Nghị quyết của Nghị viện châu Âu ra ngày 15 tháng 11 năm 2018, đặc biệt là tình hình tù nhân chính trị (2018/2925 (RSP))

  • Bởi Admin
    16/11/2018
    1 phản hồi

    Nghị viện châu Âu,

    - Chiểu theo các nghị quyết đã ban hành trước đây, đặc biệt là nghị quyết ngày 14 tháng Mười hai năm 2017 về tự do ngôn luận ở Việt Nam, đặc biệt là về trường hợp Nguyễn Văn Hóa, và văn bản ngày mồng 9 tháng Sáu năm 2016 về Việt Nam, cụ thể là về tự do ngôn luận;

    - chiểu theo Hiệp định Hợp tác và Đối tác EU - Việt Nam ký ngày 27 tháng Sáu năm 2012,

    - chiểu theo cuộc Đối thoại Nhân quyền EU – Việt Nam lần thứ bảy, ngày mồng 1 tháng Mười hai năm 2017,

    - chiểu theo Tuyên bố của Người Phát ngôn Cơ quan Đối ngoại châu Âu (EEAS) ngày mồng 9 tháng Hai năm 2018 về việc kết án những người bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam, và ngày mồng 5 tháng Tư năm 2018 về việc kết án những nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam,

    - chiểu theo Tuyên bố của Văn phòng Khu vực của EU về bản án mới đây đối với ông Lê Đình Lượng,

    - chiểu theo Các Chỉ dẫn của EU về Người Bảo vệ Nhân quyền,

    - chiểu theo tuyên bố của các chuyên gia Liên hiệp Quốc ngày 23 tháng Hai năm 2018, kêu gọi phóng thích các nhà hoạt động bị giam giữ vì phản đối việc xả thải độc, và ngày 12 tháng Tư năm 2018, kêu gọi thay đổi sau khi các nhà bảo vệ nhân quyền bị giam giữ;

    - chiểu theo Tuyên ngôn Toàn cầu về Nhân quyền năm 1948,

    - chiểu theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị, đã được Việt Nam tham gia ký năm 1982,

    - chiểu theo quyết định của Thanh tra châu Âu ngày 26 tháng Hai năm 2016 trong hồ sơ 1409/2014/MHZ về việc Cao ủy châu Âu đã không tiến hành đánh giá tác động nhân quyền trước thỏa thuận thương mại tự do EU – Việt Nam,

    - chiểu theo Điều 135 trong Điều lệ về Thủ tục,

    A. Xét thấy, theo Dự án 88, Cơ sở Dữ liệu về Tù nhân Chính trị Việt Nam, ước tính có khoảng 160 nhà hoạt động đang thụ án tù ở Việt Nam và khoảng 16 nhà hoạt động khác đang bị tạm giam trước khi xét xử;

    B. Xét thấy nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục bỏ tù, bắt giữ, sách nhiễu và đe dọa các nhà bảo vệ nhân quyền, nhà báo, blogger, luật sư nhân quyền và các nhà hoạt động xã hội dân sự trong nước; xét thấy những người bảo vệ nhân quyền đã và đang phải đối mặt với các án tù nặng nề vì các việc họ đã làm liên quan tới nhân quyền và vì đã thực thi quyền tự do cơ bản về ngôn luận, trên mạng hoặc ngoài đời, và việc làm đó của chính quyền Việt Nam trái với các nghĩa vụ của Việt Nam theo công pháp quốc tế;

    C. Xét thấy các nhà hoạt động nhân quyền và chính trị phải chịu các điều kiện khắc nghiệt trong thời gian giam, giữ, như không được chăm sóc y tế, không được tiếp cận nguồn tư vấn pháp lý và không được tiếp xúc với gia đình;

    D. Xét thấy quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam bị đè nén, và Công giáo cùng những tôn giáo không được công nhận, như Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất, một số nhà thờ Tin lành và các dòng khác, trong đó có các nhà thờ của người thiểu số ở Tây Nguyên, vẫn tiếp tục bị đàn áp nặng nề.

