Quyền Lực Và Hành Vi Sai Trái Về Tình Dục (3)

  • Bởi Admin
    05/08/2018
    0 phản hồi

    Trần Thị Ngự

    Yếu Tố Xã Hội Dung Dưỡng Các Hành Vi Tình Dục Sai Trái

    Cá nhân thực hiện các hành vi sai trái về tình dục và phải chịu trách nhiệm về các hành vi của họ. Tuy nhiên, có nhiều yếu tố ngoài cá nhân đóng góp vào việc dung dưỡng các hành vi này.

    Bất Bình Đẳng Giới

    Có sự liên hệ mật thiết giữa bất bình đẳng giới và quấy nhiễu tình dục tại nơi làm việc (workplace sexual harassment). Bất bình đẳng giới đưa đến nhiều thua thiệt cho nữ giới, trong đó thua thiệt về phương diện tài chính và việc làm. Nếu đi làm, nữ giới thường giữ chức vụ thấp hơn so với nam giới, và thường phải lệ thuộc vào quyền lực của nam giới trong tuyển dụng, lưu dụng hay thăng tiến. Các sự lệ thuộc kể trên giúp bổ xung thêm sức mạnh kinh tế cho các đòi hỏi về tình dục của cấp chỉ huy. Chúng tước đọat an toàn vật chất và sự độc lập của phụ nữ, vốn có thể giúp họ phản kháng các đòi hỏi hay các áp lực bất hợp lý tại nơi làm việc. (21)

    Thành Kiến Xã Hội Về Nam và Nữ (Gender-based stereotypes)

    Thành kiến về tương tác trong tình dục (sexual interactions), vốn hình thành từ quan điểm truyền thống về nam và nữ, cho rằng nam giới phải năng động và chủ động, và nữ giới phải thụ động và khiêm tốn. Do đó, việc một người nam đòi hỏi hay mời gọi tình dục ở một người nữ được cho là bình thường. Thành kiến về sự tương tác trong tình dục còn tạo huyền thoại về hiếp dâm (rape myths) và huyền thoại về quấy nhiễu tình dục (sexual harassment myths) vốn cho rằng phụ nữ muốn được hiếp dâm, muốn được mời gọi tình dục bởi vì họ cũng ham muốn tình dục nhưng e thẹn không nói ra. Các huyền thoại này khiến các thủ phạm phớt lờ sự phản đối của nạn nhân và dùng chúng để biện minh cho những hành vi tình dục sai trái. (22)

    Thành kiến xã hội về chuẩn mực cho các hành vi của nam và nữ có thể đưa đến việc diễn giải sai (misinterpretation) thái độ và hành vi của phụ nữ và được dùng để bào chữa cho các hành vi tình dục sai trái. Vì quan niệm truyền thống về phụ nữ nhấn mạnh tính dịu dàng, khiêm tốn và kín đáo, những phụ nữ có tính năng nổ và chủ động trong giao tiếp, hay ăn mặc không kín đáo có thể bị diễn giải sai là có ý mời gọi tình dục. Một số thủ phạm của các hành vi tình dục sai trái quan niệm rằng những phụ nữ ăn mặc khiêu gợi xứng đáng là đối tượng của các hành vi tấn công tình dục. (23)

