Giải thích một số thuật ngữ cơ bản về Chính Trị

  • Bởi Admin
    26/10/2018
    10 phản hồi

    Hà Huy Toàn

    01/ CHÍNH TRỊ

    Chính trị, theo nghĩa rộng nhất, là lĩnh vực trung tâm trong đời sống xã hội, bao gồm các hoạt động nhằm xác định mối quan hệ giữa quyền với nghĩa vụ từ phạm vi nhỏ nhất giữa cá nhân này với cá nhân khác đến phạm vi lớn nhất giữa cộng đồng này với cộng đồng khác. Theo nghĩa hẹp nhất, chính trị là tổ chức xã hội theo một trật tự nhất định được quyết định bởi chính hoạt động nhận thứcmọi cá nhân hợp thành xã hội, trong đó nhận thức chung đóng vai trò quyết định, theo đó nhận thức chung hiện hữu thế nào sẽ quy định chính trị như thế, làm cho chính trị thế nào chỉ biểu hiện nhận thức chung hiện hữu như thế. Nhận thức chung luôn luôn chỉ biểu hiện quan điểm chung cho đa số cá nhân trong một cộng đồng nhất định biểu hiện thành ý thức hệ hoặc hệ tư tưởng. Chính trị được thực hiện thế nào sẽ phụ thuộc vào hệ tư tưởng hoặc nhận thức chung cho mọi cá nhân, trong đó bao gồm tất cả các quan niệm chung 1).

    Quyền là khả năng thực hiện ý chí ở mỗi cá nhân nhất định được công nhận bởi quan niệm chung cho cả xã hội 2).

    Nghĩa vụ là trách nhiệm được quy định cho một cá nhân nhất định hoặc một cộng đồng nhất định phải thực hiện đối với một cá nhân khác hoặc một cộng đồng khác 3).

    Chính trị bắt nguồn từ bản tính vị kỷ vốn tồn tại thường hằng ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc biểu hiện cụ thể thành một số phẩm chất cơ bản: ích kỷ, tư lợitham lam, làm cho mỗi cá nhân nhất định không muốn thực hiện nghĩa vụchỉ muốn hưởng quyền dẫn đến tranh giành quyền lực từ phạm vi nhỏ nhất giữa cá nhân này với cá nhân khác đến phạm vi lớn nhất giữa cộng đồng này với cộng đồng khác.

    Nếu người nào không thích chính trị hoặc không quan tâm chính trị thì chỉ chứng tỏ người đó vẫn còn ấu trĩ hoặc chưa trưởng thành.

    Nếu người nào thích chính trị hoặc quan tâm chính trị nhưng không hiểu hoặc chỉ hiểu sai về chính trị, không hiểu được căn nguyên cho chính trị, không phân biệt được độc tài với dân chủ, mà lại theo đuổi tham vọng chính trị, thì chỉ chứng tỏ người đó sẽ trở thành nhà độc tài để làm hại kẻ khác, cũng như ham học hoặc học nhiều mà chỉ học sai sẽ còn nguy hiểm hơn cả vô học.

    02/ BẢN TÍNH VỊ KỶ

    Bản tính vị kỷ là khuynh hướng tâm lý lấy MÌNH làm MỤC ĐÍCH cho MÌNH đồng thời lấy MỌI THỨ KHÁC làm PHƯƠNG TIỆN để thoả mãn MÌNH.

    Bản tính vị kỷ được xác định bằng bản chất cho nhân loại 4). Các sinh vật khác có thể cũng có bản tính vị kỷ nhưng chúng không thể ý thức chân thực về bản tính đó mà chỉ có thể phó mặc mình cho bản tính đó thúc đẩy mình sống theo bản năng mù quáng. Ngược lại, nhân loại phải vượt lên trên mọi sinh vật khác bằng ý thức chân thực về bản tính vị kỷ để có thể sống theo ĐẠO ĐỨC. Nếu không ý thức chân thực về bản tính vị kỷ thì nhân loại cũng chỉ như mọi sinh vật khác mà thôi.

    Ý thức chân thực cho thấy rõ ràng: bản tính vị kỷ vừa tốt vừa xấu, nó chỉ xấu khi thúc đẩy người ta làm điều xấu hoặc nó chỉ tốt khi thúc đẩy người ta làm điều tốt. Điều tốt làm lợi cho nhân loại đối lập với điều xấu chỉ gây hại cho nhân loại.

    Vì bản tính vị kỷ tồn tại thường hằngmọi cá nhân sống vào mọi lúc nên mỗi cá nhân nhất định phải biết hành xử theo ĐẠO ĐỨC đồng thời phải biết sống theo PHÁP LUẬT. Nếu làm khác thì sẽ TỰ SÁT, nếu dối trá thì sẽ TỰ SÁT, nếu dùng bạo lực với đồng loại thì sẽ TỰ SÁT, nếu cướp bóc đối với đồng loại thì sẽ TỰ SÁT. Kẻ nào làm hại người khác, kẻ đó sẽ tự làm hại chính mình. Chẳng ai làm hại kẻ đó mà chính kẻ đó sẽ tự làm hại chính mình.

    Chính bản tính vị kỷ vừa làm ĐỘNG LỰC TUYỆT ĐỐI cho LỊCH SỬ vừa làm NGUỒN GỐC THỰC SỰ cho PHÁP LUẬT.

    Bản tính vị kỷ bắt nguồn từ ĐÂU? Có lẽ bản tính vị kỷ bắt nguồn từ THƯỢNG ĐẾ. Từ nhỏ, tôi đã được nghe nói rằng mọi thứ đều được tạo dựng bởi THƯỢNG ĐẾ khiến tôi xác tín chắc chắn rằng cả BẢN TÍNH VỊ KỶ lẫn Ý NIỆM CHÂN THỰC về bản tính đó đều bắt nguồn từ THƯỢNG ĐẾ. Lớn lên, tôi được gợi ý rằng: phải có Ý NIỆM CHÂN THỰC về BẢN TÍNH VỊ KỶ mới có thể trở thành NGƯỜI TỬ TẾ để biết hành xử theo ĐẠO ĐỨC đồng thời biết tạo dựng PHÁP LUẬT, qua đó sẽ tạo dựng được nền CỘNG HOÀ!

    03/ CỘNG HOÀ

    Cộng hoà là cộng lại để phân chia đồng đều cả quyền lẫn nghĩa vụ cho mọi cá nhân làm cho mỗi cá nhân nhất định không thể làm chủ đối với các cá nhân khác đồng thời cũng không thể bị làm chủ bởi các cá nhân khác mà chỉ có thể tự làm chủ đối với chính mình, tức là dân chủ 5).

    Trong ngôn ngữ Latin, Republica thường được phiên dịch sang Việt ngữ thành Cộng hòa nhưng thật ra nó mang nghĩa tương đương với Democracy trong Anh văn vốn bắt nguồn từ Hy văn, Democracy trong Anh văn thường được phiên dịch sang Việt ngữ thành Dân chủ, làm cho Republica luôn luôn được dùng thay thế cho Democracy cũng như Democracy luôn luôn được dùng thay thế cho Republica. Nền Cộng hòa cũng có nghĩa là nền Dân chủ; tương tự như vậy, nền Dân chủ cũng có nghĩa là nền Cộng hòa. Do Cộng hòa đồng nghĩa như vậy với Dân chủ nên nếu dùng “Cộng hòa” thì không dùng “Dân chủ” hoặc nếu dùng “Dân chủ” thì không dùng “Cộng hòa”.

    Một số nhà nước độc tài theo chủ nghĩa cộng sản đã đặt tên cho mình bằng những danh xưng kỳ quặc để vừa mê hoặc dân chúng vừa tự mê hoặc chính mình. Ví dụ: Cộng hoà Dân chủ Đức đã quá cố vào cuối năm 1991; Việt nam Dân chủ Cộng hoà đã bị thay thế bằng Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam vào năm 1976; Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều tiên đang phát cuồng mà gây ra nỗi kinh hoàng cho cả thế giới, v. v.. Các danh xưng đó luôn luôn bị thừa một trong hai chữ này: “Dân chủ” hoặc “Cộng hoà”. Vì hai chữ đó đồng nghĩa với nhau nên nếu dùng “Cộng hoà” thì không cần dùng thêm “Dân chủ” hoặc nếu dùng “Dân chủ” thì không cần dùng thêm “Cộng hoà” nhưng họ đã dùng cả hai chữ đó cho “chắc chắn”!!! Dùng danh xưng như vậy đã thể hiện cái gì: não trạng dốt nát hay hội chứng tâm thần??? Trong số các nhà nước độc tài theo chủ nghĩa cộng sản, có một số nhà nước độc tài đã tỏ ra tinh quái hơn. Ví dụ: Nhà nước Cộng sản tại nước Tàu đã đặt tên cho mình bằng “Cộng hoà Nhân dân Trung hoa” để phân biệt “Cộng hoà Nhân dân” ở nước Tàu với “Cộng hoà Tư sản” ở Tây phương. Khi mới tái xuất hiện tại Tây phương từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, nền Cộng hoà chỉ thuộc về các nhà giàu hợp thành giai cấp tư sản, tức là nền Cộng hoà không thể tránh khỏi phải mang tính chất tư sản để chỉ trở thành nền Cộng hoà Tư sản với những khiếm khuyết rõ ràng. Tuy nhiên, từ khoảng giữa thế kỷ XX đến nay, nền Cộng hoà Tư sản đã tiến hoá ngoạn mục thành nền Cộng hoà Nhân dân với đủ cả ba thiết chế cơ bản: 1/ Tam quyền phân lập; 2/ Đa nguyên bình đẳng; 3/ Bầu cử tự do; cả ba thiết chế đó đều bảo đảm cho toàn bộ quyền lực nhà nước phải thuộc về toàn thể nhân dân, tức là nền Cộng hoà Tư sản đã tiến hoá ngoạn mục thành nền Cộng hoà theo đúng ý nghĩa đích thực cho khái niệm đó để người ta không cần dùng “Nhân dân” làm cái đuôi cho nó. Ngược lại, nền “Cộng hoà Nhân dân” tại nước Tàu chỉ tập trung toàn bộ quyền lực nhà nước vào một số ít đảng viên cốt cán trong Đảng Cộng sản Tàu để Nhà nước Cộng sản tại nước Tàu trở thành một đế chế nguy hiểm nhất trên thế giới từ xưa đến nay. Vậy Nhà nước Cộng sản tại nước Tàu đặt tên cho mình bằng “Cộng hoà Nhân dân Trung hoa” để không chỉ loè bịp được dân chúng tại nước Tàu mà còn loè bịp được cả thế giới. Đế quốc Tàu luôn luôn mưu toan thôn tính Việt nam để bành trướng xuống Đông Nam Á châu. Việc đánh chiếm Quần đảo Hoàng sa vốn dĩ thuộc về Việt nam đã bộc lộ rõ ràng tham vọng đế quốc từ Cộng sản Tàu. Không chịu thua kém Nhà nước Cộng sản tại nước Tàu, Nhà nước Cộng sản tại Việt nam đã thay thế “Việt nam Dân chủ Cộng hoà” bằng “Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt nam”, tức là đã thay thế “Dân chủ” bằng “Xã hội Chủ nghĩa” trong danh xưng cho mình vào năm 1976, để vừa khắc phục được sự rối rắm về chữ nghĩa vừa huỷ bỏ được cái Công hàm Ngoại giao ngày 14 Tháng Chín 1958 được ký kết bởi Phạm Văn Đồng đã bị lợi dụng làm “bằng chứng lịch sử” cho Cộng sản Tàu chiếm đóng Quần đảo Hoàng sa vào năm 1974. Nhà nước Cộng sản tại Việt nam phải huỷ bỏ cái công hàm kia bằng việc thay đổi danh xưng cho mình để sau đó sẽ đòi lại chủ quyền hiển nhiên đã thuộc về cả Dân tộc Việt nam đối với Quần đảo Hoàng sa. Về việc này, tôi xin long trọng ngợi khen Đảng Cộng sản Việt nam cho dù cái “Xã hội Chủ nghĩa” rất sống sượng về ý thức hệ!

