Ngân sách

  • Bởi Admin
    03/11/2018
    1 phản hồi

    Nguyễn Thông

    Những ngày qua, quốc hội trao đổi về ngân sách hơi bị nhiều. Nói vòng vo chán, rồi các ý kiến cũng chốt lại ở ý phải làm sao tiết kiệm ngân sách, không được phung phí.

    Bộ Tài chính cũng vừa công bố dự thảo ngân sách năm 2019, thu bao nhiêu, chi bao nhiêu, cũng có ý rằng phải tiết kiệm.

    Nói chung, cả quốc hội, cả Bộ Tài chính, cả mồm những ông to bà nhớn đều đúng. Ngân sách là phải tiết kiệm.

    Vì sao đúng, bởi vì ngân sách tức là tiền (ngân), là mồ hôi, nước mắt, máu của nhân dân mà thành. Lãng phí là có tội.

    Chỉ có điều, cần phải biến lời nói thành việc làm, thành hành vi cụ thể. Đừng có mồm nói tiết kiệm nhưng tay phung phí, coi máu mồ hôi nước mắt nhân dân như rác như bùn.

    Xin nêu một vài cách chống lãng phí (sự lãng phí đang tràn lan, công khai, khắp nước, mọi cấp).

    Tôi thử hỏi các ông bà, vậy Mặt trận tổ quốc nó làm nhiệm vụ gì cho đất nước này. Rất chung chung, mơ hồ. Cứ lâu lâu xuân thu nhị kỳ chỉ có mỗi việc hiệp thương chọn người cho đảng để cơ cấu vào bộ máy cán bộ. Thế thôi, tôi chả thấy nó gánh việc gì khác. Nên giải tán cái đoàn thể chính trị-xã hội này. Nó là một phần của bộ máy cai trị tam trùng (đảng, nhà nước, mặt trận), ngốn ngân sách kinh khủng. Nó có bộ máy riêng từ trung ương tới tận cơ sở cấp xã. Tiền để nuôi nó cũng đủ bỏ mẹ dân. Nên dẹp. Ngoài Trung Quốc và Lào, chỉ còn xứ ra dung dưỡng thứ của nợ này. Những nước văn minh, giàu có chả nước nào có mặt trận mặt triếc.

    Tiếp nữa là Hội phụ nữ. Thế tôi lại hỏi các ông các bà, đàn ông có hội riêng không mà cứ phải lập riêng hội phụ nữ. Ra cái vẻ tôn trọng phụ nữ, đề cao phụ nữ. Cứ để bình thường thì mới thực là tôn trọng, chứ đã ưu tiên, đặc cách, chẳng qua chỉ là sự bố thí, xót xa, thương hại, mủi lòng. Mà nó cũng chả làm được trò quái gì ngoài việc lâu lâu múa may nhận tiền 8.3 hoặc 20.10. Hãy coi xem, bộ giáo dục ra cái dự thảo về sinh viên bán dâm, nó dám mở mồm lên tiếng được nửa nhời, thì tôi chớ kể. Cho tới lúc này, nó vẫn câm nín chả bảo vệ gì được chị em đàn bà của nó. Để chỉ tốn cơm dân nuôi. Dẹp.

    Nói chung, mọi dạng đoàn thể, kệ cả đảng, cứ việc hoạt động thoải mái, chỉ có điều tự lo chi phí hoạt động, đừng xà xẻo tiền thuế của dân, bắt dân phải nuôi. Còn không chịu được thì nên dẹp.

    Bớt ngay, bớt triệt để tình trạng khẩu hiệu cờ quạt hoa hoét tràn lan. Đừng dẫm vào vết "Lọng cắm rợp trời quan sứ đến/Váy lê quét đất mụ đầm ra" như hồi xưa nữa, chướng mắt lắm. Mấy ông to bà lớn xứ này tiếp khách, chỉ riêng chỗ ngồi tiếp, tiền hoa trang trí chắc cũng phải vài triệu mỗi lần. Băng rôn, cờ xí khẩu hiệu chăng đầy đường. Tôi hỏi các ông, có khi nào các ông vừa chạy xe vừa đọc nội dung những câu khẩu hiệu chăng ngang đường không. Loạng quạng, ngã bỏ mẹ chứ đùa.