    E. Xét thấy ông Hoàng Đức Bình bị kết án 14 năm tù vì viết blog về các cuộc biểu tình liên quan tới thảm họa Formosa, xét thấy Nguyễn Nam Phong bị kết án hai năm tù vì bị cho là không tuân thủ yêu cầu của người thi hành công vụ trong khi lái xe tới một cuộc biểu tình; xét thấy các nỗ lực của hai người nói trên là cần thiết để đề cao nhận thức và bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm liên quan tới vụ xả thải từ nhà máy Thép Formosa;

    F. Xét thấy các thành viên của Hội Anh em Dân chủ bị kết án từ 7 đến 15 năm tù trong tháng Tư năm 2018, là một phần của chủ trương mạnh tay áp dụng các điều khoản về an ninh quốc gia trong Bộ luật Hình sự; xét thấy vào tháng Chín năm 2018, một thành viên khác của hội này, Nguyễn Trung Trực, bị kết án 12 năm tù theo cáo buộc về hành vi hoạt động nhằm lật đổ chính quyền;

    G. Xét thấy ông Lê Đình Lượng, một người bảo vệ nhân quyền, đã vận động ôn hòa để thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền, bị kết án vào ngày 16 tháng Tám năm 2018 theo các điều khoản về an ninh quốc gia tới 20 năm tù và 5 năm quản chế; xét thấy các đại diện của Phái đoàn châu Âu và các sứ quán quốc gia thành viên EU không được tới quan sát phiên xử, xét thấy nhiều vụ các nhà bảo vệ nhân quyền hay tù nhân lương tâm khác cũng phải chịu số phận tương tự;

    H. xét thấy vào ngày 12 tháng Tư năm 2018, một nhóm chuyên gia Liên hiệp Quốc, Đặc sứ về tình hình những người bảo vệ nhân quyền, Tổng đại diện của Nhóm Công tác về Bắt giữ Tùy tiện và Đặc sứ về thúc đẩy và bảo vệ quyền tự do chính kiến và ngôn luận, đã kêu gọi Việt Nam chấm dứt đàn áp các nhóm xã hội dân sự hay bịt miệng những người bất đồng chính kiến;

    I. Xét thấy Bộ luật Hình sự của Việt Nam chứa đựng nhiều điều khoản hà khắc, có thể bị lạm dụng để dập tắt tiếng nói, bắt giữ, giam giữ, kết án hoặc hạn chế hoạt động của các nhà hoạt động nhân quyền, bất đồng chính kiến, luật sư, công đoàn, các nhóm tôn giáo và các tổ chức phi chính phủ, đặc biệt là những ai thể hiện quan điểm phê phán chính quyền Việt Nam;

    J. Xét thấy chính quyền Việt Nam tiếp tục ngăn cấm các kênh truyền thông độc lập hoặc thuộc sở hữu tư nhân không được hoạt động, và kiểm soát chặt chẽ các đài phát thanh, truyền hình và nhà xuất bản, xét thấy vào tháng Tư năm 2016, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật báo chí với nội dung cản trở nặng nề tự do báo chí trong nước;

    K. Xét thấy vào ngày 12 tháng Sáu năm 2018, Quốc hội Việt Nam đã thông qua luật an ninh mạng nhằm thắt chặt việc kiểm soát trên mạng, yêu cầu các nhà cung cấp phải gỡ bỏ các bài đăng bị coi là “có nguy cơ” với an ninh quốc gia; xét thấy luật này hạn chế gắt gao quyền tự do ngôn luận trên mạng và hướng tới đe dọa nghiêm trọng quyền riêng tư;

    L. Xét thấy ngày mồng 1 tháng Giêng năm 2018, bộ luật đầu tiên về Tôn giáo và Tín ngưỡng của Việt Nam bắt đầu có hiệu lực, buộc tất cả các nhóm tôn giáo trong nước phải đăng ký với chính quyền và thông báo về các hoạt động của mình; xét thấy nhà cầm quyền Việt Nam có thể từ chối hoặc cản trở việc cấp đăng ký và ngăn cấm các hoạt động tôn giáo mà họ tùy tiện cho là đi ngược lại với “lợi ích quốc gia,” “trật tự công cộng,” hay “khối đoàn kết dân tộc”; xét thấy với bộ luật này chính quyền Việt Nam đã hợp thức hóa quyền can thiệp vào sinh hoạt tôn giáo và giám sát các nhóm tôn giáo;