    04/ DÂN CHỦ

    Dân chủ là công dân làm chủ đối với chính mình bằng Ý CHÍ biểu hiện thành PHÁP LUẬT 6).

    Thuật ngữ về dân chủ (Anh văn: democracy) bắt nguồn từ Hy văn: demokratein, được ghép lại bởi hai từ: demos (có nghĩa là công dân) với kratein (có nghĩa là làm chủ, cai trị, quản lý, kiểm soát, v. v.). Vậy dân chủ tức là công dân làm chủ, cai trị, quản lý, kiểm soát, v. v..

    Theo ý nghĩa chính xác nhất, dân chủ tức là công dân làm chủ bản thân bằng ý chí biểu hiện thành pháp luật như đã được định nghĩa ở trên. Cũng theo ý nghĩa đó, công dân chỉ tồn tại với thể chế dân chủ mà thôi. Với các thể chế khác, dân chúng bị cai trị không thể được gọi tên bằng “Công dân” mà chỉ có thể được gọi tên bằng “Thần dân” hoặc “Nô dân”, nếu họ được gọi tên bằng “Công dân” thì chỉ chứng tỏ họ đang bị lừa dối, có thể bị lừa dối bởi nhà nước chuyên chế nhưng cũng có thể bị lừa dối bởi chính mình 7).

    05/ CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ

    Chế độ Dân chủ là thể chế chính trị bảo đảm cho mọi cá nhân đều có thể làm chủ đối với chính mình bằng PHÁP LUẬT 8). Pháp luật bắt buộc mọi người phải biết hành xử theo ĐẠO ĐỨC. Vậy ĐẠO ĐỨC làm ĐỘNG CƠ cho CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ.

    06/ PHÁP LUẬT

    Pháp luật là các quy tắc xử sự theo nguyên tắc bình đẳng được quy định chung bởi toàn thể nhân dân đồng thời được bảo đảm thi hành bởi nhà nước pháp quyền.

    Cần chú ý rằng: pháp luật phải dựa trên NGUYÊN TẮC BÌNH ĐẲNG, nếu không dựa trên nguyên tắc đó thì không có PHÁP LUẬT. Một điều luật bất công không phải là luật (an unjust law is no law at all). Luật bất công là luật chỉ được làm ra bởi con người mà không xuất phát từ luật vĩnh cửu và luật tự nhiên. Luật nào nâng cao phẩm giá con người, luật đó công bằng. Luật nào làm mất phẩm giá con người, luật đó bất công (An unjust law is a human law that is not rooted in eternal law and natural law. Any law that uplifts human personality is just. Any law that degrades human personality is unjust). Chính St. Aurelius Augustin đã xác quyết chính xác như vậy.

    Theo định nghĩa, pháp luật không thể tồn tại được với chế độ độc tài mà chỉ có thể tồn tại được với thể chế dân chủ 9).

    Pháp luật bao gồm Hiến pháp làm đạo luật cơ bản cùng với các đạo luật khác phải dựa vào Hiến pháp hoặc phải phù hợp với Hiến pháp.

    07/ HIẾN PHÁP

    Hiến pháp theo đúng ý nghĩa đích thực cho khái niệm đó là đạo luật cơ bản làm cơ sở pháp lý cho cả xã hội công dân lẫn nhà nước pháp quyền, bao gồm các điều luật khái quát nhất chỉ quy định chung nhất các quy tắc chính trị bảo đảm cho mọi cá nhân đều có cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, đồng thời bảo đảm cho nhà nước pháp quyền phải được phân chia thành ba cơ quan khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, vừa độc lập với nhau về cơ thể hoặc nhân sự vừa thống nhất với nhau về ý chí hoặc mục đích để mọi cá nhân đều thực hiện được cả quyền lẫn nghĩa vụ dựa trên Tự do – Bình đẳng – Bác ái.

    Vì làm đạo luật cơ bản nên Hiến pháp phải thể hiện được ý chí chung cho mọi cá nhân hoặc toàn thể nhân dân. Muốn vậy, Hiến pháp phải được làm chung bởi mọi cá nhân hoặc toàn thể nhân dân 10).

    08/ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

    Nhà nước Pháp quyền là hệ thống chính trị điều hành xã hội bằng PHÁP LUẬT dựa trên BA thiết chế cơ bản: 1/ Tam quyền phân lập; 2/ Đa nguyên bình đẳng; 3/ Bầu cử tự do, để bản tính vị kỷ không thúc đẩy mọi người gây hại cho nhau mà chỉ thúc đẩy mọi người làm lợi cho nhau bằng Tự doBình đẳngBác ái, tức là hành xử theo ĐẠO ĐỨC. Phải có đủ cả ba thiết chế đó mới bảo đảm cho nhà nước pháp quyền tồn tại để có thể điều hành xã hội bằng pháp luật. Pháp luật sẽ kiểm soát được bản tính vị kỷ ở mọi cá nhân làm cho mọi cá nhân đều phải hành xử theo ĐẠO ĐỨC như đã nói ở trên. Thiếu một trong ba thiết chế đó sẽ không thể có nhà nước pháp quyền, cũng tức là không thể có dân chủ thật sự, không có Tự do – không có Bình đẳng – không có Bác ái 11).

    Ví dụ: Thái lan có ĐA ĐẢNG nhưng không có tam quyền phân lập, chính vì chỉ có ĐA ĐẢNG mà không có tam quyền phân lập nên Thái lan thường xuyên xảy ra khủng hoảng chính trị để Vua phải ra lệnh cho quân đội dẹp loạn. Nước Nga cũng gần giống như Thái lan, tuy có ĐA ĐẢNG nhưng không có tam quyền phân lập làm cho cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp, đều được tập trung cả vào Tổng thống. Thật đáng tiếc cho nhiều đấu sỹ dân chủ tại Việt nam hiện nay đã không biết sự thật về chế độ chính trị tại cả nước Nga lẫn Thái lan khiến họ đã đặt để cả hai nước đó vào ý niệm chung về các nước dân chủ 12).

    09/ TAM QUYỀN PHÂN LẬP

    Tam quyền phân lập, tức là nhà nước pháp quyền phải được phân chia độc lập về nhân sự thành ba cơ quan khác nhau để thực hiện ba quyền lực tương ứng: cơ quan lập pháp thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan hành pháp thực hiện quyền lực hành pháp và cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp, theo đó bất cứ cá nhân nào đang làm quan chức cho cơ quan này cũng không được làm quan chức cho cơ quan khác để ngăn ngừa mọi quan chức nhà nước lạm dụng quyền lực nhà nước. Ba cơ quan đó bằng nhau về tổng số sức mạnh để kiểm soát lẫn nhau theo các nguyên tắc cơ bản sau đây:

    Thứ nhất, cơ quan lập pháp thực hiện quyền lực lập pháp đồng thời cũng phải thực hiện cả quyền lực hành pháp lẫn quyền lực tư pháp nhưng chỉ thực hiện hạn chế cả hai quyền lực đó mà thôi, cụ thể là cơ quan lập pháp không được thực hiện cả quyền lực hành pháp lẫn quyền lực tư pháp đối với dân chúngchỉ thực hiện quyền lực hành pháp đối với cơ quan hành pháp đồng thời chỉ thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp. Nguyên tắc này có thể được diễn đạt cụ thể như sau: 1/ Cơ quan lập pháp chỉ kiểm sát (kiểm tra kết hợp với giám sát) cơ quan hành pháp thực hiện thế nào quyền lực hành pháp, nếu cơ quan hành pháp thực hiện sai lầm quyền lực hành pháp thì cơ quan lập pháp phải áp dụng các biện pháp ngăn cản đối với cơ quan hành pháp bằng việc lên án hoặc công kích cơ quan hành pháp với dư luận nhân dân (công luận), nếu chưa ngăn cản được cơ quan hành pháp bằng việc đó thì cơ quan lập pháp có thể cần phải tố cáo cơ quan hành pháp với cơ quan tư pháp để cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan hành pháp; 2/ Cơ quan lập pháp chỉ thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp bằng một trong hai bộ phận khác nhau hợp thành cơ quan lập pháp mà thôi, nếu cả hai bộ phận đó đều thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp thì tất cả sẽ bị mất hết: cơ quan tư pháp sẽ không dám thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan lập pháp cũng như cơ quan lập pháp sẽ không dám thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp, tức là quyền lực tư pháp sẽ bị tê liệt, làm cho ý chí chung bị tiêu diệt mà không thể tồn tại được thành pháp luật, tức là pháp luật bị biến thành con số không; hoặc thậm chí cơ quan lập pháp sẽ liên kết bất chính với cơ quan tư pháp để tiêu diệt ý chí chung làm cho tất cả sẽ bị mất hết. Khi thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp bằng một bộ phận nhất định như trên, cơ quan lập pháp phải thiết lập một thiết chế đặc biệt có thể được xem như một Toà án Đặc biệt thông qua bầu cử tự do cho bộ phận đó để cái thiết chế kia (Toà án Đặc biệt) thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp. Phải làm thế để mới có thể bảo đảm sự độc lập giữa cơ quan lập pháp với cơ quan tư pháp.

    Thứ hai, cơ quan hành pháp thực hiện quyền lực hành pháp đồng thời cũng phải thực hiện cả quyền lực lập pháp lẫn quyền lực tư pháp nhưng chỉ thực hiện hạn chế cả hai quyền lực đó mà thôi, cụ thể là cơ quan hành pháp không được thực hiện cả quyền lực lập pháp lẫn quyền lực tư pháp đối với dân chúngchỉ thực hiện quyền lực lập pháp đối với cơ quan lập pháp đồng thời chỉ thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp. Nguyên tắc này có thể được diễn đạt cụ thể như sau: 1/ Cơ quan hành pháp chỉ thực hiện quyền lực lập pháp đối với cơ quan lập pháp bằng chức năng ngăn cản mà thôi, tức là cơ quan hành pháp chỉ có thể đề xuất các điều luật dự kiến cho cơ quan lập pháp để cơ quan lập pháp xem xét rồi quyết định bằng việc biểu quyết khiến các điều luật đó có thể được thông qua (được chấp nhận) bởi cơ quan lập pháp nhưng cũng có thể bị phủ quyết (bị bác bỏ) bởi chính cơ quan đó khi có cơ sở xác thực cho thấy các điều luật đó có thể làm hại ý chí chung; hoặc cơ quan hành pháp có thể phủ quyết (bác bỏ) các điều luật chính thức đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp khi có cơ sở xác thực cho thấy các điều luật đó có thể làm hại ý chí chung; 2/ Cơ quan hành pháp cũng chỉ thực hiện quyền lực tư pháp đối với cơ quan tư pháp bằng chức năng ngăn cản mà thôi, tức là cơ quan hành pháp chỉ có thể tố cáo cơ quan tư pháp với cơ quan lập pháp mà không thể được xét xử cơ quan tư pháp.

    Thứ ba, cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp đồng thời cũng phải thực hiện cả quyền lực lập pháp lẫn quyền lực hành pháp nhưng chỉ thực hiện hạn chế cả hai quyền lực đó mà thôi, cụ thể là cơ quan tư pháp không được thực hiện cả quyền lực lập pháp lẫn quyền lực hành pháp đối với dân chúngchỉ thực hiện quyền lực lập pháp đối với cơ quan lập pháp đồng thời chỉ thực hiện quyền lực hành pháp đối với cơ quan hành pháp. Nguyên tắc này có thể được diễn đạt cụ thể như sau: 1/ Cơ quan tư pháp cũng có thể hành xử với cơ quan lập pháp như cơ quan hành pháp hành xử với cơ quan lập pháp, như đã được trình bày ở trên kia: cơ quan tư pháp có thể đề xuất các điều luật dự kiến cho cơ quan lập pháp để cơ quan lập pháp có thể thông qua (chấp nhận) nhưng cũng có thể phủ quyết (bác bỏ) khi có cơ sở xác thực cho thấy các điều luật đó có thể làm hại ý chí chung; hoặc cơ quan tư pháp có thể phủ quyết (bác bỏ) các điều luật chính thức đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp khi có cơ sở xác thực cho thấy các điều luật đó có thể làm hại ý chí chung; 2/ Cơ quan tư pháp phải vô hiệu hoá các quyết định nào đó được đưa ra bởi cơ quan hành pháp khi có cơ sở xác thực cho thấy các quyết định đó sai lầm hoặc có thể làm hại ý chí chung, như vừa mới xảy ra với Tổng thống Donald J. Trump tại Mỹ vào những ngày đầu nhiệm kỳ 2016 – 2020 chẳng hạn. Ngoài ra, cơ quan tư pháp phải diễn dịch chính xác ý chí chung cho mọi cá nhân hiểu biết được đúng đắn ý chí đó để thực hiện quyền lực hành pháp, tức là giải thích pháp luật để pháp luật được vận hành đúng đắn 13).

