Cơ chế kết tội hiện nay lỏng lẻo dễ dãi

  • Bởi Admin
    01/09/2018
    8 phản hồi

    Luật sư Ngô Ngọc Trai

    Bộ luật tố tụng hình sự hiện tại quy định Hội đồng xét xử khi nghị án thì biểu quyết theo đa số về từng vấn đề, người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.

    Câu hỏi đặt ra là tại sao lại chỉ lấy ý kiến đa số mà không đòi hỏi tất cả các thành viên hội đồng xét xử gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đều phải nhất trí 100% về từng vấn đề có tội hay không.

    Phải chăng đây chính là sự lỏng lẻo thiếu chặt chẽ trong việc kết tội là nguyên nhân dẫn đến án oan?

    Vì hãy thử hỏi, vì sao sau khi đã bàn luận cái người thiểu số lại vẫn không đồng ý kết tội như đồng sự? Chắc chắn là phải có điều gì đó khiến người ta nghi ngờ bị cáo bị oan, và đấy chính là mấu chốt của vấn đề.

    Chúng ta biết rằng, bình thường khi một vụ án đã được chuyển sang giai đoạn tòa án thì về cơ bản là người ta đã có những cơ sở để kết tội rồi và được trưng ra dễ nhận thấy. Nhưng cái điểm nghi là vô tội thì lại ẩn dấu kín đáo trong hồ sơ, mà phải có sự sắc bén về chuyên môn hoặc nhãn quan thông thoáng không bị những thành kiến nghề nghiệp che lấp mất mới nhận ra được.

    Cho nên khi đó cái ý kiến của thiểu số mới lại là cái đáng quan tâm chú ý. Và do vậy đòi hỏi cần làm rõ được nghi vấn của người thiểu số, phải giải đáp hết những điểm mù mờ chưa rõ ràng trong vụ án, và chỉ cho phép kết luận có tội khi 100% thành viên Hội đồng xét xử cùng nhất trí bị cáo có tội.

    Đó là cách xét xử đặt ra những đòi hỏi khắt khe cho việc kết tội, bằng cách đó giảm tránh đi oan sai.

    Và theo như tôi tìm hiểu thì dường như đó là lối xét xử theo mô hình Bồi thẩm đoàn của hệ thống Tòa án Mỹ. Với 12 thành viên của Bồi thẩm đoàn được chọn từ những người dân thường, khi biểu quyết phải đủ 12 thành viên đồng ý có tội thì Thẩm phán mới tuyên bị cáo có tội. Chỉ một người không đồng ý kết tội thì sẽ không được tuyên bị cáo có tội.

    (Không rõ nội dung tôi tìm hiểu trên có chính xác 100% hay không, hay là có bang nào ở Mỹ họ không áp dụng, có ai biết xin mời chia sẻ)

    Ở Việt Nam lâu nay việc kết tội lấy theo ý kiến đa số cho nên để ngỏ những vấn đề chưa được làm rõ. Trên thực tế Hội đồng xét xử thường có quan điểm rằng mặc dù còn tồn tại vấn đề này kia nhưng căn cứ vào các tài liệu khác có trong hồ sơ thì có đủ cơ sở để kết tội này nọ.

    Những tình tiết chưa được làm rõ trở thành căn cứ kêu oan, và với sự hợp lý của nó dẫn đến các bản án hay bị hủy bỏ yêu cầu điều tra lại gây ra những vụ án kéo dài.

    Kiểu kết án này hiện nay đang mâu thuẫn với quy định mới là: Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

    Vai trò Hội thẩm

    Sự dễ dãi trong điều kiện kết tội còn thể hiện ở quy định số lượng ít các thành viên Hội đồng xét xử, mà qua đó giảm bớt đi những ý kiến tranh luận bàn cãi nếu có, cái mà nó sẽ có ở số đông và có ích trong việc làm sáng tỏ các vấn đề vụ án.