    M. Xét thấy Việt Nam xếp hạng 175 trên tổng số 180 theo Chỉ số Tự do Báo chí năm 2018 của Tổ chức Phóng viên Không Biên Giới;

    N. Xét thấy án tử hình vẫn được áp dụng ở Việt Nam nhưng số vụ thi hành án không được biết, vì nhà cầm quyền Việt Nam quy định thống kê án tử hình là bí mật quốc gia; xét thấy Việt Nam đã giảm số lượng tội danh có mức án tới tử hình từ 22 xuống còn 18 vào tháng Giêng năm 2018;

    O. xét thấy Việt Nam chưa phê chuẩn các Công ước thiết yếu của ILO, cụ thể là Công ước 98 về Quyền Tổ chức và Thương lượng Tập thể, Công ước 105 về Bãi bỏ Lao động Cưỡng ép, và Công ước 87 về Tự do Lập hội và Bảo vệ Quyền được Tổ chức;

    P. Xét thấy Đối thoại Nhân quyền EU – Việt Nam là kênh quan trọng để tiếp tục thảo luận toàn diện về các vấn đề EU quan ngại, trong đó có yêu cầu tôn trọng đầy đủ các quyền cơ bản về tự do ngôn luận, lập hội và nhóm họp ôn hòa; xét thấy quan hệ giữa Liên minh châu Âu và Việt Nam phải căn cứ trước hết trên nền tảng tôn trọng nhân quyền, dân chủ và pháp quyền; và trên cơ sở bảo đảm các tiêu chuẩn quốc tế về lĩnh vực này;

    Q. Xét thấy có mối liên kết rõ ràng giữa Hiệp định Đối tác và Hợp tác (PCA) và Hiệp định Thương mại Tự do EU – Việt Nam (FTA), xét thấy cả hai phía đều đã cam kết thi hành các nghĩa vụ của mình về nhân quyền;

    1. Lên án tình trạng vi phạm nhân quyền đang tiếp diễn, bao gồm việc kết án, đe dọa về chính trị, theo dõi, sách nhiễu, hành hung và xét xử không công bằng ở Việt Nam nhằm vào các nhà hoạt động chính trị, nhà báo, blogger, những người bất đồng chính kiến và bảo vệ nhân quyền vì họ thực thi quyền tự do ngôn luận trên mạng hay ngoài đời, là sự vi phạm rõ rệt đối với các nghĩa vụ quốc tế về nhân quyền của Việt Nam;

    2. Kêu gọi chính quyền Việt Nam phóng thích tất cả các nhà bảo vệ nhân quyền và tù nhân lương tâm đang bị tạm giữ hoặc đã kết án chỉ vì thực thi quyền tự do biểu đạt của mình ngay lập tức và vô điều kiện, trong đó có Hoàng Đức Bình, Nguyễn Nam Phong, Nguyễn Trung Trực và Lê Đình Lượng, và hủy bỏ mọi cáo buộc đối với những người này;

    3. Nhắc lại lời kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam chấm dứt mọi hành vi cản trở và sách nhiễu nhằm vào các nhà bảo vệ nhân quyền và bảo đảm rằng trong mọi trường hợp, họ có thể tiến hành các hoạt động nhân quyền hợp pháp mà không lo sợ bị trả thù và không bị gây khó dễ, kể cả việc sách nhiễu bằng biện pháp tư pháp; kêu gọi Chính phủ Việt Nam dỡ bỏ mọi hạn chế đối với quyền tự do tôn giáo và chấm dứt sách nhiễu các cộng đồng tôn giáo;