    10/ ĐA NGUYÊN BÌNH ĐẲNG

    Đa nguyên bình đẳng phải được định nghĩa về cả mặt tư tưởng lẫn mặt chính trị. Về mặt tư tưởng, đa nguyên tức là nhiều quan điểm khác nhau. Đa nguyên bình đẳng, tức là nhiều quan điểm khác nhau vừa phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng vừa phải chấp nhận nguyên tắc đó. Một quan điểm nào đó không chấp nhận nguyên tắc bình đẳng sẽ dẫn đến tiêu diệt chế độ dân chủ. Chế độ dân chủ sẽ không thể chấp nhận quan điểm đó. Chế độ dân chủ sẽ không thể chấp nhận sự thù địch mà chỉ có thể chấp nhận sự khác biệt. Về mặt chính trị, đa nguyên bình đẳng tức là nhà nước pháp quyền phải được làm chủ bởi toàn thể nhân dân thông qua nhiều tổ chức độc lập hoặc nhiều đảng phái chính trị để ngăn ngừa các điều luật bất công dẫn đến tai hoạ cho dân chúng, cũng như phương tiện giao thông phải có phanh hãm thật tốt để phòng tránh tai nạn giao thông.

    Mỗi tổ chức độc lập hoặc mỗi đảng phái chính trị sẽ đại diện cho một quan điểm nhất định. Vì tất cả các quan điểm khác nhau đều phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng đồng thời phải chấp nhận nguyên tắc đó, không thể chấp nhận sự thù địch mà chỉ có thể chấp nhận sự khác biệt, nên tất cả các tổ chức độc lập hoặc tất cả các đảng phái chính trị cũng đều không thể chấp nhận sự thù địch mà chỉ có thể chấp nhận sự khác biệt, các tổ chức độc lập hoặc các đảng phái chính trị không được loại trừ nhau mà phải chấp nhận nhau.

    Quyền lực nhà nước vốn dĩ đáng sợ nhất trên đời, nếu không bị kiểm soát chặt chẽ bởi toàn thể nhân dân thông qua nhiều tổ chức độc lập hoặc nhiều đảng phái chính trị thì quyền lực đó có thể làm hại bất cứ ai, kể cả chính nhà cầm quyền. Chính vì quyền lực nhà nước có thể làm hại bất cứ ai nên thể chế dân chủ phải bảo đảm cho nhân làm chủ đối với nhà nước pháp quyền bằng nhiều tổ chức độc lập hoặc nhiều đảng phái chính trị để nhân dân có thể kiểm soát chặt chẽ đối với quyền lực đó 14).

    11/ BẦU CỬ TỰ DO

    Bầu cử tự do, tức là nhà nước pháp quyền phải hoạt động theo nhiệm kỳ; sau mỗi nhiệm kỳ nhất định, nhà nước này phải thay đổi nhân sự thông qua bầu cử tự do, theo đó mọi cá nhân đều phải được tham gia lựa chọn những người có cả tài năng lẫn đức hạnh làm người lãnh đạo đồng thời cũng đều phải được ứng cử làm người lãnh đạo, nhưng chỉ được ứng cử vào một trong ba cơ quan khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, nếu ứng cử vào cơ quan này thì không được ứng cử vào hai cơ quan kia hoặc nếu đắc cử vào cơ quan này thì phải từ bỏ chức vụ ở hai cơ quan kia để người đắc cử chỉ nắm được một trong ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    Bầu cử tự do có một số tác dụng sau đây: 1/ Lựa chọn được những người tài đức làm quan chức nhà nước; 2/ Làm cho mọi quan chức nhà nước đều phải lệ thuộc vào dân chúng để phục vụ dân chúng; 3/ Ngăn ngừa được sự tha hoá hư hỏng trong nhà nước pháp quyền, tức là bảo tồn ĐẠO ĐỨC cho nhà nước pháp quyền; vân vân 15).

    12/ ĐẠO ĐỨC

    Đạo đức là những giá trị tinh thần làm cho bản tính vị kỷ thúc đẩy người ta hành động vị tha để mỗi cá nhân nhất định tự nguyện điều chỉnh hành vi ứng xử sao cho phù hợp với ý chí chung hoặc lợi ích chung.

    Nhà nước pháp quyền với BA thiết chế cơ bản: 1/ Tam quyền phân lập; 2/ Đa nguyên bình đẳng; 3/ Bầu cử tự do, làm cho mọi cá nhân đều phải hành xử theo ĐẠO ĐỨC.

    Đạo đức biểu hiện phổ biến thành các giá trị cơ bản sau đây: Tự doBình đẳngBác ái 16).

    13/ TỰ DO

    Tự do là tình trạng được làm tất cả những gì có lợi cho mình đồng thời cũng có lợi cho cả người khác biểu hiện thành toàn bộ các quyền làm người thuộc về mỗi cá nhân nhất định hoặc nhân quyền như vẫn thường gọi, khiến người ta phải suy nghĩ đúng đắn trước khi hành động để tránh sai lầm.

    Vì tự do đòi hỏi mỗi cá nhân nhất định phải biết suy nghĩ đúng đắn để tránh sai lầm nên không phải dân tộc nào cũng được tự do mà chỉ những dân tộc trưởng thành mới có thể được tự do.

    Dân tộc nào muốn được tự do, dân tộc đó phải được khai sáng bởi CÁC TRIẾT GIA hoặc CÁC NHÀ TƯ TƯỞNG. Nhưng không phải ai cũng có thể làm TRIẾT GIA hoặc NHÀ TƯ TƯỞNG. Vậy cần phải làm thế nào đó để có thể tạo ra được CÁC TRIẾT GIA hoặc CÁC NHÀ TƯ TƯỞNG 17).

    14/ BÌNH ĐẲNG

    Bình đẳng là như nhau hoặc giống nhau về cả quyền lẫn nghĩa vụ. Không thực hiện được một nghĩa vụ nào đó cũng sẽ không thể thực hiện được một quyền tương ứng. Ví dụ: một người nào đó bị khuyết tật ở chân sẽ không thể thực hiện được nghĩa vụ quân dịch nhưng cũng sẽ không thể thực hiện được quyền tự do đi lại mặc dù pháp luật vẫn bảo đảm quyền tự do đi lại cho người đó khiến người khác không thể ganh tỵ với người đó.

    Sự bình đẳng phải dựa trên pháp luật. Nhưng pháp luật lại dựa trên bản tính vị kỷ. Vậy chính bản tính vị kỷ làm cơ sở tự nhiên cho sự bình đẳng 18).

    15/ BÁC ÁI

    Bác ái là yêu thương người khác như yêu thương chính mình. Vì bản tính vị kỷ tồn tại thường hằng ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc nên kẻ nào không biết sống bác ái, kẻ đó sẽ tự sát. Chẳng ai làm hại kẻ đó mà chính kẻ đó sẽ tự làm hại chính mình.

    Bác ái đối lập hẳn với tự ái. Tự ái là tình cảm tự yêu mình mà không quan tâm đến người khác. Tự ái sẽ chỉ dẫn đến độc tài đối lập với bác ái sẽ dẫn đến dân chủ. Đấu tranh dân chủ mà không biết bác ái sẽ chỉ thay thế độc tài này bằng độc tài khác 19).

    16/ ĐỘC TÀI

    Độc, tức là một mình. Tài, tức là quyết đoán hoặc quyết định. Độc tài, tức là một mình quyết định mọi việc 20).

    17/ CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI

    Chế độ Độc tài là thể chế chính trị bảo đảm cho một cá nhân duy nhất hoặc một số ít cá nhân nào đó có chung cả quyền lợi lẫn ý đồ có thể cai trị được tất cả những người khác bằng BẠO LỰC 21). Bạo lực gây ra sự SỢ HÃI cho TẤT CẢ MỌI NGƯỜI mặc dù lúc đầu bạo lực chỉ gây ra sự sợ hãi cho dân chúng bị cai trị nhưng dần dần về sau bạo lực sẽ gây ra sự sợ hãi cho tất cả mọi người. Vậy sự SỢ HÃI làm ĐỘNG CƠ cho CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI.

    Vào giai đoạn cuối cùng, động cơ cho chế độ độc tài sẽ bị chùng xuống, tức là sự sợ hãi sẽ bị suy yếu cùng cực để dân chúng không còn sợ hãi nữa. Đến một giới hạn nhất định, chế độ độc tài sẽ được thay thế bằng chế độ dân chủ.

    18/ NHÀ NƯỚC BẠO QUYỀN

    Nhà nước Bạo quyền là một hoặc một số ít người nào đó cai trị tất cả những người khác bằng BẠO LỰC dựa trên BA điều kiện cơ bản: 1/ Bạo hành; 2/ Cướp bóc; 3/ Dối trá, dẫn đến TỘI ÁC.

    Nhà nước bạo quyền cũng có thể phải bày đặt luật lệ cho có nhưng sẽ không thể có luật lệ nghiêm minhchỉ có thể có luật lệ mù quáng hoặc không thể có luật lệ công bằngchỉ có thể có luật lệ bất công. Để áp đặt luật lệ bất công cho xã hội, nhà nước bạo quyền phải bạo hành, cướp bócdối trá, đối với dân chúng, tức là mọi luật lệ được bày đặt bởi nhà nước bạo quyền đều chỉ quy về BA điều kiện kia để cai trị dân chúng mà thôi. Bạo hành gây ra sợ hãi cho dân chúng để dân chúng phục tùng nhà độc tài. Cướp bóc gây ra bất công cho xã hội để dân chúng lệ thuộc nhà độc tài. Dối trá gây ra ngu dốt cho tất cả mọi người để dân chúng chấp nhận nhà độc tài. Tóm lại, luật lệ bất công cũng chỉ dẫn đến TỘI ÁC.

    Vào giai đoạn cuối cùng, ba điều kiện đó sẽ suy yếu cùng cực để dân chúng không còn sợ hãi, không còn lệ thuộc, không còn ngu dốt nữa. Đến một giới hạn nhất định, nhà nước bạo quyền sẽ được thay thế bằng nhà nước pháp quyền 22).

    19/ DÂN CHỦ HOÁ

    Dân chủ hoá là mọi hoạt động xã hội nhằm thay đổi thể chế chính trị từ thể chế độc tài sang thể chế dân chủ: thay thế nhà nước bạo quyền bằng nhà nước pháp quyền.

    Dân chủ hoá là một quá trình phức tạp có thể được phân chia thành 5 giai đoạn khác nhau: 1/ Xây dựng một cơ sở tư tưởng; 2/ Xây dựng một đội ngũ cán bộ; 3/ Tạo lập các phương tiện cần thiết; 4/ Xây dựng cơ sở quần chúng; 5/ Thông qua HIẾN PHÁP cho THỂ CHẾ DÂN CHỦ. Trong đó giai đoạn đầu tiên đóng vai trò quan trọng nhất. Chính vì quan trọng nhất nên giai đoạn này khó khăn nhất chỉ có thể được thực hiện thành công bởi những tài năng xuất chúng. Đó là các triết gia hoặc các nhà tư tưởng.

    Dân chủ hoá không thể được thực hiện thành công bằng bạo lực hoặc lừa dối mà chỉ có thể được thực hiện thành công bằng SỰ THẬT, TÌNH YÊU THƯƠNG và LÒNG TRẮC ẨN, đòi hỏi mọi người phải biết ĐỐI THOẠI – TƯƠNG KÍNH – KHOAN DUNG. Vì bản tính vị kỷ tồn tại phổ biến ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc nên nếu làm khác thì sẽ TỰ SÁT, nếu dùng bạo lực thì sẽ TỰ SÁT, nếu lừa dối thì sẽ TỰ SÁT!