    Tôi nhận thấy ở nước ngoài, khi tiếp khách, dù là quốc khách, rất giản dị. Hôm trước coi tivi cảnh phó thủ tướng Nga tiếp ông phó thủ Trương Hòa Bình xứ ta, chỉ có cái bàn dài với mấy cái ghế hai bên, ngồi trao đổi đại sự, cấm có hoa hoét cờ xí gì. Chả nhẽ cứ phải cờ đèn kèn trống hoa hoét cho nhiều thì mới là lịch sự, trang trọng hiếu khách? Vớ vẩn.

    Rồi công sở nữa. Tiền nghìn tỉ vạn tỉ của dân đổ vào cái túi không đáy công sở biết bao nhiêu cũng chẳng vừa. Vụ công sở tốn kém lãng phí, tôi đã viết riêng rồi, nay không đề cập cụ thể nữa.

    Dân và doanh nghiệp làm ra tiền, nhà nước bán tài nguyên ra tiền, đem giao tiền ấy vào tay mấy ông miệng nói tiết kiệm, tay vung phung phí, khác nào gửi trứng cho ác.

    Từ khóa: Nguyễn Thông

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    https://www.voatiengviet.com/a/dau-khi-tai-nguyen-repsol-can-kiet/4637308.html

    Cạn kiệt dầu sẽ rút ngắn tuổi thọ chế độ trước năm 2025? (TS Phạm Chí Dũng)

    Vào mùa xuân năm 2018 đã xảy đến thêm một nguy cơ mà rất có thể sẽ trở thành nỗi nguy biến cho chính thể độc đảng ở Việt Nam: “deadline” thực sự cho trữ lượng dầu khai thác ở Việt Nam chỉ còn khoảng 3 năm nữa, tức đến năm 2021 - trùng với kỳ đại hội đảng lần thứ 13, nếu còn có đại hội này.

    2025 hết dầu đang khai thác!

    Và khi mùa xuân ủ rũ của năm 2019 sắp nhoài đến, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã phải lần đầu tiên thừa nhận một sự thật mà bấy lâu nay tập đoàn này và đảng chỉ muốn che giấu càng nhiều càng tốt: sản lượng dầu tại rất nhiều giếng đang suy giảm tự nhiên do khai thác đã quá lâu. Cộng vào đó là trữ lượng gia tăng quá thấp khiến từ nay đến năm 2025, sản lượng khai thác dầu sẽ giảm đều đặn mỗi năm 10% - tương đương với hơn 2 triệu tấn.

    Mức gia giảm đã được lên kế hoạch gia tốc lùi một cách chắc chắn trên có ý nghĩa gì?

    ‘Suy giảm tự nhiên’ chỉ là một cách nói, hoặc chính xác hơn là một lối phủ nhận trách nhiệm đối với nạn khai thác phá vỡ kế hoạch trong nhiều năm trước.

    Vào năm 2017, sản lượng khai thác quy dầu của PVN lên tới 25 triệu tấn. Nhưng với đà ‘suy giảm tự nhiên’ và với mức giảm bắt buộc hơn 2 triệu tấn/năm, đến năm 2025 sản lượng khai thác quy dầu sẽ cao lắm là 10 triệu tấn/năm. Còn nếu trong giai đoạn 2019 - 2015 mà PVN phải chịu sức ép quá mạnh từ Chính phủ và Bộ Chính trị đảng để phải giữ nguyên hoặc thậm chí gia tăng sản lượng khai thác dầu khí nhằm bù đắp cho một nền ngân sách mau chóng cạn kiệt, đặc biệt là gần như cạn hoàn toàn các nguồn ngoại tệ dùng để trả nợ nước ngoài và chi xài cho công tác ăn tiêu trong đảng, đến năm 2025 PVN sẽ có thể chẳng còn dầu để khai thác nữa.

    Những thông tin trên là chuỗi tiếp nối logic với một thông tin từ ông Từ Thành Nghĩa - Tổng giám đốc Vietsovpetro - vào đầu tháng 2/2018 về “Móng mỏ Bạch Hổ còn quanh quẩn 10 triệu tấn, tối đa chỉ khai thác được 4-5 năm nữa thôi”, tại Hội nghị tổng kết năm 2017 của PVN.