    4. Yêu cầu chính quyền Việt Nam đảm bảo rằng việc đối xử với những người bị giam giữ phải phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế; nhấn mạnh rằng quyền tiếp xúc với luật sư, chuyên gia chăm sóc y tế và gia đình là biện pháp quan trọng để bảo vệ họ khỏi bị tra tấn và ngược đãi, và rất thiết yếu để đảm bảo quyền được xét xử công bằng;

    5. Lên án việc lạm dụng các điều luật hà khắc để cản trở các quyền con người và quyền tự do cơ bản; kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam hủy bỏ, xét lại hoặc sửa đổi tất cả các điều luật mang tính đàn áp, đặc biệt là Bộ luật Hình sự, luật An ninh mạng và Luật Tín ngưỡng Tôn giáo, và đảm bảo rằng mọi quy định pháp luật phải phù hợp với tiêu chuẩn và nghĩa vụ quốc tế về nhân quyền, trong đó có Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCRP) mà Việt Nam là một thành viên; kêu gọi chính quyền xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh hành vi biểu tình, tụ tập công cộng sao cho phù hợp với quyền tự do nhóm họp và lập hội;

    6. Kêu gọi Việt Nam ký kết và thông qua tất cả các hiệp ước liên quan của Liên hiệp Quốc về Nhân quyền, Quy chế Roma về Tòa án Hình sự Quốc tế, cũng như các Công ước số 87, 98 và 105 của ILO;

    7. Kêu gọi Việt Nam đưa ra lời mời không thời hạn đối với các Quy trình Đặc biệt của Liên hiệp Quốc, cụ thể là Đặc sứ về Quyền Tự do Chính kiến và Tự do Biểu hiện, và Đặc sứ về Những Người Bảo vệ Nhân quyền;

    8. Kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam công nhận các công đoàn độc lập;

    9. Kêu gọi EU giám sát và làm việc với nhà cầm quyền và các tổ chức hữu quan để cải thiện tình hình nhân quyền ở Việt Nam;

    10. Nhắc lại ý kiến phản đối án tử hình trong mọi trường hợp; kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam đưa ra ngay lập tức quyết định hoãn áp dụng án tử hình như một bước tiến tới việc bãi bỏ; kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam xem xét lại tất cả các bản án tử hình để đảm bảo rằng những phiên xử đó phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế;

    11. Kêu gọi Cơ quan Đối ngoại EEAS và Ủy ban châu Âu hỗ trợ các nhóm xã hội dân sự và cá nhân đang bảo vệ nhân quyền ở Việt Nam một cách tích cực, bao gồm việc kêu gọi phóng thích các nhà bảo vệ nhân quyền và tù nhân lương tâm trong tất cả các lần liên hệ với nhà cầm quyền Việt Nam; kêu gọi Phái đoàn EU ở Hà Nội cung cấp mọi sự hỗ trợ thích đáng đối với những nhà bảo vệ nhân quyền đang bị cầm tù và tù nhân lương tâm, bao gồm việc sắp xếp các chuyến thăm ở trại giam, giám sát phiên tòa xét xử và cung cấp hỗ trợ pháp lý;

    12. Kêu gọi các quốc gia thành viên EU tăng cường nỗ lực gây sức ép để đạt được những cải thiện cụ thể về nhân quyền ở Việt Nam, bao gồm đợt đánh giá định kỳ toàn cầu UPR sắp tới của Việt Nam tại Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp Quốc;

    13. Nhắc lại lời kêu gọi ban hành trên toàn thể EU lệnh cấm xuất khẩu, bán, nâng cấp và bảo trì tất cả các dạng thiết bị an ninh có thể hoặc đã được sử dụng để đàn áp nội bộ, trong đó có cả kỹ thuật giám sát trên mạng, đối với các quốc gia có hồ sơ nhân quyền đáng lo ngại;

    14. Hoan nghênh mối quan hệ đối tác đang được củng cố và Đối thoại Nhân quyền giữa EU và Việt Nam, và nhắc lại tầm quan trọng của Đối thoại trong vai trò thiết chế mấu chốt có thể sử dụng một cách hữu hiệu để đồng hành và cổ vũ Việt Nam thực hiện các cải cách cần thiết; khuyến khích mạnh mẽ Ủy ban châu Âu giám sát các bước tiến bộ căn cứ trên Đối thoại bằng cách thiết lập các mốc đánh giá và cơ chế giám sát;