    Dân chủ hoá phải tuân thủ nguyên tắc cùng thắng (the principle of winwin) sao cho không một kẻ nào bị thua mà tất cả cùng thắng: cả người đấu tranh lẫn người bị đấu tranh đều thắng.

    Dân chủ hoá được kết thúc khi thông qua được HIẾN PHÁP cho THỂ CHẾ DÂN CHỦ 23).

    20/ DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH

    Diễn biến hòa bình là chiến lược toàn cầu được thúc đẩy bởi Chính phủ Mỹ nhằm dân chủ hoá thế giới bằng phương pháp hoà bình với các đòn bẩy chủ yếu bao gồm: kinh tế, chính trị, văn hóatư tưởng, v. v., trong đó văn hoátư tưởng được dùng làm công cụ chủ yếu để các nước độc tài tự chuyển hoá về thể chế chính trị từ chế độ độc tài đến chế độ dân chủ.

    Diễn biến hòa bình được khởi động bí mật từ năm 1946 với một điện tín dài (Long Telegram) được viết bởi George Frost Kennan (1904 – 2005), một nhà ngoại giao cự phách làm sứ giả cho nước Mỹ tại Liên bang Soviet, đánh giá về Liên bang Soviet từ Moscow gửi qua Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ: Dean Acheson, đến Tổng thống Mỹ: Harry S. Truman (1884 – 1972), đề nghị các quốc gia tự do áp dụng các biện pháp hòa bình, bao gồm các công cụ chủ yếu, như kinh tế, chính trị, văn hóatư tưởng, v. v., nhằm dân chủ hóa thế giới; trong đó biện pháp quân sự chỉ được áp dụng khi không thể khác với các nhà độc tài ngoan cố mà thôi. Đến năm 1953, diễn biến hòa bình được thể nghiệm công khai với một diễn văn nổi tiếng được trình bày trước Nghị viện Mỹ bởi một chính khách xuất sắc có tên là John Foster Dulles lúc đó làm Bộ trưởng cho Bộ Ngoại giao Mỹ. Từ đó đến nay, diễn biến hòa bình đã đạt được thành công rực rỡ rồi được lấy làm chiến lược toàn cầu cho hầu hết các quốc gia tự do trên khắp thế giới.

    Chính nhờ diễn biến hoà bình mà nhiều nước độc tài theo chủ nghĩa cộng sản tại Đông Âu châu đã tự chuyển hoá chính trị từ nền độc tài cộng sản sang nền dân chủ tự do từ năm 1989 đến năm 1991 24).

    21/ CỘNG SẢN

    Cộng sản là cộng lại để phân chia đồng đều mọi tài sản cho mọi cá nhân làm cho mọi tài sản đều được sở hữu chung bởi mọi cá nhân 25). Không hiểu gì mà chỉ mới nghe sơ qua về cộng sản sẽ hiểu lầm ngay lập tức rằng cộng sản rất công bằng, rất bình đẳng, rất nhân đạo, v. v.. Nhưng nếu bình tĩnh để suy xét thấu đáo thì sẽ giật mình nhận thấy cộng sản không chỉ rất sai lầm mà còn rất nguy hiểm, rất bất công, rất dã man. Vì các cá nhân vừa khác nhau về cả thể chất lẫn tinh thần vừa giống nhau về bản tính vị kỷ (ích kỷ, tư lợi và tham lam) nên cộng sản luôn luôn bất khả thi. Về mặt khác nhau giữa người với người, có người sinh ra rất khoẻ mạnh nhưng cũng có người sinh ra rất yếu đuối, có người học ít vẫn có thể hiểu nhiều hoặc hiểu đúng nhưng cũng có người học nhiều lại chỉ hiểu ít hoặc hiểu sai hoặc thậm chí không hiểu gì cả, v. v. 26). Về mặt giống nhau giữa người với người, mọi cá nhân đều có bản tính vị kỷ. Bản tính này vừa tốt vừa xấu, nó chỉ xấu khi thúc đẩy người ta làm điều xấu hoặc nó chỉ tốt khi thúc đẩy người ta làm điều tốt. Điều tốt làm lợi cho nhân loại đối lập với điều xấu chỉ gây hại cho nhân loại (xem lại mục 02 ở trên). Vì giống nhau về bản tính vị kỷ nhưng lại khác nhau về cả thể chất lẫn tinh thần nên các cá nhân ắt phải khác nhau về cả CỐNG HIẾN lẫn HƯỞNG THỤ, cống hiến khác nhau, hưởng thụ khác nhau, hưởng thụ phải tương xứng với cống hiến mới công bằng. Công bằng phải CÂN BẰNG giữa cống hiến với hưởng thụ: làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, không làm không hưởng, xin xin hẳn, cho cho hẳn, vay phải trả, không cùn quỵt, không nhập nhằng. Nếu cống hiến khác nhau mà hưởng thụ giống nhau hoặc cống hiến giống nhau mà hưởng thụ khác nhau thì BẤT CÔNG, RẤT BẤT CÔNG, CỰC KỲ BẤT CÔNG, trái ngược hẳn với công bằng. Vậy nếu cộng lại để phân chia đồng đều mọi tài sản cho mọi cá nhân làm cho mọi tài sản đều được sở hữu chung bởi mọi cá nhân như cộng sản đã được định nghĩa ở trên, tức là CÀO BẰNG TÀI SẢN, thì sẽ làm cho xã hội bất công: làm nhiều hưởng ít, làm ít hưởng nhiều, không làm cũng hưởng, hưởng không theo làm, người nào cống hiến nhiều hơn sẽ bị thua thiệt, người nào tử tế hơn sẽ bị vùi dập, người nào thông minh hơn sẽ bị tiêu diệt, v. v.. Muốn giành được lợi lộc đồng thời tránh bị thua thiệt, người ta sẽ phải lựa chọn sống lười nhác để ăn bám đồng thời lựa chọn “ngu sy hưởng thái bình” để dần dần trở nên ngu dốt theo ý muốn dẫn đến một xã hội bầy đàn dựa trên sự kìm hãm lẫn nhau giữa người với người, chẳng ai muốn kẻ khác hơn mình mà chỉ muốn kìm hãm kẻ khác để kẻ khác cũng chỉ như mình thôi, từ đó ắt phải dẫn đến xung đột xã hội. Chưa kể mọi sự xấu xa khác sẽ phát sinh từ đó. Ôi, thật khủng khiếp!

    22/ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN

    Chủ nghĩa Cộng sản là một hệ tư tưởng chủ trương cộng lại để phân chia đồng đều mọi tài sản cho mọi cá nhân làm cho mọi tài sản đều được sở hữu chung bởi mọi cá nhân 27). Vì các cá nhân vừa khác nhau về cả thể chất lẫn tinh thần vừa giống nhau về bản tính vị kỷ (ích kỷ, tư lợi và tham lam) làm cho cộng sản luôn luôn bất khả thi nên chủ nghĩa cộng sản không thể trở thành hiện thựcchỉ có thể trở thành ảo tưởng. Trở thành ảo tưởng, chủ nghĩa cộng sản chắc chắn sẽ làm hại mãi mãi cho những người nào vừa thông minh vừa chăm chỉ mặc dù có thể làm lợi nhất thời cho những người nào vừa dốt nát vừa lười nhác. Quả thật, vì chủ trương cộng lại để phân chia đồng đều mọi tài sản cho mọi cá nhân làm cho mọi tài sản đều được sở hữu chung bởi mọi cá nhân nên chủ nghĩa cộng sản cực kỳ hấp dẫn đối với những người nào vừa dốt nát vừa lười nhác, những người đó vừa không thể sáng tạo vừa không thể cống hiến, những người đó chỉ giỏi hóng hớt đợi chờ kẻ khác tạo ra của cải cho mình hưởng thụ. Nhưng thật đáng tiếc cho cả nhân loại, những người đó lại thường chiếm tỷ lệ áp đảo tại các nước lạc hậu để chủ nghĩa cộng sản được hoan nghênh nhiệt liệt tại chính các nước đó làm cho một số người điển hình nhất dễ dàng trở thành người cộng sản vốn cũng chẳng hiểu gì hoặc chỉ hiểu sai về chủ nghĩa cộng sản. Như vậy tức là về lâu dài, chủ nghĩa cộng sản sẽ làm hại cho tất cả mọi người. Cũng chính vì cộng sản chỉ có thể gây ra hệ quả tai ác cho nhân loại như đã được trình bày khái quát ở trên nên muốn áp đặt được chủ nghĩa cộng sản vào đời sống thực tế, người cộng sản phải lừa dối đối với những người dốt nát vốn chiếm tỷ lệ áp đảo trong xã hội đồng thời phải bạo hành, tức là dùng bạo lực, đối với những kẻ khôn ngoan vốn chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong xã hội 28). Vốn cũng chẳng hiểu gì hoặc chỉ hiểu sai về chủ nghĩa cộng sản làm cho chủ nghĩa cộng sản trở thành chân lý đối với chính họ, những người cộng sản không lừa dối chủ độngchỉ lừa dối thụ động đồng thời cũng không bạo hành chủ độngchỉ bạo hành thụ động, tức là lừa dối nhưng không nghĩ mình lừa dốicứ nghĩ mình nói đúng theo chân lý đồng thời bạo hành nhưng không nghĩ mình bạo hànhcứ nghĩ mình hành đạo theo chân lý, nhằm áp đặt bằng được chủ nghĩa cộng sản cho xã hội bất chấp hậu quả đau đớn về mọi mặt cho xã hội, nếu người cộng sản không lừa dối thụ động như vậy hoặc không bạo hành thụ động như vậy thì đa số người khác (trong đó sẽ bao gồm tất cả những người hiểu biết vốn chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ) sẽ không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Tất nhiên, do nhận thức cảm tính nên đa số người khác cũng không biết mình bị lừa dối thụ động hoặc thậm chí cũng không biết mình bị bạo hành thụ độngchỉ nghĩ mình được giác ngộ chủ động theo chân lý hoặc được hành đạo chủ động theo chân lý để rồi tự phát chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, lừa dối dưới mọi hình thức cũng như bạo hành dưới mọi hình thức đều không thể dẫn đến một xã hội tốt đẹp mà chỉ có thể dẫn đến một xã hội xấu xa, không thể dẫn đến chế độ dân chủ mà chỉ có thể dẫn đến chế độ độc tài, tức là chủ nghĩa cộng sản ắt phải dẫn đến chế độ độc tài; hơn nữa, vì chỉ tồn tại được với nhận thức cảm tính nên chủ nghĩa cộng sản đòi hỏi nhà nước độc tài phải kiểm soát tư tưởng để dân chúng chỉ có thể suy nghĩ bằng nhận thức đó, tức là theo logic vận động, chủ nghĩa cộng sản ắt phải dẫn đến nền độc tài toàn trị thường được gọi tên bằng “nền độc tài cộng sản” hoặc “nền chuyên chính vô sản”.

    Chủ nghĩa cộng sản chủ trương tiêu diệt sở hữu tư nhân để xác lập sở hữu công cộng như đã được trình bày khái quát ở trên nhưng vì không nhận thấy bản chất cho nhân loại bằng bản tính vị kỷ nên chủ nghĩa cộng sản không thể tiêu diệt được sở hữu tư nhân đồng thời cũng không thể xác lập được sở hữu công cộngchỉ có thể làm cho sở hữu tư nhân bị biến dạng quay quắt từ dạng công bằng thành dạng bất công. Trong nền độc tài cộng sản, sở hữu toàn dân cũng như sở hữu nhà nước chỉ làm hình thức mờ ảo cho sở hữu tư nhân thuộc về một số ít người cộng sản nắm quyền lãnh đạo mà thôi, cũng như sở hữu tư nhân dưới nền độc tài phong kiến chỉ thuộc về vua chúa.