    Thành kiến xã hội về chuẩn mực cho chức năng và hành vi của nam và nữ cũng là yếu tố đóng góp vào tình trạng phổ biến của quấy nhiễu tình dục (workplace sexual harassment) trong quân đội, cảnh sát và các ngành khoa học kỹ thuật (STEM: Science, Technology, Engineer & Math) Những ngành nghề này trước đây được coi là ngành nghề của nam giới. Do ảnh hưởng của phong trào bình đẳng giới, nữ giới bằt đầu tham gia các ngành nghề này và nhiều người đã phải hứng chịu các hành vi sách nhiễu tình dục từ các đồng nghiệp hay cấp chỉ huy nam giới. Trong các trường hợp kể trên, quấy nhiễu tình dục (tại nơi làm việc) được coi là phản ứng tiêu cực trước sự xâm nhập của nữ giới vào các lãnh vực truyền thống của nam giới, khiến địa vị độc tôn của nam giới trong những ngành nghề này bị đe dọa. Chúng tạo ra môi trường thù địch (hostile environment) đối với nhiều phụ nữ khiến họ phải nghỉ việc. (24) Báo cáo thường niên của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho biết có gần 7 ngàn khai báo về tấn công tình dục trong quân đội trong năm 2017. (25) Trong thực tế, các trường hợp tấn công tình dục trong quân đội có thể còn cao hơn nhiều vì các nạn nhân của tấn công tình dục thường không khai báo. Trong khi đó khoảng 50% nữ cảnh sát ở Hoa Kỳ, Úc và Vương Quốc Anh từng là nạn nhân của sách nhiễu tình dục tại nơi làm việc. (26) Phụ nữ làm việc trong lãnh vực khoa học kỹ thuật, vốn được coi là lãnh vực của nam giới trước đây, có tỷ lệ bị quấy nhiễu tình dục cao hơn so với phụ nữ làm việc trong các lãnh vực khác. (27)

    Thành kiến xã hội về nam và nữ được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác qua việc dạy dỗ trong gia đình cũng như giáo dục trong trường học. Cho đến ngày nay trong nhiều gia đình, con trai và con gái vẫn được dạy dỗ theo hai cách khác nhau: con gái phải ăn nói dịu dàng, đi đứng nhẹ nhàng khép nép, biết chăm lo việc nhà và giữ gìn trinh tiết (sexual purity). Tập tục “công, dung, ngôn, hạnh” xuất phát từ Trung Hoa thời phong kiến, nhưng những tập quán tương tự được áp dụng cho phụ nữ hiện nay ở cả những quốc gia không hề chịu ảnh hưởng của Khổng Giáo. Trái lại, con trai được coi là phải năng nổ và mạnh dạn. Câu nói “con trai không khóc” (boys don’t cry) là để ám chỉ tính cứng rắn của nam giới, và câu “con trai sẽ vẫn là con trai” (“boys will be boys”) được dùng để giải thích hay biện minh cho các hành vi mạo hiểm hay bạo lực của con trai. Hơn nữa, nhiều bậc cha mẹ cũng không quan tâm nhiều đến “trinh tiết” của con trai như đối với con gái, một phần cho rằng bởi vì con trai không mang bầu.

    Nguyên tắc bình đẳng giới được nhiều quốc gia phát triển áp dụng trong giáo dục, nhưng trong thực tế vẫn có sự đối xử khác biệt giữa nam sinh va nữ sinh dựa trên thành kiến xã hội về nam và nữ. Có trường phổ thông ở Hoa Kỳ từng kiểm tra đồ lót của nữ sinh để xem có đúng với nội qui về đồng phục của trường trong khi nam sinh không bị kiểm tra. (28) Tình trạng quấy nhiễu tình dục bởi học sinh cùng trường, bao gồm những lời trêu chọc mang tính tình dục hay sờ mó ngoài ý muốn khá phổ biến trong các trường phổ thông. Khoảng 1/3 học sinh từng bị quấy nhiễu tình dục tại trường học, nhưng nhân viên nhà trường thường không can thiệp vì cho rằng đó là những cử chỉ bình thường của học sinh. (29) Việc bất can thiệp từ trường học giúp củng cố quan điểm coi các hành vi sai trái về tình dục là bình thường.