    15. Kêu gọi chính quyền Việt Nam và EU, với tư cách là các đối tác quan trọng của nhau, cam kết cải thiện sự tôn trọng nhân quyền và các quyền tự do cơ bản ở Việt Nam, vì đó là một mấu chốt của quan hệ song phương giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu, đặc biệt là liên quan tới việc thông qua Hiệp định Thương mại Tự do EU – Việt Nam (EVFTA) và tới Hiệp định Đối tác và Hợp tác EU – Việt Nam (PCA);

    16. Đề nghị Chủ tịch châu Âu chuyển tiếp bản Nghị quyết này tới Hội đồng, Ủy ban châu Âu, Phó Chủ tịch Ủy ban/Cao Ủy về Đối ngoại và Chính sách An ninh Liên Âu, Tổng Thư ký Hiệp hội Các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Chính phủ và Quốc hội Việt Nam, Cao ủy Liên hiệp Quốc về Nhân quyền và Tổng Thư ký Liên hiệp Quốc.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    8. Kêu gọi nhà cầm quyền Việt Nam công nhận các công đoàn độc lập;
    8. Calls on the authorities of Vietnam to recognise independent labour unions;

    Mỗi giới lao động, ngành nghề, đều cần có đại diện cho mình

    http://www.europarl.europa.eu/sides/getDoc.do?pubRef=-//EP//TEXT+TA+P8-TA-2018-0459+0+DOC+XML+V0//EN

    European Parliament resolution of 15 November 2018 on Vietnam, notably the situation of political prisoners (2018/2925(RSP))

    The European Parliament,

    – having regard to its previous resolutions, notably those of 14 December 2017 on freedom of expression in Vietnam, notably the case of Nguyen Van Hoa(1) , and of 9 June 2016 on Vietnam(2) , in particular regarding freedom of expression,

    – having regard to the EU-Vietnam Partnership and Cooperation Agreement signed on 27 June 2012,

    – having regard to the 7th EU-Vietnam Human Rights Dialogue of 1 December 2017,

    – having regard to the statements by the Spokesperson of the EEAS of 9 February 2018 on the sentencing of human rights defenders in Vietnam and of 5 April 2018 on the sentencing of human rights activists in Vietnam,

    – having regard to the local EU statement of 20 August 2018 on the recent conviction of Mr Le Dinh Luong,

    – having regard to the EU Guidelines on Human Rights Defenders,

    – having regard to the statements of UN experts of 23 February 2018 urging the release of activists jailed for protesting a toxic spill, and of 12 April 2018 calling for change after the jailing of rights defenders,

    – having regard to the Universal Declaration of Human Rights of 1948,

    – having regard to the International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR), to which Vietnam acceded in 1982,

    – having regard to the decision of the European Ombudsman of 26 February 2016 in case 1409/2014/MHZ on the European Commission’s failure to carry out a prior human rights impact assessment of the EU-Vietnam Free Trade Agreement,

    – having regard to Rules 135(5) and 123(4) of its Rules of Procedure,

    A. whereas according to the Vietnamese Political Prisoner Database, compiled by The 88 Project, an estimated 160 activists are serving prison sentences in Vietnam and around 16 activists are being held in pre-trial detention;

    B. whereas Vietnamese authorities continue to imprison, detain, harass and intimidate human rights defenders, journalists, bloggers, human rights lawyers and civil society activists in the country; whereas human rights defenders have faced long prison sentences for their human rights work and for exercising their fundamental right to freedom of expression, either online or offline, in contravention of the country’s obligations under international law;

    C. whereas political and human rights activists face harsh conditions in detention, including denial of access to medical care, legal counsel and family contact;

    D. whereas freedom of religion or belief is repressed in Vietnam and the Catholic Church and non-recognised religions, such as the Unified Buddhist Church of Vietnam, several Protestant churches and others, including ethnic minority Montagnards, continue to suffer severe religious persecution;