    Vì chỉ có thể tồn tại được bằng chủ nghĩa cộng sản vốn đầy mâu thuẫn loại trừ nhau về logic nội tại đòi hỏi phải dựa vào bạo lực cùng với sự dối trá để cướp bóc nên nền độc tài cộng sản ắt phải làm mất lòng tin hoặc ít nhất cũng làm suy giảm lòng tin dẫn đến tiêu diệt nhau để tranh giành quyền lực tuyệt đối. Ngay cả những người cộng sản đích thực cũng không tin tưởng nhau dẫn đến tiêu diệt nhau. Mao Trạch Đông đã tiêu diệt Lưu Thiếu Kỳ cũng như Joseph Stalin đã tiêu diệt Leon Trotsky, v. v., rất nhiều vụ thanh trừng kinh khủng như thế.

    Về TỪ NGUYÊN, chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ “COMMUNISM” (Anh văn) hoặc “COMMUNISME” (Pháp ngữ) vốn mang Ý NGHĨA TỐT ĐẸP. Nếu được dịch sát nghĩa thì COMMUNISM = CHỦ NGHĨA CỘNG ĐỒNG, tức là một hệ tư tưởng chủ trương xác lập lợi ích chung về cả kinh tế, chính trị, văn hoátư tưởng, v. v., cho tất cả mọi người để tất cả mọi người đều quan tâm bảo vệ lợi ích đó trong một xã hội dân chủ dựa trên Tự doBình đẳngBác ái. Hay, rất hay, cực kỳ hay. Không thể chê bai vào đâu được! Chính vì cực kỳ hay như vậy nên CHỦ NGHĨA CỘNG ĐỒNG (COMMUNISM / COMMUNISME) được lấy làm MỤC TIÊU ĐÍCH THỰC cho CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ để rồi chỉ có CHẾ ĐỘ DÂN CHỦ mới có thể đạt được mục tiêu đó. Quả thật, pháp luật theo ý nghĩa đích thực cho khái niệm đó vốn phải làm căn bản cho chế độ dân chủ tất yếu phải bảo vệ sở hữu tư nhân làm cho mọi công dân đều có thể có nhiều tài sản tư nhân. Với tài sản này, người ta sẽ đua nhau đóng góp thật nhiều cho cộng đồng để tạo nên rất nhiều tài sản công cộng được sở hữu chung bởi toàn thể cộng đồng. Từ đó suy ra rằng: xoá bỏ tài sản tư nhân cũng sẽ làm tiêu tán tài sản công cộng. Như vậy tức là sở hữu công cộng phải dựa vào sở hữu tư nhân, nếu không có sở hữu tư nhân thì cũng không thể có sở hữu công cộng, xoá bỏ sở hữu tư nhân cũng sẽ làm tiêu tan sở hữu công cộng. Muốn xác lập sở hữu công cộng, nhất thiết phải bảo vệ sở hữu tư nhân. Aristotle (384 – 322) đã từng nói đúng rằng: nếu có sở hữu tư nhân thì mỗi cá nhân nhất định mới quan tâm đến việc bảo toàn của cải rồi chia sẻ với bạn bè, qua đó mới tự nguyện tạo ra những cái chung. Ông nhấn mạnh rằng: cách hay nhất là có những cái riêng để sử dụng chung mới làm cho người ta hạnh phúc đồng thời có cơ sở để thực tập đức tính vừa tiết chế vừa rộng lượng 29). Nhưng khốn nỗi, Chủ nghĩa Marx vốn được khởi xướng bởi cả Karl Marx (1818 – 1883) lẫn Friedrich Engel (1820 – 1895) dẫn đến phong trào marxist bùng phát từ khoảng giữa thế kỷ XIX đến khoảng giữa thế kỷ XX đã tuyệt đối hoá KHÍA CẠNH KINH TẾ cho COMMUNISM / COMMUNISME, tức là chỉ đặt trọng tâm vào việc CÀO BẰNG TÀI SẢN, đồng thời chủ trương thiết lập COMMUNISM / COMMUNISME bằng BẠO LỰC CÁCH MẠNG, để COMMUNISM / COMMUNISME được dịch sang Việt ngữ thành CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN như đã được định nghĩa ở trên. CHỦ NGHĨA CỘNG ĐỒNG (COMMUNISM / COMMUNISME) được định nghĩa sai lạc theo quyết định luận kinh tế thành CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN đã dẫn đến nền độc tài toàn trị vốn sẽ nguy hiểm hơn nhiều so với mọi nền độc tài khác. Chính vì chủ nghĩa cộng sản đã dẫn đến nền độc tài toàn trị như vậy nên tất cả các quốc gia dân chủ đều phải chống chủ nghĩa cộng sản.

    Không phải vô cớ mà tất cả các quốc gia dân chủ đều chống chủ nghĩa cộng sản!

    23/ DÂN CHỦ HOÁ TẠI NƯỚC TÀU

    Nước Tàu có truyền thống lâu đời sống theo chính thể chuyên chế dựa trên Nho giáo 30). Đến thế kỷ XX, truyền thống đó lại được kích hoạt mạnh mẽ bởi Chủ nghĩa MarxLenin khiến nước Tàu đã chuyên chế rồi lại càng chuyên chế hơn nữa 31). Trên thế giới hiện nay, nước Tàu lạc hậu nhất về văn hoá chính trị. Chính vì nước Tàu lạc hậu nhất về văn hoá chính trị nên một mặt, chính quyền độc tài tại nước Tàu đang ra sức ngăn chặn tiến trình dân chủ hoá ở ngay nước Tàu bằng mọi phương cách có thể được, kể cả giết chóc; mặt khác, chính quyền đó đang dẫn dắt nước Tàu đi theo con đường đế quốc để trở thành một đế quốc nguy hiểm nhất trên thế giới từ xưa đến nay, không chỉ làm lực cản lớn nhất cho tiến trình dân chủ hoá trên toàn thế giới mà còn làm kẻ thù nguy hiểm nhất cho mọi quốc gia khác!

    Một số nhà lãnh đạo cộng sản, trong đó có cả Mao Trạch Đông lẫn Đặng Tiểu Bình, rất lo sợ diễn biến hoà bình. Họ hình dung diễn biến hoà bình như một nguy cơ nghiêm trọng nhất rồi bị ám ảnh nặng nề bởi chính nguy cơ đó. Họ đã làm cho một số nhà lãnh đạo cộng sản tại Việt nam cũng lo sợ diễn biến hoà bình như họ.

    Tuy nhiên, Đế quốc Tàu đang mưu toan thôn tính Việt nam để thống trị thế giới khiến Đảng Cộng sản Việt nam cũng phải dè chừng.

    24/ DÂN CHỦ HOÁ TẠI VIỆT NAM

    Do những nguyên nhân sâu xa về Địa lý Chính trị khiến Việt nam tuy tương đồng với nước Tàu về cả tư tưởng chính trị lẫn thể chế chính trị nhưng lại đang bị đe doạ thôn tính bởi chính Đế quốc Tàu nên tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng hơn làm cho tiến trình đó không thể diễn biến nhanh chóng mà chỉ có thể diễn biến chậm chạp 32).

    Ở bất cứ đâu vào bất cứ lúc nào, tiến trình dân chủ hoá luôn luôn phải đối mặt với ít nhất hai lực cản ghê gớm nhất: lợi ích cục bộ ở tầng lớp lãnh đạo cùng với nhận thức sai lầm ở mọi thành phần nhân dân. Tầng lớp lãnh đạo muốn giữ nguyên hiện trạng chính trị để hưởng lợi ích cục bộ hoặc tránh rủi ro bất định khiến họ không muốn dân chủ hoá hoặc thậm chí sẽ chống lại tiến trình dân chủ hoá. Nhưng nhận thức chung ở mọi thành phần nhân dân lại đóng vai trò quan trọng hơn nhiều: nếu nhận thức đó mà sai lầm hoặc tối tăm thì sẽ chỉ giúp tầng lớp lãnh đạo củng cố hiện trạng chính trị; ngược lại, nếu nhận thức đó mà đúng đắn hoặc sáng suốt thì sẽ thúc đẩy tiến trình dân chủ hoá cho dù tầng lớp lãnh đạo muốn chống lại cũng không thể chống lại được mà phải chấp nhận tiến trình dân chủ hoá để tồn tại trong thể chế dân chủ hoặc thậm chí sẽ chủ động thúc đẩy tiến trình dân chủ hoá để hạ cánh an toàn. Tại Việt nam hiện nay, tiến trình dân chủ hoá không chỉ phải đối mặt với hai lực cản kia mà còn phải đối mặt với ít nhất một lực cản khác ghê gớm hơn nhiều so với hai lực cản kia, đó là mối đe doạ thôn tính từ Đế quốc Tàu. Chính vì mối đe doạ đó nên tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam chỉ có thể được thực hiện thành công với ít nhất ba điều kiện cơ bản: Thứ nhất, nhận thức chung phải đúng đắn hoặc sáng suốt, tức là tư tưởng dân chủ phải được phổ biến rộng khắp trong xã hội trở thành tư tưởng chủ đạo để mọi người Việt nam đều thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước chân chính. Đó là một hệ tư tưởng dựa trên sự thật về Quốc gia Việt nam làm cho mọi người Việt nam đều hướng về lợi ích chung mà liên kết chặt chẽ với nhau để xây dựng một tương lai chung. Đây là điều kiện tiên quyết tạo nên nội lực cho Việt nam, nếu không có điều kiện này thì mọi điều kiện khác đều vô nghĩa. Thứ hai, hợp tác quân sự với các nước dân chủ phải đủ mạnh mẽ để Việt nam có thể được bảo vệ về quân sự bởi các nước đó, ít nhất Mỹ cùng các đồng minh chiến lược phải hiện diện quân sự tại Việt nam hoặc xung quanh Đế quốc Tàu để có thể ngăn cản Đế quốc Tàu chống phá tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam. Thứ ba, Đế quốc Tàu phải suy yếu đến một mức độ nhất định khiến nó không thể can thiệp sâu rộng vào đời sống chính trị tại Việt nam hoặc không thể chống phá tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam. Trong ba điều kiện đó, điều kiện thứ ba cũng như điều kiện thứ hai đang hình thành, điều kiện thứ nhất đóng vai trò quan trọng nhất như đã nói ở trên nhưng lại chưa hình thành. Giới đấu tranh cần phải hiểu biết sâu rộng về địa lý chính trị để đấu tranh đúng đắn theo phương pháp đúng đắn mới có thể tạo ra được điều kiện thứ nhất: không được chửi bới chính quyền, không được bạo hành với chính quyền, không được đe doạ lật đổ chính quyền, không được toan tính lật đổ chính quyền, không được làm cách mạng bằng bạo lực dưới mọi hình thức, tuyệt đối không được gây ra sợ hãi cho mọi quan chức nhà nước mà phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc bất hại (không được làm hại bất cứ ai), chỉ vận dụng triệt để phương pháp ôn hoà, bất bạo động, phải tránh đối đầu để chỉ đối thoại, phải tập trung truyền bá tư tưởng dân chủ cho mọi thành phần xã hội trong nhân dân để mọi thành phần đó đều có thể biết Đối thoạiTương kínhKhoan dung, phải nỗ lực tối đa để tạo ra điều kiện tiên quyết như đã nói ở trên. Chỉ khi đã có đủ ít nhất ba điều kiện đó mới có thể tiến hành sửa đổi Hiến pháp theo chiều hướng dân chủ.

    Song song với việc sửa đổi Hiến pháp theo chiều hướng dân chủ, cần phải thực thi nghiêm chỉnh một đạo luật đặc biệt về hoà hợp dân tộc nhằm ngăn ngừa việc trả thù báo oán giữa các thành phần khác nhau trong nhân dân đồng thời củng cố tăng cường sự đoàn kết quốc gia.

    Một khi đã xác lập được nền tảng tư tưởng cho tiến trình dân chủ hoá, đồng thời vượt qua được những thách thức về địa lý chính trị được trình bày khái quát ở đây, Việt nam chắc chắn sẽ trở thành một cường quốc về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá – tư tưởng v. v., để được nể trọng trên toàn thế giới.