    Theo Bộ luật tố tụng hình sự hiện tại thì Hội đồng xét xử gồm 1 thẩm phán và 2 hội thẩm nhân dân, vụ việc phức tạp thì 2 thẩm phán và 3 hội thẩm nhân dân.

    Trong khi ở Nhật Bản, nước áp dụng mô hình xét xử thẩm vấn gần gũi với Việt Nam thì Hội đồng xét xử của họ có tới 3 thẩm phán và 6 hội thẩm nhân dân, tổng cộng là 9 người.

    Số lượng đông của Hội đồng xét xử sẽ là một rào cản cho hành vi hối lộ mua chuộc. Và để giữ được tính độc lập của người hội thẩm, các nước họ lựa chọn người bất kỳ trong dân chúng có tính chất luân phiên.

    Trong khi ở Việt Nam các Hội thẩm được Hội đồng nhân dân bầu ra với nhiệm kỳ bằng với nhiệm kỳ Hội đồng nhân dân. Và những người được bầu ra với số lượng giới hạn sẽ tham gia thường xuyên vào các vụ án cho tới hết nhiệm kỳ. Điều này khiến cho các hội thẩm mất đi sự độc lập mà hay bị phụ thuộc chi phối.

    Trong khi bản chất của hoạt động xét xử là phán đoán, mà người ta đã tính toán rằng một người thì có thể phán đoán sai, nhưng nếu kết hợp kết quả phán đoán của nhiều người thì sẽ cho ra kết quả chính xác gần đúng.

    Do vậy cái quan trọng là phải giữ được sự độc lập trong ý chí nhận thức của những người phán đoán. Như hiện nay, yếu tố phụ thuộc làm mất đi vai trò tác dụng của Hội thẩm và số lượng ít làm giảm đi chất lượng của những phán đoán phán quyết.

    Tựu chung lại mô hình xét xử hiện nay tạo ra sự dễ dàng cho những phán quyết mà rồi từ đó nguy cơ gây ra oan sai.

    Từ khóa: Ngô Ngọc Trai

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    8 phản hồi

    Nói đến chuyện luật ở Việt Nam là chuyện chán nhất và cũng là chuyện dễ nổi nóng nhất mà nay người ta hay gọi là chuyện bức xúc nhất, vì sao thế? Vì nước ta là nước như LUẬT GIA NGÔ BÁ THÀNH ĐÃ TỪNG NÓI: Nước ta có một rừng luật nhưng toàn thi hành luật rừng. Có thể nói đó là luật của thằng ăn cướp. Nếu chỉ xết trên văn bản thì cái luật của ta CHỖ THỪA CHỖ THIẾU, CHỖ YẾU, CHỖ SAI, CHỖ MẬP MỜ CHỖ VÔ LÝ. Thế thì làm sao đem luật ta so sánh với luật của những nước văn minh được. Mặt khác còn thấy một điều rõ như ban ngày, ai cũng biết: ĐÓ LÀ LUẬT CỦA TA KHÔNG DO NHỮNG NHÀ LUÂT LÀM RA VÀ CŨNG KHÔNG DO NHỮNG NHÀ LUẬT XÉT XỬ MÀ DO ĐẢNG CS LÀM RA VÀ XÉT XỬ. Xin lấy một thí dụ rất cụ thể ai cũng biết đó là trên danh nghĩa nhà nước ban hành luật chống tham nhũng, có luật công khai tài sản, thế nhưng Đảng ra luật này nhưng Đảng CS có thực hiện đâu? Luật của nước ta như luật ở trên hoang đảo, con người chưa thành người trong xã hội loài người. Vạy muốn có luật cho ra luật như ở những nước văn minh thì phải cải tạo xã hội, nói thẳng ra là dẹp Đảng CS sang một bên, thực hiện dân chủ, quyền lực phải thuộc về nhân dân, thế mới có lẽ phải, thế mới có công bằng, thế mới có bình đẳng, luật phải cho mọi người.
    Ý ở trên thì bác nào nói cũng đúng, nhưng lại quá ra xời với nước ta là nước không có luật mà làm theo nghị quyết của một nhóm người cánh hẩu với nhau tập hợp nhau lại, được mệnh danh là Đảng CS, đòi đè đầu cưỡi cổ người khác, bắt người ta phải suy tôn mình. muốn buộc tội cho ai cũng được, khi không đủ chứng cớ thì lại đùng cảm tính bảo người ta suy thoái tư tưởng cái con khỉ con tiều gì đó.
    Nếu lấy dẫn chững cụ thế trong các phiên tòa xét xử thì nhiều cái hay lắm, hay nhất thế giới, chỉ có thể thấy ở thiên đình hay thấy ở tụi lưu manh, hay chỉ thấy ở nhà nước CS độc tài.