    E. whereas Hoang Duc Binh was sentenced to 14 years in prison for blogging about protests regarding the Formosa disaster; whereas Nguyen Nam Phong was sentenced to two years in prison for allegedly refusing to obey orders from public officials while driving to a protest; whereas their efforts have been key in raising awareness and ensuring accountability in relation to the Formosa steel plant spill;

    F. whereas in April 2018 members of the Brotherhood for Democracy were sentenced to prison terms of between seven and 15 years as part of an extensive enforcement of the national security provisions of the Criminal Code; whereas in September 2018 Nguyen Trung Truc, another member of this group, was sentenced to a 12-year prison term on charges of trying to overthrow the state;

    G. whereas Mr Le Dinh Luong, a human rights defender who has peacefully advocated the promotion and protection of human rights, was sentenced on 16 August 2018 under the national security provisions of the Criminal Code to 20 years in prison and five years of house arrest; whereas representatives of the EU delegation and of EU Member States’ embassies were not allowed to observe the trial; whereas many other cases exist of human rights defenders and other prisoners of conscience suffering a similar fate;

    H. whereas on 12 April 2018 a group of UN experts, the Special Rapporteur on the situation of human rights defenders, the Chair-Rapporteur of the Working Group on Arbitrary Detention and the Special Rapporteur on the promotion and protection of the right to freedom of opinion and expression, urged Vietnam not to crack down on civil society or stifle dissent;

    I. whereas the Criminal Code of Vietnam contains repressive provisions which are abusively used to silence, arrest, detain, sentence or restrict the activity of human rights activists, dissidents, lawyers, trade unions, religious groups and non-governmental organisations, notably those that express critical views of the Government of Vietnam;

    J. whereas the Vietnamese Government continues to prohibit the operation of independent or privately-owned media outlets and exerts strict control over radio and TV stations and printed publications; whereas in April 2016, the National Assembly passed a media law strongly restricting press freedom in Vietnam;

    K. whereas on 12 June 2018 Vietnam’s National Assembly passed a cyber-security law aimed at tightening online controls, which requires providers to delete posts considered ‘threatening’ to national security; whereas this law places harsh restrictions on freedom of expression online and aims at greatly threatening the right to privacy;

    L. whereas on 1 January 2018 Vietnam’s first ever law on belief and religion came into effect, obliging all religious groups in the country to register with the authorities and to inform them about their activities; whereas the authorities can reject or hinder registration applications and ban religious activities which they arbitrarily deem to be contrary to the ‘national interest’, ‘public order’ or ‘national unity’; whereas with this law, the government has institutionalised its interference in religious affairs and state supervision of religious groups;

    M. whereas Vietnam ranks 175th out of 180 on the Reporters Without Borders Press Freedom Index 2018;

    N. whereas the death penalty continues to be applied in Vietnam but the number of executions is unknown, since the Vietnamese authorities classify death penalty statistics as a state secret; whereas Vietnam reduced the number of crimes punishable by death from 22 to 18 in January 2018;

    O. whereas Vietnam has not yet ratified fundamental ILO conventions, namely Convention 98 on the Right to Organise and Collective Bargaining, Convention 105 on the Abolition of Forced Labour, and Convention 87 on the Freedom of Association and Protection of the Right to Organise;

    P. whereas the EU-Vietnam Human Rights Dialogue is an important avenue for ongoing comprehensive discussion of issues of concern to the EU, including the full respect of the fundamental rights to freedom of expression, association and peaceful assembly; whereas the relationship between the European Union and Vietnam must fundamentally be based on respect for human rights, democracy and the rule of law, and on upholding international standards in that regard;

    Q. whereas a clear link exists between the Partnership and Cooperation Agreement (PCA) and the EU-Vietnam Free Trade Agreement (FTA), whereby both parties committed to fulfil their human rights obligations;

    1. Condemns the continuing violations of human rights in Vietnam, including the sentencing, political intimidation, surveillance, harassment, assaults and unfair trials of political activists, journalists, bloggers, dissidents and human rights defenders for exercising their freedom of expression either online or offline, in clear violation of Vietnam’s international human rights obligations;