    25/ VIỆT NAM CỘNG HOÀ

    Việt nam Cộng hoà chính là miền Nam Việt nam dưới chính thể cộng hoà từ ngày 26 Tháng Mười 1955 đến ngày 30 Tháng Tư 1975. Được sáng lập bởi Ngô Đình Diệm (1901 – 1963), lúc đầu chính thể này vẫn còn mang tính chất độc tài. Hiến pháp 1956 tập trung quá nhiều quyền lực cho Tổng thống để Tổng thống có thể khuynh loát toàn bộ chính trường. Sau cuộc đảo chính quân sự lật đổ Ngô Đình Diệm vào ngày 01 Tháng Mười một 1963 được hậu thuẫn bởi người Mỹ khiến Ngô Đình Diệm bị thảm sát cùng với một số thân nhân, chính thể này lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng: không chỉ bị tấn công từ bên ngoài bởi Quân đội Cộng sản từ miền Bắc Việt nam mà còn bị tấn công từ bên trong bởi các tướng lĩnh quân đội tranh nhau nắm quyền lãnh đạo thông qua đảo chính quân sự xảy ra liên tục từ năm 1964 đến năm 1965. Người Mỹ đã can thiệp quân sự để cứu vãn chính thể này làm cho Chiến tranh Việt nam leo thang ác liệt. Hiến pháp Dân chủ được thông qua vào ngày 01 Tháng Tư 1967 thường được gọi tên bằng “Hiến pháp 1967” mặc dù có Điều 4 chống cộng sản vừa rất thừa vừa rất nguy hại cho chính chính thể cộng hoà nhưng đã góp phần chấm dứt giai đoạn khủng hoảng. Tuy nhiên, cuộc tấn công đẫm máu trên khắp miền Nam Việt nam vào đầu năm 1968 (Tết Mậu thân) được thực hiện bởi Quân đội Cộng sản đã làm cho người Mỹ phải rút hết quân đội khỏi Việt nam vào năm 1973 để chính thể cộng hoà bị suy sụp nghiêm trọng hơn nữa. Quân đội Cộng sản chiếm được Sài gòn vào ngày 30 Tháng Tư 1975 đã đặt dấu chấm hết cho Việt nam Cộng hoà 33).

    Như vậy Việt nam Cộng hoà chỉ tồn tại được ngắn ngủi với một lịch sử bi thương có thể được phân chia thành ba giai đoạn chính: giai đoạn hình thành từ năm 1955 đến năm 1963, giai đoạn hỗn loạn từ năm 1964 đến năm 1966, và giai đoạn suy vong từ năm 1967 đến năm 1975. Trong cả ba giai đoạn đó, chính thể cộng hoà đều có những nhược điểm hiển nhiên vừa bắt nguồn từ những nguyên nhân nội tại vừa bắt nguồn từ những nguyên nhân ngoại lai. Trong giai đoạn hình thành, văn hoá chính trị vẫn mang tính chất cổ truyền dựa trên Nho giáo vốn xuất nguồn từ nước Tàu làm cho chính thể cộng hoà vào giai đoạn này không thể dân chủ thực sự. Ngay cả Ngô Đình Diệm kịch liệt chống cộng sản nhưng lại cực kỳ tâm đắc với Nho giáo làm cho chính thể cộng hoà được sáng lập bởi chính ông không thể tránh khỏi tính chất độc tài: tránh vỏ dưa nhưng lại gặp vỏ dừa, tránh độc tài cộng sản nhưng lại quay trở về độc tài phong kiến dựa trên Nho giáo. Trong giai đoạn hỗn loạn, chính thể cộng hoà vẫn chưa thoát khỏi tính chất độc tài lại phải chịu đựng áp lực to lớn hơn nữa: không chỉ bị tấn công quân sự bởi Quân đội Cộng sản từ miền Bắc mà còn bị áp đặt trắng trợn bởi người Mỹ từ bên ngoài Việt nam làm cho các tướng lĩnh cộng hoà xâu xé nhau, chưa kể đua nhau tham nhũng bắt đầu từ đó. Trong giai đoạn suy vong, chính thể cộng hoà đạt được hình thức hoàn chỉnh với Hiến pháp 1967 nhưng lại bị đánh một đòn chí tử vào Tết Mậu thân (đầu năm 1968) khiến người Mỹ nhận thấy mình sai lầm rồi bỏ rơi Việt nam Cộng hoà từ năm 1973 để chính thể này bị tiêu diệt vào ngày 30 Tháng Tư 1975.

    Trong suốt cuộc Chiến tranh Việt nam, tất cả các bên liên quan đều phạm sai lầm chết người gây ra đau khổ nhiều nhất cho Quân đội Cộng hoà để tất cả những người lính cộng hoà đều phải chiến đấu bằng tâm trạng tuyệt vọng. Đó chính là nguyên nhân làm cho tôi yêu những người lính cộng hoà. Tôi bày tỏ tình yêu đối với những người lính cộng hoà không phải để khơi lại quá khứ đau thương mà chỉ để gợi ý cho mọi người Việt nam hãy hoà giải với nhau. Hoà giải với nhau để xây dựng một nước Việt nam thống nhất dựa trên chế độ dân chủ!

    Vì Việt nam Cộng hoà đã bị tiêu diệt đẫm máu vào ngày 30 Tháng Tư 1975 bởi những người Cộng sản Việt nam nên tất cả những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà đều có thể gây ra nỗi sợ hãi cho Chính quyền Cộng sản tại Việt nam hiện nay, cũng như vong hồn từ nạn nhân luôn luôn gây ra nỗi ám ảnh cho sát thủ vậy. Cũng chính vì tất cả những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà đều có thể gây ra nỗi sợ hãi cho Chính quyền Cộng sản tại Việt nam hiện nay nên bất cứ ai tham gia công cuộc dân chủ hoá cho Việt nam bằng phương pháp ôn hoà, bất bạo động, cũng tuyệt đối không nên dùng tất cả những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà, như Cờ Vàng chẳng hạn, v. v., làm biểu tượng đấu tranh. Nếu dùng những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà làm biểu tượng đấu tranh thì sẽ gây ra nỗi sợ hãi cho Chính quyền Cộng sản tại Việt nam hiện nay. Vì sẽ gây ra nỗi sợ hãi cho Chính quyền Cộng sản tại Việt nam hiện nay nên bất cứ ai dùng những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà làm biểu tượng đấu tranh cũng sẽ bị đàn áp khốc liệt. Cần phải hiểu đúng đắn rằng: đấu tranh dân chủ bằng phương pháp ôn hoà, bất bạo động, không được gây ra sợ hãi cho đối phương, không được gây ra đau khổ cho đối phương, không được gây ra chết chóc cho đối phương, không được gây ra mát mát cho đối phương, không được gây ra thù hận cho đối phương, v. v.. Tóm lại, không được gây ra vấn đề cho đối phương mà phải mang lại giải pháp cho đối phương, tức là phải chỉ ra lối thoát cho đối phương để tất cả cùng thắng.

    Tôi nhắc lại về Việt nam Cộng hoà không phải để gợi nhớ lại về quá khứ đau thương mà chỉ để bày tỏ mong muốn về sự hoà hợp quốc gia làm cho người Việt nam hoà giải với nhau. Hoà giải với nhau để xây dựng một nước Việt nam thống nhất dựa trên chế độ dân chủ. Một nước Việt nam thống nhất dựa trên chế độ dân chủ sẽ cần một lá cờ khác, tuy vẫn kế thừa cả màu Vàng lẫn màu Đỏ từ cả Cờ Vàng lẫn Cờ Đỏ nhưng phải thêm màu Xanh tượng trưng cho Hoà bình. Màu Xanh phải chiếm tỷ lệ áp đảo bằng cả hai màu kia cộng lại!

    HÀ HUY TOÀN.

    ________________________

    1) Có thể xem thêm thông tin về Chính trị tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Politics) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Politique) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Politik) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Политика) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Chính_trị) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/政治), v. v..

    2) Có thể xem thêm thông tin về Quyền tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Quyền). Tính đến ngày 4 Tháng Hai 2018, Bách khoa Toàn thư Mở vẫn chưa có thông tin về Quyền bằng các ngôn ngữ khác.

    3) Có thể xem thêm thông tin về Nghĩa vụ tại Từ điển Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wiktionary.org/wiki/nghĩa_vụ#Tiếng_Việt).

    4) Xem Hà Huy Toàn: Chủ nghĩa cá nhân cần được hiểu thế nào cho đúng? Diễn đàn Xã hội Dân sự, ngày 01 Tháng Giêng 2014. Trang mạng đó đã bị phá bỏ nhưng tiểu luận này vẫn được lưu giữ tại Facebook (https://www.facebook.com/diendanxhds/posts/407606209372159).

    5) Cộng hòa nhất thiết phải được hiểu theo ý nghĩa tinh thần nhưng tuyệt đối không thể được hiểu theo ý nghĩa kinh tế mà chỉ có thể phải được hiểu theo ý nghĩa chính trị, theo đó khái niệm này đòi hỏi phải cộng lại để phân chia đồng đều cả quyền lẫn nghĩa vụ cho mọi cá nhân dẫn đến sự công bằng, tức là sự cân bằng giữa quyền với nghĩa vụ (làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng, nếu xin thì xin hẳn, nếu cho thì cho hẳn, không lẫn lộn nhập nhằng, không được bỏ rơi trẻ con, không được bỏ rơi người già, không được bỏ rơi người khuyết tật). Nếu được hiểu theo ý nghĩa kinh tế thì Cộng hòa sẽ biến thành Cộng sản, tức là cộng lại để chia đều mọi tài sản cho mọi cá nhân làm cho mọi tài sản đều được sở hữu chung bởi mọi cá nhân. Đó chính là cào bằng tài sản làm cho xã hội bất công: làm nhiều hưởng ít, làm ít hưởng nhiều, không làm cũng hưởng, hưởng không theo làm, người nào cống hiến nhiều hơn sẽ bị thua thiệt, người nào tử tế hơn sẽ bị vùi dập, người nào thông minh hơn sẽ bị tiêu diệt, v. v., từ đó ắt phải dẫn đến xung đột xã hội. Chưa kể mọi sự xấu xa khác sẽ phát sinh từ đó. Vậy Cộng sản không chỉ khác biệt rõ ràng mà còn đối lập hẳn với Cộng hoà. Xin độc giả hãy xem tác giả giải thích về Cộng sảnmục 21 dưới đây.

    6) Khi tìm hiểu “Phong trào Dân chủ” tại Việt nam hiện nay, tôi bất ngờ nhận thấy nhiều đấu sỹ dân chủ không hiểu hoặc chỉ hiểu lơ mơ về dân chủ, thậm chí còn thiếu hẳn những kiến thức cơ bản về dân chủ, khiến tôi rất thất vọng. Trong đó có một số ít đấu sỹ nổi tiếng còn mưu toan tìm kiếm vinh quang bằng những định nghĩa hời hợt về dân chủ làm cho khái niệm về dân chủ bị hiểu sai lạc đến tệ hại để nhiều người khác không thể hiểu đúng về dân chủ. Qua đó, tôi cũng nhận thấy ngay chính sự thể đó đã làm nguyên nhân sâu xa cho sự nghi kỵ nội bộ dẫn đến sự chia rẽ nội bộ giữa các hội nhóm dân chủ. Con đường dẫn đến dân chủ cho Việt nam còn rất dài đang đòi hỏi phải được rút ngắn nhanh chóng bởi một cuộc cách mạng tư tưởng. Cuộc cách mạng này phải dựa trên căn bản khoa học dẫn đến Đối thoạiTương kínhKhoan dung mới có thể thành công.