    Luật Pháp và Hệ Thống Tòa Án

    Luật pháp và hệ thống toà án từng đóng góp vào việc duy trì các hành vi tình dục sai trái. Trước thập kỷ 1970s, luật và các thủ tục tố tụng về hiếp dâm ở Hoa Kỳ, vốn bị ảnh hưởng bởi quan điểm truyền thống về nam và nữ, đã gây nhiều khó khăn cho việc truy tố và kết án. Luật pháp đòi hỏi công tố phải đưa ra được bằng chứng xác nhận lời khai của nhân chứng ( nạn nhân) là chính xác. Việc đòi này không áp dụng cho các vụ hình sự khác, mà chỉ áp dụng cho các vụ hãm hiếp, vì luật pháp cho rằng phụ nữ có thể nói dối bị hãm hiếp để giải thích việc mang bầu ngoài hôn thú hay để trả thù người tình cũ. (30) Việc đòi hỏi công tố phải xác nhận lời khai của nhân chứng (nạn nhân) là chính xác gây khó khăn cho công tố, đưa đến nhiều trường hợp hiếp dâm không bị truy tố dù nạn nhân có khai báo.

    Luật pháp định nghĩa hiếp dâm xảy ra khi thủ phạm dùng vũ lực (force) để giao cấu và không có sự đồng ý của nạn nhân. Tuy nhiên, luật đòi hỏi công tố phải chứng minh nhân chứng (nạn nhân) đã chống trả kẻ tấn công kịch liệt hơn những gì mong đợi nơi nạn nhân của các trường hợp bạo lực khác. Đây là điều bất công đối với nạn nhân của các vụ hiếp dâm vì đã không kể đến những trường hợp nạn nhân bị đe doạ bằng vũ khí hay về tâm lý.

    Trong phiên xử, quan tòa thường lưu ý các bồi thẩm là tố cáo hiếp dâm thì dễ, nhưng rất khó cho bị cáo cãi lại mặc dù bị cáo vô tội. (31) Việc lưu ý này có tính thiên vị cho bị cáo vì đã đặt ra nhiều ngờ vực trong suy nghĩ của các bồi thẩm làm họ ngần ngại kết án. Ngoài ra, toà cho phép bị cáo đưa ra các thông tin về liên hệ tình dục trước đây của nạn nhân. Những thông tin này được dùng để đặt dấu hỏi về đức hạnh cũng như lời khai của nạn nhân và để chứng minh có sự đồng thuận. Do xã hội quan niệm trinh tiết là một đức hạnh nên những phụ nữ từng có tiền sử về tình dục ngoài hôn nhân được coi là dễ đồng ý quan hệ tình dục với bị cáo. (32)

    Sau thập kỷ 1970s, với sự tranh đấu của phong trào nữ quyền, các bang ở Hoa Kỳ đã thay đổi luật về hiếp dâm. Luật mới định nghĩa hiếp dâm là một hình thức tấn công tình dục (sexual assault) để nhấn mạnh quan điểm coi hiếp dâm là hành vi bạo lực chứ không phải là tội ác xảy ra do không kiềm chế được đam mê dục vọng. Việc thay đổi định nghĩa nhằm giảm bớt tầm quan trọng của việc đòi hỏi yếu tố “đồng thuận” vì không ai có thể “đồng ý” để bị “tấn công.” Các luật mới cũng có chủ đích xóa bỏ các qui định cũ về bằng chứng từng gây ra khó khăn cho việc truy tố và kết án thủ phạm. Đồng thời, luật mới giới hạn việc chấp nhận những bằng chứng về các quan hệ tình dục trước đây của nhân chứng (nạn nhân). (33)

    Luật đã thay đổi trên giấy tờ nhưng nhân viên ngành tư pháp và toà án đã không luôn chấp hành luật mới mà nhiều khi vẫn hành xử theo thành kiến về nam và nữ hay thành kiến về hiếp dâm (thí dụ, phụ nữ bị hiếp dâm là do uống rượu say hay ăn mặc khiêu gợi). Nhiều nhân viên điều tra tỏ ra thờ ơ khi trông thấy bề ngoài của người trình báo bị hiếp dâm không phù hợp với quan điểm của họ về “phụ nữ đứng đắn.” Nhân viên điều tra này có thể đặt ra những câu hỏi về tác phong và tư cách khiến nạn nhân cảm thấy bị xúc phạm và cho rằng nhân viên điều tra không tin tưởng vào lời khai của mình. Ngoài ra, vì đa số nhân viên điều tra là nam giới, trong khi đa số nạn nhân của hiếp dâm là nữ giới, nhiều nạn nhân cảm thấy không thoải mái khi phải kể lại nhiều lần những gì đã xảy ra với nhân viên điều tra (nam giới).