    2. Calls on the Vietnamese authorities to immediately and unconditionally release all human rights defenders and prisoners of conscience detained or sentenced for merely exercising their right to freedom of expression, including Hoang Duc Binh, Nguyen Nam Phong, Nguyen Trung Truc and Le Dinh Luong, and to drop all charges against them;

    3. Reiterates its call on the Vietnamese authorities to end all restrictions and acts of harassment against human rights defenders and to guarantee in all circumstances that they are able to carry out their legitimate human rights activities without fear of reprisal and free from all restrictions including judicial harassment; calls on the Government of Vietnam to remove all restrictions on freedom of religion and to put an end to the harassment of religious communities;

    4. Insists that the Vietnamese Government must ensure that the treatment of all detainees is in line with international standards; stresses the fact that the right to access lawyers, medical professionals and family members is an important safeguard against torture and ill treatment, and is critical to the right to a fair trial;

    5. Condemns the abuse of repressive legal provisions restricting fundamental rights and freedoms; calls on the authorities of Vietnam to repeal, review or amend all repressive laws, notably its Criminal Code, its law on cybersecurity and the law on belief and religion, and to ensure that all legislation is in conformity with international human rights standards and obligations, including the ICCPR, to which Vietnam is a party; calls on the government to bring legislation regulating public gatherings and demonstrations into conformity with the rights of free assembly and association;

    6. Calls on Vietnam to sign and ratify all relevant human right treaties of the United Nations and the Rome Statute of the International Criminal Court, as well as ILO Conventions No. 87, No. 98 and No. 105;

    7. Urges Vietnam to issue a standing invitation to the Special Procedures of the UN Human Rights Council, in particular the Special Rapporteur on freedom of opinion and expression and the Special Rapporteur on human rights defenders;

    8. Calls on the authorities of Vietnam to recognise independent labour unions;

    9. Calls for the EU to monitor and work with the authorities and all relevant stakeholders to improve the human rights situation in Vietnam;

    10. Reiterates its opposition to the death penalty in all circumstances; calls on the Vietnamese authorities to introduce an immediate moratorium on the use of the death penalty as a step towards abolition; calls on the authorities of Vietnam to review all death sentences in order to ensure that these trials adhered to international standards;

    11. Calls on the EEAS and the Commission to support civil society groups and individuals defending human rights in Vietnam in an active manner, including by calling for the release of human rights defenders and prisoners of conscience in all contacts they hold with Vietnamese authorities; urges the EU delegation in Hanoi to provide all appropriate support to imprisoned human rights defenders and prisoners of conscience, including by arranging prison visits, monitoring trials and providing legal assistance;

    12. Calls on EU Member States to intensify their efforts to press for concrete human rights improvements in Vietnam, including during the upcoming Universal Periodic Review of Vietnam at the UN Human Rights Council;

    13. Reiterates its call for an EU-wide ban on the export, sale, update and maintenance of any form of security equipment which can be or is used for internal repression, including internet surveillance technology, to states with a worrying human rights record;

    14. Welcomes the strengthened partnership and Human Rights Dialogue between the EU and Vietnam and recalls the importance of the Dialogue as a key instrument to be used in an efficient manner to accompany and encourage Vietnam in the implementation of necessary reforms; strongly encourages the Commission to monitor progress under the Dialogue through the introduction of benchmarks and monitoring mechanisms;

    15. Calls for the Vietnamese Government and the EU, as important partners, to commit to improving respect for human rights and fundamental freedoms in the country, as it is a cornerstone of the bilateral relations between Vietnam and the Union, notably in view of the ratification of the EU-Vietnam Free Trade Agreement (EVFTA) and in view of the EU-Vietnam Partnership and Cooperation Agreement (PCA);

    16. Instructs its President to forward this resolution to the Council, the Commission, the Vice-President of the Commission / High Representative of the Union for Foreign Affairs and Security Policy, the Secretary-General of the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN), the Government and National Assembly of Vietnam, the United Nations High Commissioner for Human Rights and the Secretary-General of the United Nations.