    NGT viết:
    Đúng vậy, khi xét xử một vụ việc liên quan đến các tội danh, trước hết phải trải qua một giai đoạn cứu xét tranh tụng ở một tòa án phòng chuyên trách (ví dụ Chambre de Conseil) vê thủ tục tố tụng cần có và đúng các bước mà ở đó bị cáo (và nạn nhân, công tố) có quyền phản đối nếu có vi phạm quy trình điềù tra, yêu cầù thay đổi thẩm phán điềù tra (juge d'instruction), ngăn cản luật sư, tạm giam quá lâu, tịch thu tang vật không đúng luật, ... Tòa án tối cao Cassation có thể chỉ định một tòa án khác nếu tòa án hiện tại vi phạm thủ tục tố tụng cần có và đúng các bước .

    Và chỉ khi nào không còn vướng mắc thủ tục tố tụng cần có và đúng các bước điều tra, lúc đó mới bắt đầù đưa ra tòa án (phòng khác), xét xử về tội danh. Đối với các tội lớn, lúc này mới có bồi thẩm đoàn (Jurys populaires) tham dự

    Hoàn toàn đồng ý với hai bác NGT và TRÀN HỮU CÁCH về sự quan trọng của thủ tục tố tụng (procedure) và quan điểm "qui trình là công lý." Lý do của quan điểm này là các thủ tục/qui trình được đề ra để bảo đảm sự công bằng trong việc xét xử.

    Tại Hoa Kỳ, sự quan trọng của thủ tục/qui trình được thể hiện bằng sự qui định ngay trong hiến pháp, ngắn gọn để mọi công dân đều có thể biết và bào vệ quyền lợi của mình (luật tố tụng chỉ qui định thêm các chi tiết về việc thi hành các quyền hiến đinh). Thí dụ:
    1. Tu Chính Án số 4 (the Fourth Amendment): quyền không bị bắt giữ và lục soát một cách bất hợp lý; lệnh bắt phải căn cứ trên bằng cớ chính đáng (probable cause).
    2. Tu Chính Án số 5 (the Fifth Amendment): quyền ra trước đại bồi thẩm đoàn (grand jury - kết tội, indictment), quyền không bị xét xử nhiều lần cho một tội (double jeopardy), quyền được giữ im lặng (against self incrimination), quyền được xét xử công bằng (due process of law).
    3. Tu Chính Án số 6 (Sixth Amendment): Quyền được xét xử nhanh chóng (speedy trial), quyền được đại diện bởi luật sư (represented), và quyền được xử bởi bồi thầm đoàn (jury trial).
    4. Tu Chính Án số 8 (Eighth Amendment): quyền không phải đóng tiền tại ngoại quá cao (no exessive bail), không phải đóng tiền phạt quá mức (no excessive fines), và không phải chịu hình phạt bất thường và tàn ác (no unusual and cruel punishment).

    Một điểm đặc biệt nữa trong luật hình sự ở Hoa Kỳ là không có kháng cáo về nội dung (substance - có tội hay không) mà chỉ có kháng cáo về thủ tục/qui trình, tức là kháng cáo về các vi phạm quyền hiến định. Qui định này phù hợp với nguyên tắc không bị xét xừ về nội dung quá một lần về một tội.