    Điều đó có nghĩa là ngay cả mỏ Bạch Hổ - cung cấp sản lượng lớn nhất, chiếm hơn 60% sản lượng của PVN từ xưa đến nay - đã vào giai đoạn suy kiệt.

    Đó là chưa kể đến tình trạng sản lượng của một số mỏ dầu khí giảm dần và không còn mang lại hiệu quả kinh tế cho nhà đầu tư. Trong thời gian qua một số lô hợp đồng đã phải trả lại cho PVN do không còn hiệu quả kinh tế, như Lô 46/13 – mỏ Sông Đốc và Lô 01&02/97 mỏ Thăng Long, Đông Đô.

    Vào năm 2012 hoặc 2022 khi mỏ Bạch Hổ trở thành ‘mỏ chết’, PVN sẽ phải dựa hoàn toàn vào 40% sản lượng còn lại, với điều kiện trữ lượng của những mỏ dầu còn lại vẫn còn mà không suy kiệt hẳn như Bạch Hổ.

    Trữ lượng mới chỉ chiếm 1/6 sản lượng đang khai thác!

    Những năm tới sẽ là một thách thức khủng khiếp: làm sao đảng và PVN tìm ra được nguồn trữ lượng dầu khí mới ở Biển Đông để thay thế cho những mỏ sắp biến thành dĩ vãng và để ngân sách của đảng lẫn đảng khỏi chết theo?

    Ngay trước mắt là một mất cân đối quá lớn đối với ‘khoa học khai thác dầu khí’: năm 2017, sản lượng khai thác quy dầu của PVN lên tới 25 triệu tấn, nhưng phần tìm kiếm thăm dò gia tăng trữ lượng chỉ là 4 triệu tấn, tức trữ lượng mới chỉ chiếm 1/6 sản lượng đang khai thác. Nếu tình trạng mất cân đối giữa tìm kiếm thăm dò gia tăng trữ lượng và khai thác vẫn tiếp diễn như hiện nay thì chỉ vài năm nữa, sản lượng khai thác dầu khí của PVN sẽ chỉ còn 1/3 sản lượng so với hiện thời.

    Vào đầu năm 2017, một báo cáo của PVN đã thừa nhận rằng gia tăng trữ lượng dầu khí năm 2017 đạt thấp hơn nhiều so với mục tiêu chiến lược đề ra: mục tiêu đề ra trong nước là 20-30 triệu tấn/năm và ở nước ngoài là 8-12 triệu tấn/năm (tổng cộng là 28-42 triệu tấn/năm) nhưng trong hai năm 2016 và 2017 PVN đều không hoàn thành khi đạt thấp hơn nhiều (năm 2016 đạt 16,66 triệu tấn quy dầu và năm 2017 đạt 4,0 triệu tấn quy dầu). Hầu hết các mỏ đều đã khai thác trong thời gian dài và đang trong giai đoạn cuối dẫn tới suy giảm sản lượng tự nhiên hàng năm từ 15% tới trên 30%.

    2017 cũng là năm gia tăng trữ lượng dầu khí thấp nhất từ trước đến nay, chỉ đạt 4 triệu tấn dầu, thấp nhất lịch sử. Một quan chức của PVN là Tổng giám đốc Nguyễn Vũ Trường Sơn phải thừa nhận: “trước đây hàng năm, PVN khoan 30-40 giếng thăm dò, chi phí tốn từ 2-2,5 tỷ USD, gia tăng được 35-40 triệu tấn quy dầu. Thế nhưng, từ 2015 trở lại đây, đầu tư của ta và nước ngoài chỉ đâu đó 400-500 triệu USD cho tìm kiếm thăm dò, giảm 5 lần so với trước”.

    Thông tin trên rất dễ khiến giới chóp bu Việt Nam mất ngủ, cho dù họ đã thừa biết thực trạng “thiếu ăn” đó, khi hầu hết các mỏ dầu ở Việt Nam đều đã khai thác quá độ hoặc vô độ trong thời gian dài và hiện đang trong giai đoạn cuối dẫn tới ‘suy giảm sản lượng tự nhiên’.

