4.0, cuộc cách mạng cướp đi mẩu tự do của người Việt Nam

  • Bởi Admin
    23/10/2018
    0 phản hồi

    Ngô Bách Việt

    Mới đấy, chuyên gia Dương Ngọc Thái đã có một bài phân tích Nghị định chi tiết một số điều của Luật an ninh mạng (sau đây viết gọn là ANM) (bản được phát tán một cách không chính thức, đề ngày 03/10/2018) [*]. Bài viết phân tích về các mặt kinh tế, an ninh và nguy cơ cho Việt Nam khi sao chép và áp dụng Luật ANM của Trung Quốc. Cá nhân người viết đánh gía những ý kiến của chuyên gia Thái mang tính chất xây dựng và đặc biệt có giá trị vì đã chỉ ra các yếu tố kỹ thuật, kinh tế nhằm chứng minh những hạn chế, đặc biệt là những nguy cơ nhiều khả năng phải đối mặt khi áp dụng Luật ANM. Phân tích về cơ hội để đi cùng thế giới trong bối cảnh Trung Quốc đang đi chiều ngược lại tuy ngắn gọn nhưng rất sâu sắc. Nhưng người viết không tin những nhà hoạch định chính sách Việt Nam có thể hiểu được điều đó, và nếu có thể hiểu được, thì sẽ vẫn chọn đi con đường hiện tại, tức là cùng Trung Quốc bơi ngược dòng thế giới. Bài viết này đề cập tới những tác động tiêu cực mà Luật này chắc chắn sẽ mang tới môi trường xã hội Việt Nam mà người viết dự đoán với góc nhìn một công dân. Tựa đề bài viết được dựa theo quan sát của người viết, rằng Luật ANM chính là viên đá tảng đầu tiên đảm bảo rằng cuộc cách mạng 4.0 sẽ đi đúng như dự tính của nhà cầm quyền Việt Nam.

    Không có một chút nghi ngờ, người viết khẳng định Luật ANM của Trung Quốc, hay phiên bản Việt Nam, đều có mục đích chung là kiểm soát toàn bộ cuộc sống trên không gian mạng của những người sinh sống tại nước sở tại, vì một số lý do như đã được trích dẫn là an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng. Về an ninh quốc gia, chính quyền có tham vọng kiểm soát các hệ thống mà “nếu bị phá hoại hoặc lợi dụng, sẽ trở thành phương tiện thông tin, tuyên truyền chống lại chính quyền nhà nước, lật đổ chế độ, trực tiếp tác động đến tư tưởng người dân, đến sự tồn tại của chế độ” (Nghị định, chương 3, mục I, điều 3.2). Trước khi các ứng dụng số (như mạng xã hội, công cụ tìm kiếm, diễn đàn, blog, hay đơn giản nhất là các trang thông tin từ nhiều nguồn gốc) xuất hiện, các hệ thống duy nhất có thể thực hiện được các chức năng thông tin, tác động tới tư tưởng người dân là hệ thống truyền thông hoàn toàn nằm dưới sự quản lý của chính quyền. Các ứng dụng trên một khi xuất hiện, đã nhanh chóng chiếm lĩnh một phần quan trọng trong đời sống xã hội. Truyền thông nhà nước không còn là kênh duy nhất. Đây là thời kỳ chính quyền Việt Nam bất an nhất, vì không thể kiểm soát được việc người dân tiếp cận các kênh thông tin khác, đặc biệt việc người dân có thể dùng những ứng dụng này để có một không gian để tìm hiểu, trao đổi và tụ họp (dưới các diễn đàn, hay nhóm, cộng đồng) dù chỉ là trên mạng. Có thể nói, đây chính là chút tự do ít ỏi mà người dân Việt Nam được hưởng thụ, tự do này họ tự tạo ra nhờ các ứng dụng số, hoàn toàn không do nhà cầm quyền trao cho họ, mà ngược lại tìm mọi cách tước đoạt. Chính việc những ứng dụng này có thể trực tiếp tác động đến tư tưởng người dân (thực tế đã chứng minh điều này), và việc những nhóm công dân có tổ chức có thể được thành hình (giống những gì đã xảy ra trong một số cuộc biểu tình đã xảy ra) đã thúc đẩy việc áp dụng bàn tay sắt của chính quyền. Một mặt, chính quyền bắt và kết án nặng nề các blogger hay facebooker bất đồng quan điểm (không chỉ là những người được nhiều người biết tới), với mục đích đe dọa người dân với các hình phạt họ có thể phải đối mặt. Cần phải nói thêm, những người hoạt động đối lập tại Việt Nam đều là những facebooker, hay blogger tích cực trên không gian mạng, tức là họ vừa làm, vừa nói về những việc làm đó. Mặt khác, chính quyền đang tìm cách kiểm soát hoàn toàn môi trường mạng trong phạm vi Việt Nam, cũng như họ đã kiểm soát hoàn toàn các loại hình truyền thông và văn hóa khác, như truyền hình, truyền thanh, báo, sách giấy. Câu chuyện 4.0 bắt đầu từ đây, với Luật ANM.