    Trong suốt thời gian xét xử một vụ hình sự, luật sư của bị cáo có thể thảo luận nhiều lần với công tố về các bước phải theo để thực hiện quyền hiến định của bị cáo được xử theo thủ tục công bằng (due process of law). Nếu bị kết án (found guilty), một bị cáo có thể kháng cáo tối đa 5 lần (thượng thẩm tiểu bang, tối cao tiểu bang, sơ thẩm liên bang, thựơng thẩm liên bang, và tối cao pháp viện liên bang) nếu cho rằng có những vi phạm quyền hiến định của bị cáo về qui trình khiến việc xét xử không được công bằng. Nếu toà cấp trên đồng ý với kháng cáo (về qui trình) của bị cáo, nội vụ có thể được xử lại, hay bị cáo có thể được tha vì lý do kỹ thuật (acquitted due to technicality). Ở đây, tha không phải vì không có tội mà chì vì bị cáo đã không được xét xử công bằng (violation of due process). Điều này chứng tỏ quan điểm hết sức coi trọng thủ tục của tư pháp Hoa Kỳ.

    TRẦN hỮU CÁCH viết:
    Đến bao giờ ngành tư pháp Việt Nam mới chịu tìm tòi để áp dụng những quan niệm mới nhất về thực thi công lý? Và đến bao giờ họ mới thoát khỏi số phận làm công cụ trong hệ thống cai trị theo thiết kế của đảng cộng sản?

    Hoạt động xét xử của toà án ở nước CHXHCNVN đặt dưới sự chỉ đạo của đảng CSVN theo chính sách đảng lãnh đạo và mục đích là để phục vụ quyền lợi độc tôn của đảng CSVN. Do đó, đảng (đại diện bởi các bí thư chi bộ xã, huyện, tỉnh, thành phố cùng các uỳ viên trung ương và thành viên bộ chính trị) quyết định cách xử án và kết quả xử án. Quan toà và ngay cả kiểm sát cũng chỉ là bù nhìn thôi.

    Chỉ khi nào không còn chế độ độc tôn đảng trị thì toà án ở VN mới hy vọng có được sự độc lập để làm đúng chức năng thực thi công lý.

    Thanks bác Ngự đã giai thích về bồi thẩm đoàn (Jury trial hay tried by your peers).

    Đồng ý với bức xúc, trăn trở và đòì hỏi của bác TRẦN H. CÁCH và của tất cả các công dân khác, về việc " Đến bao giờ ngành tư pháp Việt Nam mới chịu tìm tòi để áp dụng những quan niệm mới nhất về thực thi công lý? Và đến bao giờ họ mới thoát khỏi số phận làm công cụ trong hệ thống cai trị theo thiết kế của đảng cộng sản? "

    " Tòa án ở một số nước Tây phương đi theo học thuyết quy trình chính là công lý. Tức là, bị cáo được hưởng công lý khi được trải qua thủ tục tố tụng cần có và đúng các bước. Quan tòa bảo đảm mọi bước trong quy trình xét xử được thực hiện đúng luật tắc, ..."

    Đúng vậy, khi xét xử một vụ việc liên quan đến các tội danh, trước hết phải trải qua một giai đoạn cứu xét tranh tụng ở một tòa án phòng chuyên trách (ví dụ Chambre de Conseil) vê thủ tục tố tụng cần có và đúng các bước mà ở đó bị cáo (và nạn nhân, công tố) có quyền phản đối nếu có vi phạm quy trình điềù tra, yêu cầù thay đổi thẩm phán điềù tra (juge d'instruction), ngăn cản luật sư, tạm giam quá lâu, tịch thu tang vật không đúng luật, ... Tòa án tối cao Cassation có thể chỉ định một tòa án khác nếu tòa án hiện tại vi phạm thủ tục tố tụng cần có và đúng các bước .