    7) Nền Dân chủ Cổ điển hoặc nền Dân chủ Chủ nôTây phương vào thời đại cổ xưa với hình mẫu điển hình nhất thuộc về cả Hy lạp lẫn La mã không công nhận tất cả mọi người đều được làm Công dân mà chỉ công nhận nam giới giàu có, tức là tầng lớp chủ nô, mới được làm Công dân. Còn lại tất cả các thành phần khác: người nghèo, nữ giới, trẻ con, v. v., đều không được làm Công dân. Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, tình trạng tương tự cũng xảy ra với nền Dân chủ Tư sản tại Anh, Mỹ, Pháp, v. v.. Chỉ có một sự khác biệt quan trọng xác nhận sự tiến bộ thực sự: tầng lớp tư sản không có quyền sở hữu đối với đồng loại như tầng lớp chủ nô có quyền sở hữu đối với nô lệ. Từ khoảng giữa thế kỷ XX đến nay, dân chủ không chỉ đã được hoàn thiện tại nhiều nước phát triển thuộc về Tây phương mà còn bành trướng sang nhiều nước khác thuộc về Đông phương, như Nhật bản, Hàn quốc, Đài loan, Philippines, Indonesia, v. v., bất chấp nhiều phong trào phản động (phong trào cộng sản, phong trào fascist, phong trào khủng bố, v. v.) đã ra sức cản trở nó để tất cả mọi người thuộc về nó đều được làm Công dân. Ngược lại, dân chúng bị cai trị hà khắc tại nhiều nước độc tài vào cùng giai đoạn này lại được công nhận làm “Công dân” trên danh nghĩa nhưng trên thực tế lại vẫn chỉ được làm Thần dân hoặc Nô dân mà thôi. Hiện tượng này đã cho thấy khái niệm về dân chủ đang bị lạm dụng phổ biến tại hầu hết các nước độc tài vào thời đại hiện nay.

    8) Độc giả có thể hiểu đúng về chế độ dân chủ theo triết lý chính trị được xác lập bởi Hà Huy Toàn tại đây (https://www.danluan.org/tu-khoa/ha-huy-toan).

    9) Xem Hà Huy Toàn: Pháp luật là gì? Dân Luận, ngày 03 Tháng Mười một 2017 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20171103/phap-luat-la-gi).

    10) Xem Hà Huy Toàn: Quan niệm đúng về Hiến pháp. Dân Luận, ngày 20 Tháng Năm 2016 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20160520/quan-niem-dung-ve-hien-phap).

    11) Độc giả có thể hiểu đúng về nhà nước pháp quyền theo triết lý chính trị được xác lập bởi Hà Huy Toàn tại đây (https://www.danluan.org/tu-khoa/ha-huy-toan).

    12) Xem Hiến pháp Nga bằng Việt ngữ trên Internet (https://diendancuachungta.com/tai-lieu-tham-khao/hien-phap-nga/). Có thể xem thêm thông tin về Hiến pháp Nga tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Конституция_Российской_Федерации) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Constitution_of_Russia) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Constitution_de_la_fédération_de_Russie) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Verfassung_der_Russischen_Föderation) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Hiến_pháp_Liên_bang_Nga) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/俄罗斯联邦宪法), v. v.. Cũng có thể xem thông tin về Hiến pháp Thái lan trên Bách khoa Toàn thư Mở bằng Thái ngữ (https://th.wikipedia.org/wiki/รัฐธรรมนูญแห่งราชอาณาจักรไทย) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Constitution_of_Thailand) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Hiến_pháp_Thái_Lan), v. v..

    13) Xem Hà Huy Toàn: Hiểu thế nào cho đúng về tam quyền phân lập? Dân Luận, ngày 03 Tháng Hai 2017 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20170203/hieu-the-nao-cho-dung-ve-tam-quyen-phan-lap).

    14) Độc giả có thể tìm hiểu triết lý chính trị được xác lập bởi Hà Huy Toàn tại đây (https://www.danluan.org/tu-khoa/ha-huy-toan).

    15) Xem chú thích 14.

    16) Xem chú thích 14.

    17) Xem chú thích 14.

    18) Xem chú thích 14.

    19) Xem chú thích 14.

    20) Xem chú thích 14.

    21) Xem chú thích 14.

    22) Xem chú thích 14.

    23) Xem Hà Huy Toàn: Cần minh định về phương pháp đấu tranh. Dân Luận, ngày 6 Tháng Tư 2017 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20170404/can-minh-dinh-ve-phuong-phap-dau-tranh).

    24) Xem thông tin về Diễn biến Hòa bình tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Peaceful_Evolution_theory) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Diễn_biến_hòa_bình) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/和平演变), v. v..

    25) Rất nhiều người không hiểu hoặc chỉ hiểu sai lạc về cộng sản. Ngay cả những người cộng sản cũng không hiểu hoặc chỉ hiểu sai lạc về cộng sản. Nghịch lý hơn nữa, nhiều người chống cộng sản cũng không hiểu hoặc chỉ hiểu sai lạc về cộng sản. Cộng sản dựa trên nhận thức cảm tính vốn không xác định được bản chất cho nhân loại. Nhận thức lý tính xác định được bản chất cho nhân loại sẽ không chấp nhận cộng sản.

    26) Tôi xin mở ngoặc ở chỗ này: có học mà học nhiều kiến thức sai lầm sẽ còn tệ hại hơn cả vô học.

    27) Có thể xem thêm thông tin về chủ nghĩa cộng sản tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Communism) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Communisme) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Kommunismus) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Коммунизм) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Chủ_nghĩa_cộng_sản) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/共产主义), v. v.. Tại Đông phương (Việt nam cũng như nước Tàu, v. v.), chủ nghĩa cộng sản còn phức tạp hơn nhiều, không đơn giản như chủ nghĩa cộng sản ở Tây phương, mặc dù đều bắt nguồn trực tiếp từ Chủ nghĩa Marx. Muốn hiểu được tại sao chủ nghĩa cộng sản ở Đông phương phức tạp hơn nhiều so với chủ nghĩa cộng sản ở Tây phương, độc giả cần phải xem Hà Huy Toàn: Sự tương đồng giữa Nho giáo với Chủ nghĩa Marx. Dân Luận, ngày 5 Tháng Mười một 2015 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20151104/ha-huy-toan-su-tuong-dong-giua-nho-giao-va-chu-nghia-marx). Nền chuyên chế phong kiến dựa trên Nho giáo tồn tại dai dẳng qua nhiều thế kỷ làm cho tuyệt đại đa số dân chúng không chỉ nghèo khổ cùng cực mà còn mê muội cùng cực với đầu óc đầy tràn ảo tưởng để dễ dàng chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản pha trộn với Nho giáo tạo ra một hệ tư tưởng độc đoán đầy bệnh hoạn có thể được gọi tên bằng Nho giáo Cộng sản hoặc Cộng sản Nho giáo. Một khi đã bị vướng vào Nho giáo Cộng sản sẽ vô cùng khó thoát khỏi cái hệ tư tưởng đó. Cần phải trải nghiệm một cuộc cách mạng tư tưởng thực sự khai sáng mới có thể thoát khỏi cái hệ tư tưởng đó. Nhưng thật đáng tiếc cho giới đấu tranh ở cả nước Tàu lẫn Việt nam đã không nhận thấy yêu cầu đó.

    28) Ví dụ: Đảng Cộng sản Việt nam tiến hành Cải cách Điền địa bằng bạo lực đẫm máu nhằm vào những phần tử khôn ngoan nhất tại miền Bắc Việt nam từ năm 1954 đến năm 1955 để dân chúng ở đây chấp nhận chủ nghĩa cộng sản. Còn nhiều ví dụ khác ở các nước khác, như Cải cách Điền địanước Tàu từ năm 1946 đến năm 1950 cũng như Nội chiến Cách mạng tại nước Nga từ năm 1920 đến năm 1922, v. v., cũng cho thấy cái tất yếu tinh thần được trình bày rõ ràng ở đây nhưng vì Việt nam rất lạc hậu về triết lý chính trị nên tôi phải lấy ví dụ thực tế tại Việt nam để đồng bào Việt nam có thể hiểu được cái tất yếu kia.

    29) Plato chủ trương sở hữu công cộng (xem Plato: The Republic. Đỗ Khánh Hoan chuyển dịch từ Anh văn sang Việt ngữ: Cộng hòa. Nhà xuất bản Thế giới, Hà nội 2013) nhưng Aristotle (vốn làm học trò cho Plato) lại chống lại sở hữu công cộng để chủ trương sở hữu tư nhân. Theo Aristotle, sở hữu công cộng tạo nên tranh giành quyền lực khi chính các cá nhân đã có khó khăn làm việc chung với nhau; nếu có sở hữu tư nhân thì mỗi cá nhân nhất định mới quan tâm đến việc bảo toàn của cải rồi chia sẻ với bạn bè, qua đó mới tự nguyện tạo ra những cái chung. Ông nhấn mạnh rằng, cách hay nhất là có những cái riêng để sử dụng chung mới làm cho người ta hạnh phúc đồng thời có cơ sở để thực tập đức tính vừa tiết chế vừa rộng lượng. Quan sát đời sống thực tế ở các nước dân chủ, như Thuỵ điển chẳng hạn, chúng ta sẽ thấy được Aristotle có não trạng uyên bác thế nào. Tôi trích dẫn cả Plato lẫn Aristotle qua Vũ Quang Việt: Thử tìm hiểu quan niệm về dân chủ, quyền lực chính trị và cơ sở kinh tế của chúng. Tạp chí Thời đại Mới, ngày 08 Tháng Bảy 2003 (http://www.tapchithoidai.org/200401_VQViet.htm). Tuy nhiên, cần phải nhận thấy rằng Aristotle đã không giải thích sở hữu tư nhân bằng bản tính vị kỷ đồng thời cũng không dùng bản tính đó để giải thích sự khó khăn khi làm việc chung với nhau mà chỉ giải thích cả sở hữu tư nhân lẫn sự khó khăn khi làm việc chung với nhau bằng các lý lẽ siêu hình đầy tư biện về đời sống chính trị mặc dù ông luôn kêu gọi phải lấy bản chất nhân loại để giải thích đời sống xã hội, nhưng ông không xác định bản chất cho nhân loại bằng bản tính vị kỷ mà lấy ngay sinh vật chính trị làm bản chất cho nhân loại: “nhân loại, từ bản chất, là một sinh vật chính trị”, ông nói như vậy tức là không giải thích đời sống chính trị bằng bản tính vị kỷ mà chỉ giải thích đời sống chính trị bằng sinh vật chính trị. Quan niệm đó không hề xác định bản chất cho nhân loại mà chỉ khẳng định đời sống chính trị đóng vai trò quyết định đối với nhân loại, đúng đắn nhưng thiếu sót. Lý lẽ siêu hình đầy tư biện về đời sống chính trị được xác lập bởi Aristotle: “cái tổng thể luôn nhất thiết phải hiện hữu trước cá thể [theo tự nhiên]” hoặc “ta thấy nhà nước hiện hữu bởi tự nhiên và có trước cá nhân. [Chứng cứ của cả hai lập luận này là sự kiện nhà nước là tổng thể, còn cá nhân là cá thể]”. Lý lẽ này vừa lủng củng vừa kỳ quặc, không giải thích mối quan hệ tương tác giữa cá nhân với nhà nước bằng nhu cầu cá nhân mà chỉ giải thích mối quan hệ đó bằng lý lẽ siêu hình chẳng liên quan gì với cả cá nhân lẫn nhà nước (xem Aristotle: The Politics. Nông Duy Trường chuyển dịch từ Anh văn sang Việt ngữ: Chính trị luận. Nhà xuất bản Thế giới, Hà nội 2015. Quyển I, từ trang 41 đến trang 82: Chương 2, từ trang 43 đến trang 49).

    30) Xem Hà Huy Toàn: Nho giáoMột hệ tư tưởng nguy hiểm. Dân Luận, ngày 10 Tháng Tám 2015. Xem cả đoạn 1 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150810/ha-huy-toan-nho-giao-mot-he-tu-tuong-nguy-hiem-1) lẫn đoạn 2 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150810/ha-huy-toan-nho-giao-mot-he-tu-tuong-nguy-hiem-2).

    31) Xem Hà Huy Toàn: Chủ nghĩa Marx. Dân Luận, ngày 15 Tháng Tám 2015 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150814/ha-huy-toan-chu-nghia-marx).

    32) Xem thông tin về Việt nam tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Việt_Nam) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/越南) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Vietnam) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Việt_Nam) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Vietnam) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Вьетнам), v. v..

    33) Có thể xem thêm thông tin về Việt nam Cộng hoà tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Việt_Nam_Cộng_hòa) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/越南共和国) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/South_Vietnam) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/République_du_Việt_Nam) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Südvietnam) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Южный_Вьетнам), v. v..