    Phá sản ‘tầm nhìn đến năm 2030’

    Hiện thực cùng tương lai cạn dầu hết tiền trên cũng khiến phá sản luôn “tầm nhìn đến năm 2030” của ngành dầu khí Việt Nam, đặc biệt dưới thời ‘đồng chí ba X’ - Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

    Vào năm 2010 - 2011, PVN và chính phủ của ông Dũng đã hết sức lạc quan khi ước tính trữ lượng dầu của Việt Nam đủ để khai thác đến năm 2030, tức hàm ý chế độ hỗn tạp giữa danh nghĩa cộng sản và thực chất chủ nghĩa tư bản đỏ ở Việt Nam hoàn toàn có thể kéo dài sự tồn tại của nó đến ít nhất năm 2030.

    Nhưng chỉ vài năm sau đó khi tốc độ khai thác được đẩy mạnh gấp đôi, “deadline” cho trữ lượng dầu đã được chính Thủ tướng Dũng và các bộ ngành liên quan gia giảm đến năm 2025. Tuổi thọ của chế độ cũng bởi thế đã được rút ngắn 5 năm.

    Tính bất xứng đã thể hiện một cách thật ngọt ngào: nếu vào thời Nguyễn Tấn Dũng, Tập đoàn PVN đã lao vào khai thác dầu khí vô tội vạ và có lúc đóng góp tới gần 10% thu ngân sách, thì đến nay hàng năm số thu ngân sách từ PVN chỉ chưa đầy 100 ngàn tỷ đồng/năm và chỉ chiếm khoảng 6% tổng thu ngân sách.

    Còn bây giờ thì trừ đảng, chẳng còn ai nói đến ‘năm 2030’ nữa. Thậm chí ‘năm 2025’ cũng chỉ là một ước đoán có phần lạc quan tếu.

    Trong hai năm trở lại đây, “deadline” mới đã được thiết lập: trữ lượng dầu chỉ còn đủ để khai thác trong 4 -5 năm.

    Nhưng “deadline” trên cũng chỉ mang ý nghĩa hết sức tương đối. 3 năm khai thác tối đa là khoảng thời gian có thể dễ hình dung hơn. Tức PVN chỉ còn có thể khai thác tương đối thoải mái trong ba năm 2019, 2020 và ‘chào mừng đại hội đảng 13’ vào năm 2021, nếu quả thực còn có đại hội này.

    Nhưng sau đó, không có gì bảo đảm cho ‘nguồn thu dầu khí bền vững’ đối với ngân sách đảng.

    ‘Thọ’ đến năm nào?

    Với tình trạng trữ lượng dầu cạn kiệt nhanh trong khi quá khó để tìm ra nguồn trữ lượng mới, có thể hình dung là vào năm 2021, ngân sách chế độ sẽ mất hẳn số thu 70.000 - 80.000 tỷ đồng từ PVN mà do đó sẽ ‘kiến tạo’ một lỗ thủng toang hoác không lấy gì bù trám được.

    Tương lai đen tối trên đang hiển hiện trong bối cảnh hiện thời các nguồn ngoại tệ mạnh từ viện trợ không hoàn lại, viện trợ ODA và cả nguồn kiều hối của ‘khúc ruột ngàn dặm’ đều khá bi đát. Từ năm 2014, chính thể Việt Nam đã không còn nhận được nguồn vốn ODA đáng kể nào, còn từ năm 2018 đã không còn ODA ưu đãi. Trong khi đó, lượng kiều hối gửi về Việt Nam vào năm 2017 và 2018 có thể sụt giảm đến phân nửa so với mức đỉnh 13,5 tỷ USD vào năm 2015…

    Cùng với ba tử huyệt nợ công quốc gia, nợ xấu ngân hàng và thâm thủng ngân sách đang lộ ra ngày càng rõ, triển vọng trữ lượng dầu khí cạn kiệt chỉ trong ít năm nữa hoàn toàn xứng đáng bồi thêm một điểm chết nữa mà có thể rút ngắn đáng kể tuổi thọ của chế độ cầm quyền tại Việt Nam trước thời điểm năm 2025.