    Luật ANM yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ lưu trữ dữ liệu người dùng tại Việt Nam, đặc biệt yêu cầu họ cung cấp cho Cục ANM các dữ liệu này, bao gồm “nhật ký truy cập, thông tin thanh toán dịch vụ, địa chỉ IP truy cập dịch vụ, thói quen tìm kiếm, log chat, thời gian giao dịch” sau 36 tháng kể từ lúc dữ liệu được thu thập. Nếu một công ty đóng cửa hoạt động hoặc ngừng cung cấp dịch vụ, phải chuyển giao tất cả thông tin người dùng cho Cục An ninh mạng. Trong bài phân tích, chuyên gia Thái đã chỉ ra rằng yêu cầu này dẫn tới 2 khả năng cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Khả năng thứ nhất, do những quy định về pháp luật, các công ty này dù muốn cũng không được phép trao dữ liệu cho chính quyền Việt Nam mà không được tòa án nơi đặt trụ sở cho phép (ví dụ, tòa án Mỹ). Cộng với những rủi ro có thể phát sinh (ví dụ, việc trao dữ liệu khách hàng cho chính quyền gây ảnh hưởng tới niềm tin khách hàng trên phạm vi toàn cầu, gây ra tổn thất tài chính to lớn gấp nhiều chục, trăm lần), chi phí phát sinh (khi phải đặt hoặc thuê máy chủ tại Việt Nam, chi phí thiết kế và vận hành sản phẩm), nguy cơ an ninh đi kèm với việc sao chép, lưu trữ dữ liệu tại Việt Nam (mà chuyên gia Thái cho rằng, nếu không phải là các công ty lớn, thì phương án nội địa được lựa chọn sẽ là đơn giản, rẻ tiền, và lẽ hiển nhiên là kém an toàn nhất). Tất cả các rủi ro về pháp lý, kinh tế, an ninh sẽ dẫn tới khả năng thứ hai, là các công ty nước ngoài, dù lớn hay nhỏ, đều sẽ rời thị trường Việt Nam. Tất nhiên sẽ có một số trường hợp ngoại lệ, như Apple đã sẵn sàng trao thông tin người dùng cho đối tác Trung Quốc. Quy mô hai thị trường là khác nhau, nhưng người Việt Nam cũng không nên kỳ vọng quá nhiều vào việc các đế chế lớn như Google hay Facebook không có những những bước lách luật tương tự. Người viết đánh giá đây chính là điều mà chính quyền mong muốn. Hoặc các nhà cung cấp dịch vụ ở lại, và phải thực hiện yêu cầu từ chính quyền (khả năng xảy ra thấp), hoặc là họ phải rời đi (khả năng xảy ra rất cao). Chắc chắn chính quyền đã tính tới những phương án để nhanh chóng lấp đầy phần thị trường bỏ ngỏ. Chuyên gia Thái đã chỉ ra, không phải là Việt Nam không đủ khả năng làm ra các sản phẩm thay thế, nhưng không có cách chi để tạo ra các sản phẩm mang tầm thế giới, do không có vốn, công nghệ, tài năng và đối tác lớn (ngoại trừ Trung Quốc). Tuy nhiên, nếu việc tạo ra những sản phẩm Made in Vietnam vươn ra thế giới luôn được nhắc tới, như một khẩu hiệu trong mọi lĩnh vực, kể cả tại một số công ty công nghệ lớn nhất nước, thì mục đích thực sự trong ngắn hạn và trung hạn của chính quyền đối với vấn đề này là kiểm soát được không gian mạng. Nếu không có Facebook, sẽ có Zalo hay một mạng xã hội khác nhanh chóng được tạo ra. Nếu không có Google, sẽ có Coccoc, hay Baidu-vn. Chính quyền đã rất thoải mái trong việc sao chép mô hình chính trị Trung Quốc, từ cách tổ chức, tới việc vận hành, hay là cả những cuộc chiến trong nội bộ mới đây dưới danh nghĩa chống tham nhũng. Để đạt được mục đích kiểm soát không gian mạng, chính quyền cũng không ngần ngại sao chép và ứng dụng Luật ANM của Trung Quốc. Vốn cho vay, hoặc đầu tư từ Trung Quốc, công nghệ Trung Quốc, và cuối cùng là một phiên bản tiếng Việt của các ứng dụng Trung Quốc, nếu được dùng tại Việt Nam, sẽ không phải là một điều quá ngạc nhiên. Điều đó có thể xảy đến, nhưng một cách không quá lộ liễu. Ví dụ, Zalo là một mạng xã hội khá phổ biến tại Việt Nam, là sản phẩm của VNG, một công ty mà Tencent Trung Quốc chiếm 30% cổ phần tại thời điểm 2018. Trong tình hình hiện tại, một tập đoàn lớn mới chuyển hướng chiến lược sang lĩnh vực công nghệ. Người viết rất tò mò muốn biết vai trò họ sẽ giữ trong cuộc cách mạng 4.0 này. Một năm đủ để họ làm xe hơi. Có lẽ một vài ứng dụng số không phải là cái gì đó quá phức tạp đối với họ.