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    10 phản hồi

    @RFV ("CH là hình thức, DC là nội dung"):
    Bác nói đúng rồi, đấy là 2 loại ý niệm riêng biệt. CH tựa như danh từ (có tĩnh từ CH, nhưng đây chỉ một cách nói), còn DC giống như cụm từ gồm cả danh từ, tĩnh từ, trạng từ và động từ. CH chỉ cho biết hình thức nhà nước kiểu gì thôi, còn DC bao gồm luôn cả cách tổ chức, điều hành, quy trình và hệ quả (trên xã hội) .
    Lấy thí dụ về xe hơi: xe số tay là chế độ quân chủ, xe có hộp số tự động là chế độ cộng hoà. Nói rằng cái kiểu xe là số tay hay là hộp số tự động không cho ta biết là cái xe ấy sẽ mang lại tiện nghi, bền vững, hay vọt lẹ không. Ngày nay đa số xe xài số tự động (CH) nhưng có rất nhiều xe không tốt lắm (thí dụ xe của Nga, Tàu, Cam Bốt vv chế tạo), ngược lại có những xe vẫn còn xài số tay (quân chủ), nhưng thuộc loại xịn. Xe loại gì thì khá rõ ràng, nhưng phẩm chất (tính dân chủ) chỉ có thể đánh giá theo mức độ từ thấp đến cao.
    Nói tóm lại, như bác TH Cách đã viết, không nên đánh tráo 2 từ ngữ CH và DC.

    Trường hợp rắc rối của "cộng hoà": khác với xe hơi, chế độ chính trị có thể tự đặt tên chính thức của mình là chế độ cộng hoà dựa vào cái cớ họ không phải là vua chúa, nhưng thực chất là họ tìm cách bám ngôi lâu dài không kém. Đó là trường hợp của các nước "cộng hoà giả tạo", khi những người hay nhóm lên nắm chính quyền, dù cho do được bầu lên hay là không, có toàn quyền, không bị giới hạn bởi pháp luật, và họ không có ý định chia sẻ quyền lực với các đảng khác, hay là giới hạn nhiệm kỳ của mình trong thời gian ngắn để tổ chức chọn lựa bầu lại chính quyền. Nói tóm lại đó là bọn độc tài, họ không phải là vua chúa cha truyền con nối, nhưng vẫn có ý đồ nắm quyền lâu dài. Cái đảng của họ chính là vua chúa, còn đảng viên cao cấp là con vua; tính cách "di truyền không qua DNA" này làm hỏng ý nghĩa của chữ cộng hoà, đó là những chế độ cộng hoà trên danh nghĩa mà thôi.

    Ngoài các chế độ cộng sản ra, các nước Cộng Hoà Ả Rập Syria (đã có 19 vị tổng thống, với Assad là đương kim TT) , Cộng Hoà Colombia, Cộng Hoà, Cộng Hoà Hồi Giáo Iran, Cộng Hoà Uganda vv. có mức độ dân chủ rất thấp, nhưng ta không gọi đấy là những nước cộng hoà giả tạo.

    Đã là bài khảo cứu về thuật ngữ thì không được đánh đồng hai khái niệm khác nhau. Bài này không nên được phổ biến, vì làm thế chỉ gieo rắc thêm sai lầm cho bao nhiêu người đọc.

    Tác giả cũng nên xét lại phương pháp nghiên cứu của mình trước khi trở lại viết một bài nào khác.

    Nên hiểu một cách rộng rãi. Nói rằng CH là hình thức, DC là nội dung thì không hẳn hai thứ này bắt buộc phải đi song song.

    Có thể một xã hoi DC nhưng chinh quyền không là CH (rất nhiều nước trên thực tế)

    Có thể một chính quyền CH (đúng nghĩa "của dân, do dân") nhưng xã hội không DC (có lẽ trên thực tế chẵng có nước nào như vậy, nhưng về mặt lý luận thì khả thi). Trường hợp Đức Quốc Xã hơi đặc biệt, là một chính quyền độc tài nhưng do dân bầu lên, thiết nghĩ dân thật sự bầu lên vì nghe nói đường lối quốc gia, xã hội rất được lòng dân Đức thời ấy)

    Hơn nữa, nhiều nước có vẻ không CH và họ tự nhận như thế vì có Vua đứng đấu nhưng thực chất Vua chỉ là biểu tượng không có quyền lực (nhiều lắm là đưa ra khuyến cáo không mang tính bắt buộc); còn Quốc hội, Chính phủ có thực quyền thì do dân bầu lên. Tuy không có danh xưng CH (và không có tổng thống) nhưng thực tế là CH.

    @RFV: Như vậy, bác có biết tại sao nhà nước ở các quốc gia này không phải là chế độ cộng hoà không: Anh, Úc, Canada, Thuỵ Điển, Bỉ, Nhật, Tây Ban Nha, Lục Xâm Bảo, Monaco, Đan Mạch, Hoà Lan? (Tất cả đều có chế độ dân chủ).
    Các nước ấy có điểm chung gì với nhau không?

    Vài ý kiến cá nhân:

    - Ý nghĩa của từ ngữ có thể biến đổi tùy theo thời đại, tùy xu hướng khi diễn dịch. Đó là chưa kể những lạm dụng từ ngữ để lừa dối, nói một đàng nhưng làm một ngã.

    - Trong thực tế thời nay, nếu bỏ qua những chế độ chính trị lừa dối hiển nhiên, thì Cộng Hòa và Dân Chủ rất gần nhau. Tương tự như hai mặt của một đồng xu: Cộng Hòa chỉ ra hình thức, cách tổ chức chính quyền do dân; còn Dân Chủ cho thấy nội dung, mục tiêu điều hành xã hội vì dân.

    - Dân Chủ - Cộng Hòa: bao hàm cả hai hình thức và nội dung (thật là bất hạnh cho VN ngày nay vì cả hai đều bị lạm dụng)

    - Công Hòa Nhân Dân: dùng thừa chữ Nhân Dân bởi cộng hòa tự nó đã là nhân dân rồi

    - Hai chính quyền Hàn Quốc và Đài Loan dùng chữ "Dân Quốc" trong quốc hiệu và dịch sang tiếng Anh là Republic (cộng hòa)

    Trích tuan344 :
    " Chỉ có chữ Cộng hoà là chính xác thôi, vì định nghĩa của nó quá rõ, đâu có che giấu được ai là người hay nhóm người nắm vận mạng quốc gia trong tay. "

    Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
    Cộng hòa nhân dân Trung Quốc
    Cộng hòa nhân dân Lào
    Cộng hòa nhân dân Triều Tiên

    Toàn là một bọn băng đảng trị, tự nhau ứng cử ...

    Ông Hà Huy Toàn hiểu và cắt nghĩa chữ "Cộng hoà" sai rồi. "Cộng hoà" dễ hiểu hơn "dân chủ", và 2 từ này không có đồng nghĩa với nhau.
    Trước tiên, cộng hoà, nói một cách ngắn gọn, có nghĩa là giới cai trị/chính quyền không phải là vua/chúa cha truyền con nối, mà phải được bầu ra, đề cử hay được chỉ định ra. Chữ "cộng hoà" tiếng La tinh là res publica, và nó có nghĩa: "quốc gia không phải là của riêng, tài sản riêng thuộc về vua chúa, gia tộc hay cá nhân nào, mà là của chung, công cộng".
    (Dẫn nguồn: https://en.wikipedia.org/wiki/Government#Republics)

    Đây là nguồn #2 xác thực điều nói trên, do chính phủ Canada khẳng định:
    "Theo định nghĩa, cộng hoà là hình thức chính quyền với vị nguyên thủ quốc gia không phải là vua chúa:
    http://www.canadian-republic.ca/goals.html

    Nguồn #3: Republic
    https://www.britannica.com/topic/republic-government

    Nếu ông HHT nghĩ là 3 trang đó viết bậy bạ thì tôi hết ý kiến luôn. Tuy nhiên, cách định nghĩa như thế phù hợp với những gì ta đã thấy trong lịch sử:
    - La Mã là chế độ cộng hoà (trước khi Augustus lên ngôi hoàng đế). Đâu có dân chủ gì đâu! Còn các nước Âu châu chung quanh đấy không phải là cộng hoà vì có vua chúa.
    - Pháp: Sau khi lật đổ Louis XVI, chế độ đệ nhất cộng hoà được thiết lập, cho tới khi Napoleon lên ngôi Hoàng đế thì bị gián đoạn. Chế độ đệ nhị cộng hoà (1848-1951) có tổng thống là Louis-Napoléon Bonaparte, và bị chấm dứt khi ông này đảo chánh để lên ngôi thành ra Napoleon III trong đệ nhị đế chế.
    - Ngày nay có cả trăm nước cộng hoà trên thế giới (đều không phải là quân chủ), từ Trung Đông đến châu Phi, châu Á, đa số đều không có thể chế dân chủ: Libyan Arab Republic, Yemen Arab Republic vv.

    Như vậy từ cộng hoà mà có đi chung với từ dân chủ thì đâu có thừa thãi. Dân chủ không nhất thiết phải là cộng hoà, thí dụ: Canada có chế độ quân chủ lập hiến (tức là không phải cộng hoà) và cũng là một quốc gia dân chủ.
    Trên thực tế, đa số những nước mà có tên mang cái tựa "Dân chủ Cộng hoà..." đều là các nước có chế độ dân chủ giả tạo, bịp bợm. Chỉ có chữ Cộng hoà là chính xác thôi, vì định nghĩa của nó quá rõ, đâu có che giấu được ai là người hay nhóm người nắm vận mạng quốc gia trong tay.

    Chữ dân chủ thì phức tạp hơn nhiều. Đừng có nghĩ là cứ phải toàn dân, 100% dân số, hay là tất cả mọi người cai trị phê duyệt và ban hành luật thì mới gọi là DC (làm gì có chuyện này xảy ra, ngay cả dưới thời cổ Hy Lạp. Ngày nay có lẽ chỉ có vài ba quận xã nhỏ ở bên Thuỵ Sĩ mới có chuyện gần như tất cả mọi người dân tham gia vào việc soạn và bầu luật). Từ đó mà có ý niệm dân chủ trực tiếp và dân chủ đại biểu. Mỹ là nước cộng hoà liên bang (tuy không phải tên chính thức) và có chế độ dân chủ đại biểu.

    Thế cái "luật đặc khu" thì thế nào nhỉ? Mọi người có phải theo và có nên theo không? Tại sao nhiều người lại biểu tình chống lại "luật đặc khu" như vậy? Tác giả có giải thích được không?

    "Vì bản tính vị kỷ tồn tại thường hằng ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc nên mỗi cá nhân nhất định phải biết hành xử theo ĐẠO ĐỨC đồng thời phải biết sống theo PHÁP LUẬT. Nếu làm khác thì sẽ TỰ SÁT, nếu dối trá thì sẽ TỰ SÁT, nếu dùng bạo lực với đồng loại thì sẽ TỰ SÁT, nếu cướp bóc đối với đồng loại thì sẽ TỰ SÁT. Kẻ nào làm hại người khác, kẻ đó sẽ tự làm hại chính mình. Chẳng ai làm hại kẻ đó mà chính kẻ đó sẽ tự làm hại chính mình."
    Cần xem lại đoạn này và một số đoạn khác. Nói chung bài này lý thuyết suông nhiều quá, không thiết thực.
    CS còn nói mỗi người (giai cấp) có một quan niệm pháp luật và đạo đức khác nhau. Pháp luật là những điều con người quy ước với nhau và bắt mọi người phải theo. TB cho rằng quyền tư hữu là quyền thiêng liêng, CS thì quy định ruộng đất là tài sản chung của mọi người nhưng do nhà nước quản lý nên chính quyền muốn cướp đất của ai cũng được vì thế bao người khốn khổ vì cái điều luật này. Có người đã nói nếu pháp luật sai thì người dân có quyền không tuân theo pháp luật. Nếu bàn cụ thể từng phần bài này thi mất nhiều thì giờ lắm,.
    tác giả viết bài này công phu nhưng nên liên hệ với tình hình thực tế ở nước ta thì nhiều người đọc hơn.