    Và chỉ khi nào không còn vướng mắc thủ tục tố tụng cần có và đúng các bước điều tra, lúc đó mới bắt đầù đưa ra tòa án (phòng khác), xét xử về tội danh. Đối với các tội lớn, lúc này mới có bồi thẩm đoàn (Jurys populaires) tham dự

    https://www.dictionnaire-juridique.com/definition/chambre-du-conseil.php

    Quan điểm "nhiều người thì phán đoán gần đúng" thật ra dựa trên kiểu tư duy cổ về thực thi công lý.

    Tòa án ở một số nước Tây phương đi theo học thuyết quy trình chính là công lý. Tức là, bị cáo được hưởng công lý khi được trải qua thủ tục tố tụng cần có và đúng các bước. Quan tòa bảo đảm mọi bước trong quy trình xét xử được thực hiện đúng luật tắc, chứ quan tòa không có trách nhiệm phải nâng cao thành tích "xử đúng người, đúng tội" của riêng mình. Do đó, trong phòng xử, quan tòa thường hủy vụ án khi thấy cảnh sát sai sót trong cuộc điều tra. Quan tòa cũng có thể bác bỏ yêu cầu của bên công tố được đưa ra những bằng chứng hay nhân chứng không thích hợp.

    Đó là cách hành xử của loại quan tòa độc lập với ngành công an. Còn các quan tòa ở Việt Nam nghe lệnh của công an! Thậm chí cách đây ít lâu ngành tòa án còn xin xỏ đảng đừng đưa công an vào ngồi trong phòng xử ghi chép các phát biểu của quan tòa và thành viên hội đồng xét xử để sau này hạch tội họ. Nếu tôi nhớ không lầm thì bản tin ấy nói về "quyền miễn tố của thẩm phán đối với các phát biểu trong phiên xử".

    Đến bao giờ ngành tư pháp Việt Nam mới chịu tìm tòi để áp dụng những quan niệm mới nhất về thực thi công lý? Và đến bao giờ họ mới thoát khỏi số phận làm công cụ trong hệ thống cai trị theo thiết kế của đảng cộng sản?

    NGT viết:
    " Và theo như tôi tìm hiểu thì dường như đó là lối xét xử theo mô hình Bồi thẩm đoàn của hệ thống Tòa án Mỹ. Với 12 thành viên của Bồi thẩm đoàn được chọn từ những người dân thường, khi biểu quyết phải đủ 12 thành viên đồng ý có tội thì Thẩm phán mới tuyên bị cáo có tội. Chỉ một người không đồng ý kết tội thì sẽ không được tuyên bị cáo có tội. "
    (Không rõ nội dung tôi tìm hiểu trên có chính xác 100% hay không, hay là có bang nào ở Mỹ họ không áp dụng, có ai biết xin mời chia sẻ)

    Bác Ngự và các bác ở Mỹ có thể cho ý kiến góp ý chăng ?

    Xin có ý kiến với bác NGT như sau:
    1. Xét xừ bởi bồi thẩm đoàn (Jury trial hay tried by your peers) là một quyền hiến định. Tuy nhiên ai cũng có thể từ chối quyền này và xin được xử bởi quan toà (bench trial). Trong trường hơp có 3 quan toà trở lên (toà thượng thầm hay tối cao pháp viện), số votes của quan toà là đa số.

    2. Trong trường họp xử dụng bồi thầm đoàn, thì tuỳ theo vụ hình sự hay dân sự, ổ cấp liên bang hay tiểu bang, và mức độ nghiêm trọng của vụ án mà thành phần của bồi thầm đoàn có thể là 6 hay 12 người.

    3. Về vấn đề 100% thì toà liên bang đòi hỏi 100% votes của bồi thẩm đoàn, nhưng toà tiểu bang không luôn luôn đòi hỏi phải có 100% votes. Trong các vụ hình sự thì hầu như các toà tiểu bang đòi hỏi 100% votes, nhưng trong các vụ dân sự thì 1/3 các toà tiểu bang chỉ đòi đa số votes.