    Khi tòa cần xác định các quan hệ tình dục trước đây của nạn nhân, các yêu cầu xử kín của nạn nhân thường không được chấp thuận. (34) Khi nạn nhân bỏ cuộc vì không muốn phơi bày trước công chúng chuyện riêng tư cá nhân, điều đó cũng có nghĩa là phần buộc tội của công tố bị xem là không có căn cứ, và kết quả là thủ phạm thoát vòng pháp luật. Ngoài ra, toà có khi chấp thuận cho luật sư của bị cáo được đặt những câu hỏi nhầm gợi ý với bồi thẩm đoàn là nạn nhân có lỗi theo các thành kiến về hiếp dâm, thí dụ nạn nhân ăn mặc thế nào, có uống rượu hôm xảy ra sự việc không, tại sao lại quyết định vào căn hộ của bị cáo trong buổi tối khi biết chỉ có người này ở đó, v.v. (35)

    Những cách làm việc của ngành tư pháp và toà án như trình bày ở trên đã khiến nhiều nạn nhân nản lòng, không trình báo tội ác hiếp dâm vì họ cho rằng việc trình báo sẽ chẳng đi đến đâu, trong khi họ có thể bị thủ phạm trả thù, hay họ có thể bị xúc phạm thêm lần nữa (second victimization) bởi nhân viên điều tra và toà án. Thực tế cho thấy, tấn công tình dục là tội phạm ít khi được trình báo. Tại Hoa Kỳ, chỉ có dưới 30% các vụ tấn công tình dục được trình báo với cơ quan có thẩm quyền. (36) Khi thủ phạm là người trong gia đình thì gần như không có trình báo. Ngoài ra các nạn nhân cũng thường giữ kín việc bị lạm dụng hay bị tấn công tình dục với người thân hay bạn bè, nhiều phần do xấu hổ. Tuy nhiên khuynh hướng trình báo có thể thay đổi với phong trào MeToo gần đây.

    (Còn tiếp)

    Chú Thích

    21. Catherine MacKinnon. Sexual Harassment of Working Women. Yale University Press, 1979.

    22. R. Berger, M. Free, Jr and P. Searles. Crime, Justice and Society: An Introduction to Criminology. Lynne Rienner, 2009.

    23. Xem chú thích 22

    24. W. Petrocelli and B. K. Repa. Sexual Harassment on the Job, 4th Edition. Nolo, 1998.

    25. https://www.defense.gov/News/Article/Article/1508127/dod-releases-annual-report-on-sexual-assault-in-military/

    26. https://lawenforcementlearning.com/course/sexual-harassment-in-the-workplace/

    27. https://www.nap.edu/resource/24994/Sexual%20Harassment%20of%20Women%20ReportHighlights.pdf

    28. https://www.nytimes.com/2002/05/01/education/parents-outraged-at-official-who-checked-girls-underwear.html

    29. https://well.blogs.nytimes.com/2008/05/01/sexual-harassment-at-school/

    30. Xem chú thích 22

    31. http://www.d.umn.edu/cla/faculty/jhamlin/3925/Readings/RapeLawEffects.html

    32. Xem chú thích 31

    33. Xem chú thích 22

    34. Xem chú thích 22

    35. Xem chú thích 31

    36. https://www.rainn.org/statistics/criminal-justice-system

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi