đất 1-2m dễ làm và dễ ra vào hơn nhiều so với cái cách mặt đất 9m. Vậy thì tại sao người rừng phải làm cao 9m?

    Người sống lâu trong rừng có thể thấy một vài lý do. Thứ nhất nền trên mặt đất sẽ dễ bị các loài bò sát có nọc độc và các loài thú ăn thịt hung dữ xâm nhập. Thứ hai, vào mùa mưa mặt đất có độ ẩm rất cao, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và làm thức ăn lưu giữ chóng hư. Làm chòi lá cao 9m là để tránh các nguy cơ này. Từ đây có thể hình dung ra trong 40 năm cha con người rừng đã làm đi làm lại chòi lá nhiều lần với độ cao ngoài ý muốn tăng dần từ 1 tới 9m.

    Không có tác lực nào ngăn cản "con người tư nhiên" không được làm chuyện họ muốn làm nhưng có tác lực buộc họ phải làm chuyện họ không muốn làm. Thực tế này chứng minh luận điểm thứ hai của các triết gia rằng trong "trạng thái tự nhiên" con người hoàn toàn tự do nhưng phải tương nhượng một phần tư do theo yêu cầu của thiên nhiên để sống còn.

    Sống tách biệt trên đồng cỏ thảo nguyên, trên sa mạc hay trên các vùng băng giá hẻo lánh "con người tự nhiên" cũng có tư do và sự tương nhượng tương tự.

    Đến đây có thể kết luận trên thực tế không có thứ "tự do hoang dại" như tựa đề của tác giả. Thực tế cũng chứng minh tự do không có nghĩa là muốn làm thì làm không muốn thì thôi, tự do nhưng phải tương nhượng, phải làm những chuyện không muốn làm để tồn tại.

    Sau phần "con người tự nhiên" đến phần con người xã hội. Ở đây tác giả đưa ra những trường hợp con người xã hội không chịu tương nhượng tư do trước cảm quan thẩm mỹ của xã hội, cụ thể là cảm quan thẩm mỹ từ kiến trúc nhà trong thành phố. Câu chuyện ở Quảng Ngãi không có thông tin nào cho thấy cha con người rừng có cảm quan thẩm mỹ nên ta không thể nói "con người tự nhiên" có cảm quan thẩm mỹ hay không. Nhưng khi con người đã sống quy tụ thành xã hội thì chắc chắn xã hội có cảm quan thẩm mỹ. Đẹp là một yếu tố rất cần vì đẹp làm người ta có cảm giác sung sướng, thích thú. Một thành phố đẹp sẽ làm người trong thành phố có cảm giác sung sướng, thích thú. Tương nhượng tư do để có một thành phố đẹp là rất hợp lý, nhưng con người xã hội lại không chịu tương nhượng. Như vậy vấn đề là tại sao, và đây là điểm yếu của tác giả trong bài này.

    Mới đầu tác giả cho rằng lý do là sự bất lực của chính quyền, nhưng sau đó lại cho rằng lý do là con người xã hội không biết tự nguyện tương nhương! Thực tế cho thấy tương nhượng tư do chỉ có bắt buộc, không có tự nguyện. Ngay với thiên nhiên con người tự nhiên cũng chỉ tương nhượng tự do vì bị bắt buộc. không có tự nguyện. Chính điểm yếu này khiến nội dung toàn bài không đưa ra được điểm quan trọng nào trong khái niệm tự do.

    Sau phần con người xã hội là phần tương nhượng tự do trước chính quyền, tương nhượng bao nhiêu, phần nào có thể tương nhượng, phần nào không thể, đây mới là phần quan trọng nhất của tự do. Phần này hy vọng sẽ nói trong lần góp ý kế tiếp.

    Đúc kết lại: với con người tự do cá nhân là thuộc tính không thể tách rời, trong đời sống hoang dã trước thiên nhiên con người phải tương nhượng một ít tự do để tồn tại. Khi con người sống quy tụ thành xã hội sự tồn tại của con người tùy thuộc rất lớn vào sự tồn tại của xã hội. Để xã hội tồn tại và phát triển tốt đẹp con người phải tương nhượng tự do nhiều hơn, cụ thể là tương nhượng trước chính quyền. Tương nhượng tự do là sự chấp thuận vì bị bắt buộc, không có sự tương nhượng tự nguyện. Khi có người không chịu tương nhượng phải tìm kiếm lý do trong tính chính danh, các chính sách và năng lực điều hành xã hội của chính quyền.