    4. Khi luật đòi hỏi 100% đồng thuận mà bồi thẩm đoàn không thể đạt được thoà thuận 100% thì kết quả của vụ xử gọi là "hung jury" hay "mistrial" và vụ việc sẽ được xử lại (có thể sẽ chọn một bồi thẩm đoàn khác).
    Xem thêm ở đây:
    https://litigation.findlaw.com/legal-system/must-all-jury-verdicts-be-unanimous.html

    Nhân đây, tôi xin có ý kiến về một vài quan điểm của LS Ngô Ngọc Trai trong bài viết.

    Ngô Ngọc Trai viết:
    Chúng ta biết rằng, bình thường khi một vụ án đã được chuyển sang giai đoạn tòa án thì về cơ bản là người ta đã có những cơ sở để kết tội rồi và được trưng ra dễ nhận thấy. Nhưng cái điểm nghi là vô tội thì lại ẩn dấu kín đáo trong hồ sơ, mà phải có sự sắc bén về chuyên môn hoặc nhãn quan thông thoáng không bị những thành kiến nghề nghiệp che lấp mất mới nhận ra được.

    Quan điểm trong đoạn bội đậm trái với nguyên tắc suy đoán vô tội. Trên thực tế, các "cơ sở để có thể kết tội" chỉ thể hiện quan điểm của bên công tố. Trên nguyên tắc, chính quyền, đại diện bời công tố, có trách nhiệm đưa ra bằng chứng có tội và bị cáo có quyền phản bác. Trong thực tế, nhiều công tố nguỵ tạo bằng chứng với mục đích để có thể kết án vá kết thức vụ án nhanh chóng. Các luật sư giỏi và tận tuỵ đã rất nhiều lần đánh bại các "cơ cở để kết tội" do bên công tố đưa ra, giúp thân chủ được tha bổng (acquitted do không đủ chứng cớ kết án) hay được coi là vô tội (innocent).

    Tên tác giả viết:
    Ở vài nước như Pháp, ... các "tội lớn" thì mới có jurys populaires, chọn lựa bốc thăm từ người dân từ 23 tuổi trở lên.
    Có nhiều ý kiến phản đối cho rằng jury thì không chuyên nghiệp và dễ bị sao động qua báo chí, ... cho nên họ không hoàn toàn "độc lập"

    Tôi phần nào đồng ý với ý kiến phản đối, nhất là do cách chọn bồi thầm đoàn ở Mỹ. Tôi nghĩ rằng jury chỉ nên hỗ trợ trong việc quyết dịnh hình phạt nếu bị kết án (thể hiện ý kiến của công dân đối với tội ác).
    Lúc này đã khuya nên để khi khác tôi sẽ kể về việc tôi mới được gọi đi làm Jury và cách thức chọn jury ở Mỹ.

    Ở vài nước như Pháp, ... các "tội lớn" thì mới có jurys populaires, chọn lựa bốc thăm từ người dân từ 23 tuổi trở lên.
    Có nhiều ý kiến phản đối cho rằng jury thì không chuyên nghiệp và dễ bị sao động qua báo chí, ... cho nên họ không hoàn toàn "độc lập"

    " Và theo như tôi tìm hiểu thì dường như đó là lối xét xử theo mô hình Bồi thẩm đoàn của hệ thống Tòa án Mỹ. Với 12 thành viên của Bồi thẩm đoàn được chọn từ những người dân thường, khi biểu quyết phải đủ 12 thành viên đồng ý có tội thì Thẩm phán mới tuyên bị cáo có tội. Chỉ một người không đồng ý kết tội thì sẽ không được tuyên bị cáo có tội. "
    (Không rõ nội dung tôi tìm hiểu trên có chính xác 100% hay không, hay là có bang nào ở Mỹ họ không áp dụng, có ai biết xin mời chia sẻ)

    Bác Ngự và các bác ở Mỹ có thể cho ý kiến góp ý chăng ?