    Một nghịch lý tồn tại là Luật ANM được thiết kế để đảm bảo an ninh, tuy nhiên khi áp dụng sẽ tạo ra nguy cơ lớn về mất an ninh. Điều này đúng trong việc sao chép và lưu trữ dữ liệu người dùng tại Việt Nam, mà các phương án nội địa rẻ tiền, đơn giản, kém an toàn có thể thành mục tiêu tấn công. Đặc biệt, trung tâm dữ liệu do Bộ công an xây dựng cũng không nằm ngoài tầm ngắm của các lực lượng tình báo đủ mọi thành phần. Không bao giờ là một ý kiến tốt khi tất cả dữ liệu từ nhiều nguồn của người Việt Nam (cả công dân bình thường, và có lẽ là cả quan chức cao cấp, hoặc ít nhất là những người có liên quan tới họ) được tập trung vào một chỗ như thế. Chính quyền kiểm soát được trung tâm này, sẽ kiểm soát được Việt Nam. Một thế lực nào khác chiếm được nó, cũng có khả năng làm điều tương tự. Một nguy cơ khác tồn tại ngay trong cách áp dụng Luật, khi Cục trưởng Cục ANM, và cao hơn một chút là Bộ công an nắm giữ tất cả những dữ liệu này, và lẽ dĩ nhiên nắm giữ sinh mệnh chính trị của rất nhiều người, cả ở những vị trí cao nhất. Những dữ liệu này sẽ được sử dụng như thế nào, ủng hộ ai, chống lại ai, đưa Việt Nam đi cùng thế giới, hay cắm cúi chạy theo Trung Quốc theo hướng ngược lại? Nhiều câu hỏi lớn sẽ được quyết định với những dữ liệu kể trên. Liệu thiết kế Luật ANM để Bộ C.a trở thành cơ quan quyền lực nội bộ quan trọng như thế, bên cạnh những quyền lực khác như điều tra, bắt giam, có nằm trong mục đích ban đầu của chính quyền không? Không rõ, nhưng hãy trở lại với mục tiêu kiểm soát hoàn toàn không gian mạng, qua đó tước đoạt chút tự do tự tìm thấy của người dân Việt Nam.

    Luật ANM cho phép chính quyền theo dõi người bất đồng chính kiến một cách liên tục, toàn diện. Luật này tước đi công cụ liên lạc, tổ chức, truyền thông của họ, do không người bất đồng chính kiến nào sẽ dại dột tiếp tục sử dụng các công cụ đó, biết rằng họ chắc chắn đang bị theo dõi. Luật này cho phép hoàn thiện nhanh chóng và đầy đủ hồ sơ buộc tội và kết tội họ. Dù luôn nằm trong tầm giám sát, kiểm soát, nhưng những người đấu tranh chắc chắn sẽ tìm được một giải pháp để tổ chức hoạt động của mình. Chỉ có điều, giải pháp này sẽ không phải là giải pháp cho số đông người dân. Cần phải nói thêm rằng, luật này cho phép chính quyền xâm phạm trắng trợn điều 12 Tuyên ngôn nhân quyền của Liên hợp quốc, theo đó “Không ai có thể bị xâm phạm một cách độc đoán vào đời tư, gia đình, nhà ở, thư tín, hay bị xúc phạm đến danh dự hay thanh danh. Ai cũng có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại những xâm phạm ấy”. Những người hoạt động cũng có cuộc sống cá nhân. Khả năng những dữ liệu cá nhân của họ sẽ bị sử dụng cho những chiến dịch bôi nhọ hay hạ thấp uy tín của họ là chắc chắn. Hơn nữa, những thông tin bình thường chỉ có thể thu thập một cách bất hợp pháp (ví dụ tấn công mạng) không thể sử dụng để buộc tội, thì nay đã trở thành thông tin hợp pháp.

    Nhưng đáng lo ngại hơn rất nhiều, luật ANM là chiếc thòng lọng tròng vào cổ tất cả các công dân khác của xã hội. Việc yêu cầu danh tính cá nhân khi sử dụng các dịch vụ số khiến cho việc theo dõi một trang thông tin không do nhà nước quản lý, hay hơn một chút là bày tỏ ý kiến cả nhân trên không gian mạng cũng trở thành việc nguy hiểm với công dân. Không chỉ trong không gian mạng công cộng, ngay cả trong những liên hệ thân thiết, riêng tư, công dân cũng không thoát khỏi chiếc thòng lọng này. Tâm lý chung là không biết mình có bị theo dõi hay không, sẽ khiến công dân ở trong trạng thái luôn bị theo dõi, dẫn tới không dám bày tỏ, và sẽ quen với việc đó. Điều này vi phạm điều 19 Tuyên ngôn nhân quyền LHQ. Nguy hại là vô cùng lớn. Việc tiếp cận thông tin, tụ họp trở nên khó khăn hơn rất nhiều, nếu không phải là không thể. Những người có suy nghĩ đơn giản là “Mình không làm gì thì không phải sợ”, “hoặc không có thông tin đáng gì nhiều, an ninh có xem cũng được”, về thực chất là đang từ bỏ nhiều quyền con người cơ bản của mình, trong đó có quyền riêng tư và quyền tự do quan niệm và phát biểu quan điểm.

    Về mặt quan điểm, một người có lẽ có quyền chối bỏ quyền con người của mình, dù quyền đó luôn tồn tại, bằng việc chấp nhận Luật ANM. Tuy nhiên, hành vi của người này gây thiệt hại cho rất nhiều người khác. Facebook cho phép một số nhà khoa học thực hiện các nghiên cứu xã hội trên mạng này, trong đó có một người đã phát triển ứng dụng “This is your digital life” để phân tích tâm lý người dùng với một loạt câu hỏi khảo sát. Khoảng 270.000 người trả lời, và khi đồng ý với các điều khoản sử dụng, đã chấp nhận cho ứng dụng thu thập dữ liệu của họ và không chỉ của họ, tức là những người có liên hệ với họ trong mạng xã hội này. 87 triệu, đó là số người dùng bị thu thập thông tin, trong đó chỉ có 270.000 người đồng ý. Dữ liệu này sau đó bị bán cho công ty Cambridge Analytica, và bị sử dụng vào các mục đích chính trị, ví dụ cho chạy các quảng cáo bất lợi cho một ứng cử viên tổng thống một cách có chủ đích tới từng ngừơi dùng cụ thể. Trong trường hợp Việt Nam, việc chính quyền biết được profile tâm lý, thói quen, cá tính của người dùng, có thể giúp các cơ quan tuyên truyền cá nhân hóa thông điệp, bản tin sao cho ảnh hưởng lớn nhất tới quyết định của họ theo khuynh hướng có lợi cho nhà cầm quyền. Những hệ thống số thuần Việt chắc chắn sẽ được dùng cho mục đích này.

    Đây chưa phải là điểm dừng của cuộc cách mạng 4.0. Bước tiếp theo, khi thông tin người dùng đã đủ, không có lý do gì việc áp dụng hệ thống tín nhiệm xã hội Trung Quốc không được áp dụng ở Việt Nam. Dữ liệu người dân sẽ được sử dụng như một công cụ đánh giá. Công dân được đánh giá thấp sẽ bị từ chối rất nhiều dịch vụ cơ bản, như đi máy bay, tàu hỏa (đã áp dụng, với nhiều triệu người bị từ chối dịch vụ), internet tốc độ cao, cơ hội học tập tại những trường học tốt, cơ hội có công việc tốt hay đơn giản là được thuê một phòng khách sạn tốt. Đó là khi sự kiểm soát không gian mạng và không gian thực sẽ hoàn tất. Cuộc cách mạng 4.0 được thực hiện thành công theo ý chí của chính quyền.

    Trên đây liệt kê một nguy cơ do cuộc cách mạng 4.0 mang tới cho Việt Nam. Người viết cho rằng, cuộc cách mạng này mang một màu sắc hoàn toàn chính trị, với các bước thực hiện rất rõ ràng, và được thực hiện rất nhanh. Chỉ cần theo dõi tình hình nguyên mẫu Trung Quốc sát sao, để biết những gì sẽ xảy đến ở Việt Nam trong tương lai gần. Cuộc cách mạng này, không như một số người nghĩ là ảo ảnh, hay khẩu hiệu, mà rất thực, và sẽ tước đoạt những mẩu tự do cuối cùng của người dân Việt Nam.

    [*] Nhật ký Cờ Mờ 4.0: về dự thảo 03/10/2018 hướng dẫn thực thi Luật An ninh mạng https://vnhacker.blogspot.com/2018/10/nhat-ky-co-mo-40-ve-du-thao-03102018.html

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi