Trung Quốc làm thế nào để Sri Lanca mất hải cảng?

  • Bởi Admin
    29/06/2018
    0 phản hồi

    Maria Abi-Habib
    Cymbidium chuyển ngữ

    ports-945.png
    Theo điều tra của tờ New York Times, Trung Quốc tài trợ phía đằng sau cho 35 cảng biển trên toàn thế giới trong 10 năm qua.

    Hambantota, Sri Lanka – Mỗi khi Mahinda Rajapaksa, tổng thống Sri Lanka, quay sang đồng minh Trung Quốc xin mượn tiền và hỗ trợ một dự án hải cảng đầy tham vọng, câu trả lời là sẵn sàng.

    Sẵn sàng, mặc dù nghiên cứu khả thi cho biết hải cảng sẽ không đi đến đâu, dù các chủ nợ khác như Ấn Độ đã từ chối, và dù Sri Lanka nợ như chúa chổm dưới thời ông Rajapaksa.

    Theo như ước đoán, dù trải qua nhiều năm xây cất và tái đàm phán với China Harbor Engineering Company, một trong những doanh nghiệp nhà nước lớn nhất của Bắc Kinh, Dự Án Phát Triển Hải Cảng Hambantota là một thất bại nổi bật. Với hàng chục ngàn thương thuyền qua lại một trong những hải hành bận rộn nhất thế giới, chỉ có 34 tàu ghé hải cảng này trong năm 2012.

    Và sau đó, hải cảng rơi vào tay Trung Quốc.

    Ông Rajapaksa đã thất cử vào năm 2015 nhưng chính phủ sau đó của Sri Lanka đã chật vật để cố gắng thanh toán các món nợ ông đã mượn. Dưới áp lực nặng nề và sau những tháng đàm phán với Trung Quốc, vào tháng Chạp năm 2017, chính phủ Sri Lanka giao hải cảng và 15.000 mẫu đất chung quanh cho Trung Quốc trong thời hạn 99 năm.

    Việc chuyển giao hải cảng đã cống hiến cho Trung Quốc quyền kiểm soát một lãnh thổ chỉ vài trăm dặm ngoài khơi Ấn Độ, một đối thủ của Trung Quốc, và một vị trí chiến lược ngay bên cạnh một hải hành thương mại và quân sự tối quan trọng.

    Đây là một trong những ví dụ sinh động nhất của Trung Quốc trong thâm ý sử dụng các khoản vay và viện trợ để gây ảnh hưởng trên toàn thế giới - và họ sẵn sàng dở trò cứng rắn để chiếm ảnh hưởng này.

    Thỏa thuận trả nợ cũng làm gia tăng chỉ trích gay gắt nhất về Chương trình Vành đai và Xa lộ của Tổng thống Tập Cận Bình cho rằng đầu tư toàn cầu và chương trình cho vay của Trung Quốc chỉ là cái bẫy nợ cho các quốc gia bấp bênh trên khắp thế giới, và nguyên nhân cho các hành vi tham nhũng và độc tài trong các quốc gia còn kém cỏi.


    Cựu tổng thống Sri Lanka, ông Mahinda Rajapaksa, ngồi giữa, đang tham dự một đám cưới ở Colombo vào tháng 6. Ảnh: Adam Dean / The New York Times.

    Những tháng phỏng vấn các quan chức người Sri Lanka, Ấn Độ, Trung Quốc và Tây phương và nghiên cứu các tài liệu và thỏa thuận từ dự án hải cảng này đã vạch trần phương cách Trung Quốc và các công ty quốc doanh bảo vệ quyền lợi của họ ra sao trong một tiểu quốc đói khát ngoại tệ.

    • Trong cuộc bầu cử năm 2015 ở Sri Lanka, số tiền lớn từ quỹ xây dựng cảng Trung Quốc đã được trực tiếp chuyển sang các phụ tá và hoạt động tranh cử của ông Rajapaksa, người đã luôn nhượng bộ các đòi hỏi của Trung Quốc và được xem như một đồng minh quan trọng trong nỗ lực của Trung Quốc làm giảm ảnh hưởng Ấn Độ ở Nam Á. Các khoản thanh toán đã được kiểm chứng qua các tài liệu và chi phiếu tiền mặt được liệt kê trong một cuộc điều tra của chính phủ mà báo The New York Times đã đọc được.

    • Mặc dù chính quyền và các nhà phân tích Trung Quốc nhấn mạnh rằng lợi ích của Trung Quốc trong Hải cảng Hambantota hoàn toàn là thương mại, các quan chức Sri Lanka lại nói rằng ngay từ đầu, khả năng do thám và chiến lược của vị trí cảng là một phần của các cuộc đàm phán.

    • Các điều kiện vay vừa phải lúc ban đầu cho dự án cảng trở nên khó khăn hơn khi các quan chức Sri Lanka xin gia hạn trả nợ và mượn thêm tiền. Và trong những năm gần đây khi các quan chức Sri Lanka trở nên tuyệt vọng trong nỗ lực cố gắng giảm nợ, những yêu sách của Trung Quốc đều nhắm vào việc bàn giao quyền sở hữu của hải cảng thay vì giảm nhẹ các điều kiện vay.

    • Mặc dù thỏa thuận đã xóa khoảng 1 tỷ đô la tiền nợ cho dự án cảng, Sri Lanka hiện đang nợ Trung Quốc nhiều hơn bao giờ hết vì các khoản vay khác vẫn tiếp tục gia tăng và lãi suất vẫn cao hơn nhiều so với các nhà vay quốc tế khác.

    Để viết bài này, tác giả liên lạc với ông Rajapaksa và các phụ tá của ông nhưng họ đã từ chối nhiều yêu cầu bình luận trong nhiều tháng qua. Các viên chức của China Harbor cũng không bình luận gì.

    Ước đoán của Bộ Tài chính Sri Lanka cho thấy một bức tranh ảm đạm. Năm nay, chính phủ dự kiến sẽ tạo ra 14,8 tỷ USD doanh thu, nhưng lịch trình trả nợ cho một loạt các chủ nợ trên toàn thế giới lên tới 12,3 tỷ USD.

    Theo Brahma Chellaney, một phân tích gia thường tư vấn cho chính phủ Ấn Độ và làm trong Trung tâm Nghiên cứu Chính sách, một think tank ở New Delhi, John Adams tuyên bố một câu bất hủ rằng cách để xâm chiếm một quốc gia là bằng lưỡi kiếm hoặc nợ nần.

    Mặc dù hợp đồng thuê cấm hoạt động quân sự, trừ khi Sri Lanka cho phép, Chính phủ Ấn Độ đặc biệt lo ngại rằng Sri Lanka đang vô cùng chật vật trả nợ đến độ chính phủ Trung Quốc có thể nhử con mồi xóa nợ trước mũi để đổi lấy việc sử dụng những hạ tầng cơ sở như cảng Hambantota cho mục đích quân sự.

    Khi cảng Hambantota đang được xây, Shivshankar Menon, từng là bộ trưởng ngoại giao và cố vấn an ninh quốc gia của Ấn Độ tuyên bố "Chỉ có một cách duy nhất để biện minh cho việc đầu tư vào Hambantota là từ quan điểm an ninh quốc gia - họ sẽ mang Quân đội Giải phóng Nhân dân đến."

    Một đồng minh bận bịu

    Mối quan hệ bình thường giữa Trung Quốc và Sri Lanka đã đã có từ lâu khi Sri Lanka sớm công nhận chính phủ Cộng sản Mao sau cuộc Cách mạng Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc đã trở thành một đồng minh không thể thiếu của Sri Lanka trong cuộc nội chiến tàn bạo kéo dài 26 năm mới đây của Sri Lanka với những người ly khai dân tộc Tamil.

    Ông Rajapaksa, trúng cử vào năm 2005 và làm tổng thống trong những năm cuối của cuộc chiến khi Sri Lanka ngày càng bị cô lập bởi những cáo buộc vi phạm nhân quyền. Dưới thời ông, Sri Lanka phụ thuộc rất nhiều vào Trung Quốc để hỗ trợ kinh tế, thiết bị quân sự và che trở chính trị tại Liên hợp quốc để ngăn chặn các tiềm năng bị trừng phạt.

    Cuộc chiến kết thúc vào năm 2009, và khi đất nước vươn lên từ sự hỗn loạn, ông Rajapaksa và gia đình đã cấu kết tổ chức cai trị của họ. Ở đỉnh cao nhiệm kỳ, tổng thống Rajapaksa và ba em của ông đã kiểm soát nhiều bộ trong chính phủ và khoảng 80% tổng chi tiêu của chính phủ. Các chính phủ nước ngoài như Trung Quốc đã đàm phán trực tiếp với họ.

    Vì vậy, khi tổng thống Rajapaksa bắt đầu gợi ý một dự án phát triển cảng mới vĩ đại tại Hambantota, quê yên ắng của ông, một vài rào cản cho dự án đã tỏ ra không ăn thua gì.

    Ngay từ đầu, các quan chức đã đặt câu hỏi về cái khôn ngoan để có một cảng lớn thứ hai ở một nước có diện tích bằng một phần tư Anh Quốc với dân số 22 triệu người, trong khi cảng chính ở thủ đô Colombo đang phát triển mạnh và còn chỗ để bành trướng. Các nghiên cứu khả thi do chính phủ ủy nhiệm đã kết luận rõ ràng rằng một cảng ở Hambantota không khả thi về mặt kinh tế.

    Ông Menon, cựu bộ trưởng ngoại giao Ấn Độ cho biết: “Sri Lanka đã bàn về cảng với chúng tôi ngay từ đầu, và các công ty Ấn Độ từ chối. Cảng là một thất bại kinh tế vào lúc ấy, và hiện giờ nó vẫn là một thất bại kinh tế."

    Nhưng ông Rajapaksa đã bật đèn xanh cho dự án, sau đó khoe khoang trên báo chí rằng ông đã bất chấp mọi sự thận trọng - và cho biết Trung Quốc tham dự trong dự án.

    Theo một viên chức tham gia vào dự án, giới hữu trách về Cảng của Sri Lanka bắt đầu đặt ra những gì mà họ cho là một kế hoạch thận trọng có giá trị kinh tế vào năm 2007. Kế hoạch này hạn chế mở cảng cho doanh nghiệp trong năm 2010, và đòi hỏi phải có doanh thu trước bất kỳ bành trướng quan trọng nào.

    307 Triệu đô la, khoản vay lớn đầu tiên của dự án đến từ Ngân hàng Xuất nhập khẩu của chính phủ Trung Quốc. Theo một điện tín của Tòa Đại sứ Hoa Kỳ vào thời điểm đó bị rỉ cho WikiLeaks, để được vay, Sri Lanka bị yêu cầu phải mướn China Harbor, một công ty xây cảng và con cưng của Bắc Kinh.

    Đó là một yêu sách tiêu biểu của Trung Quốc đối với các dự án trên toàn thế giới, thay vì để đấu thầu tự do. Theo các quan chức trong khu vực, chính phủ Bắc Kinh đang cho vay hàng tỷ đô la nhưng được hoàn trả với giá ngất ngưởng bằng cách thuê các công ty và hàng ngàn công nhân Trung Quốc trong toàn khu vực.

    Cũng có những yêu sách khác gắn liền với khoản vay nằm trong dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đã nhìn thấy giá trị chiến lược tại cảng Hambantota ngay từ đầu.

    Nihal Rodrigo, cựu bộ trưởng ngoại giao và đại sứ Sri Lanka tại Trung Quốc nói rằng các cuộc thảo luận với các quan chức Trung Quốc vào thời điểm đó đã làm sáng tỏ rằng chia sẻ tình báo là một phần không thể tách rời, nếu không muốn nói là công khai của thỏa thuận. Trong một cuộc phỏng vấn với The NY Times, ông Rodrigo đã mô tả chủ ý ngầm của Trung Quốc là “Chúng tôi chờ mong quý vị cho chúng tôi biết ai sẽ đến và neo tại cảng này”.

    Trong những năm sau đó, các quan chức Trung Quốc và công ty China Harbor đã cố gắng hết mình để giữ mối quan hệ chặt chẽ với ông Rajapaksa, người đã trung thành thuần phục trước những đòi hỏi của Trung Quốc trong nhiều năm.

    Vào những tháng cuối cùng của cuộc bầu cử năm 2015 của Sri Lanka, đại sứ Trung Quốc đã vi phạm các tiêu chuẩn ngoại giao bằng cách vận động cử tri, thậm chí cả các người phu tại sân gôn hạng sang ở Colombo để ủng hộ ông Rajapaksa thay vì ứng cử viên đối lập, người hăm dọa sẽ xé bỏ mọi thỏa thuận kinh tế với chính quyền Trung Quốc.

    Khi cuộc bầu cử tháng Giêng nhích đến gần hơn, các khoản tiền to tát bắt đầu chảy về phía thân cận của tổng thống.

    Theo một tài liệu được The NY Times nhìn thấy từ một cuộc điều tra nội bộ của chính phủ Sri Lanka, ít nhất 7,6 triệu đô la được rút ra từ tài khoản của China Harbor tại Ngân hàng Standard Chartered và được đưa cho các cộng sự viên của ban vận động của ông Rajapaksa. Tài liệu này liệt kê số trương mục ngân hàng của China Harbor mà người đứng tên đã được xác minh, và thông tin thu lượm được từ việc thẩm vấn những người nhận tiền có tên trên ngân phiếu.

    Còn 10 ngày trước khi bầu cử, khoảng 3,7 triệu đô la được ký bằng ngân phiếu, trong đó 678.000 đô la để in áo phông vận động và tài liệu quảng cáo khác và 297.000 đô la để mua quà tặng cho người ủng hộ, bao gồm cả sà rông cho phụ nữ. 38.000 Đô la khác được trả cho một tu sĩ Phật giáo nổi tiếng, người ủng hộ ông Rajapaksa, trong khi hai ngân phiếu tổng cộng 1,7 triệu đô la đã được các tình nguyện viên gửi đến Đền Trees, nơi cư trú chính thức của ông.

    Hầu hết các khoản thanh toán đến từ một trương mục phụ của China Harbor có tên là “HPDP Giai đoạn 2”, viết tắt của Hambantota Port Development Project (Dự án Phát triển Cảng Hambantota.)

    Mạng lưới Trung Quốc

    Sau gần 5 năm hối hả bành trướng Chương trình Vành đai và Xa lộ của Trung Quốc trên khắp thế giới, các quan chức Trung Quốc đang âm thầm kiểm kê số thỏa thuận đã được ký và mức độ trách nhiệm tài chính của quốc gia. Theo một nhà hoạch định chính sách kinh tế của Trung Quốc, cũng như nhiều quan chức khác nói về chính sách của Trung Quốc chỉ trong điều kiện giấu tên, hiện nay vẫn chưa có bức tranh toàn diện về sự kiểm kê đó.

    Một số quan chức Trung Quốc đã lo ngại rằng tham nhũng hầu như có hệ thống liên quan đến các dự án này đem đến một gánh nợ cho Trung Quốc và gây thêm khó khăn cho việc thu lợi nhuận. Tổng thống Tập đã công nhận sự lo lắng này trong một bài phát biểu năm ngoái "Chúng tôi cũng sẽ tăng cường hợp tác quốc tế về chống tham nhũng để xây dựng Chương trình Vành đai và Xa lộ bằng tính liêm khiết."

    Ví dụ, ở Bangladesh vào tháng Giêng, các quan chức chính phủ cho biết China Harbor sẽ bị cấm tham dự vào các hợp đồng trong tương lai vì cáo buộc công ty đã hối lộ một quan chức Bộ Giao thông bằng cách nhét 100.000 đô la vào một hộp trà. Và trong năm 2009, công ty mẹ của China Harbor, Công ty Xây dựng Truyền thông Trung Quốc đã bị cấm đấu thầu trong tám năm vào các dự án của Ngân hàng Thế giới vì các hoạt động tham nhũng ở Philippines.

    Kể từ khi chiếm đoạt cảng ở Sri Lanka để siết nợ, các quan chức Trung Quốc đã bắt đầu gợi ý rằng Vành đai và Xa lộ không phải là một cam kết không đáy của chính phủ để tài trợ các dự án phát triển trên ba lục châu.

    Trong Diễn đàn Phát triển Trung Quốc vào cuối tháng Ba, Jin Qi, chủ tịch của Quỹ Đường tơ lụa, một quỹ đầu tư nhà nước quan trọng cho biết "Nếu chúng ta không thể quản lý rủi ro một cách khá hơn, các dự án Vành đai và Xa lộ không thể đi xa hay tiến triển tốt đẹp."

    Trong trường hợp Sri Lanka, các quan chức cảng và các nhà phân tích Trung Quốc cũng không từ bỏ quan điểm rằng cảng Hambantota có thể sinh lợi, hoặc ít nhất tăng cường khả năng thương mại của Trung Quốc trong khu vực.

    Ray Ren, đại diện của China Merchant Port tại Sri Lanka và người chỉ huy các hoạt động trong cảng Hambantota nhấn mạnh rằng "Sri Lanka có một vị trí lý tưởng cho thương mại quốc tế" và bác bỏ các nghiên cứu khả thi tiêu cực, cho rằng chúng đã được thực hiện cách đây nhiều năm khi Hambantota còn là "một làng chài nhỏ."

    Hu Shisheng, giám đốc nghiên cứu Nam Á tại Viện Quan hệ Quốc tế Đương đại Trung Quốc cho biết Trung Quốc đã nhận ra rõ ràng giá trị chiến lược của cảng Hambantota. Nhưng ông nói thêm “Khi Trung Quốc muốn áp dụng giá trị địa lý, giá trị chiến lược của cảng sẽ biến mất. Các quốc gia lớn không thể đánh nhau ở Sri Lanka - giá trị chiến lược sẽ bị xóa sổ.”

    Mặc dù cảng Hambantota đầu tiên được khai triển một cách hạn chế trong năm 2010, trước khi Chương trình Vành đai và Xa lộ được công bố, chính phủ Trung Quốc nhanh chóng nhập dự án cảng vào chương trình toàn cầu này.

    Ngay sau buổi lễ bàn giao tại Hambantota, hãng thông tấn nhà nước Trung Quốc đã phát hành một video khoe khoang trên Twitter, tuyên bố thỏa thuận này là “một mốc quan trọng nữa trên con đường Vành đai và Xa lộ.”

    Một cảng trong hư không

    Cảng biển không phải là dự án lớn duy nhất được xây với các khoản vay của Trung Quốc tại Hambantota, một khu vực dân cư thưa thớt trên bờ biển phía đông nam của Sri Lanka phần lớn là rừng rậm.

    Cảnh ở chân trời là một sân vận động chơi bóng cricket với số chỗ ngồi nhiều hơn dân số của quận Hambantota và một phi trường rộng lớn mà trong tháng Sáu, hãng FlyDubai đã ngưng đường bay thương mại hàng ngày duy nhất còn lại. Một quốc lộ chạy ngang qua khu vực với đàn voi qua lại được nông dân sử dụng để bới và sấy thóc gặt từ cánh đồng của họ.

    Các cố vấn của ông Rajapaksa đã đưa ra một đề án có phương pháp làm sao bành trướng cảng sau khi mở để bảo đảm mang đến doanh thu trước khi vay nhiều nợ hơn.

    Nhưng trong năm 2009, tổng thống Rajapaksa đã trở nên thiếu kiên nhẫn. Năm sau là sinh nhật lần thứ 65 của ông và để đánh dấu, ông muốn có một lễ khai trương tại cảng Hambantota cộng với điểm khởi hành của một chương trình bành trướng đầy tham vọng đi trước 10 năm thời hạn ban đầu của Cơ quan Cảng.

    Dân lao động Trung Quốc ngày đêm bắt tay vào việc để chuẩn bị sẵn sàng cho cảng. Nhưng khi nhân công đào đất và sau đó làm ngập để tạo ra lưu vực cảng, họ không dè có một tảng đá to chặn lối vào, làm cản các tàu lớn, như tàu chở dầu vào cập bến theo như mô hình kinh doanh của cảng.

    Vì không muốn trái lệnh tổng thống, các quan chức của Cơ quan Cảng đã tiến hành nhanh chóng. Cảng Hambantota được khai trương trong một buổi lễ hoành tráng vào ngày 18 tháng 11 năm 2010, sinh nhật của ông Rajapaksa. Sau đó, cảng ngồi chờ khách hàng trong khi tảng đá chìm vẫn chặn đường vào.

    Một năm sau, China Harbor đặt chất nổ phá tảng đá đó với một phí tổn là 40 triệu đô la, một giá cắt cổ làm các nhà ngoại giao và các quan chức chính phủ quan tâm. Một số công khai suy diễn liệu công ty chỉ đơn giản đôn giá hoặc giá thành bao gồm các khoản tiền lại quả cho ông Rajapaksa.

    Đến năm 2012, cảng đã phải chật vật để thu hút các thương thuyền vốn thích cặp cảng Colombo gần đó hơn trong khi chi phí xây dựng gia tăng khi cảng bắt đầu mở rộng trước thời hạn. Vào cuối năm, chính phủ ra chỉ thị buộc các tàu chở hàng nhập khẩu xe hơi phải dỡ hàng ở cảng Hambantota để kích hoạch kinh doanh ở đó, thay vì Colombo. Tuy nhiên, theo một báo cáo hàng năm của Bộ Tài chính, chỉ có 34 tàu thả neo tại Hambantota so với 3.667 tàu tại cảng Colombo trong cùng năm.

    Harsha de Silva, bộ trưởng chính sách quốc gia kinh tế, cho biết trong một cuộc phỏng vấn: "Khi tôi bắt đầu làm cho chính phủ, tôi đã gọi cho bộ trưởng kế hoạch quốc gia và hỏi về các lý do biện minh cho xây cảng Hambantota" Bà ấy nói:" Chúng tôi xây vì bị yêu cầu làm điều đó."

    Vào năm 2012, với quyết tâm tiếp tục mở rộng cảng, ông Rajapaksa đã quay qua Trung Quốc hỏi mượn 757 triệu đô la.

    Thêm một lần nữa, Trung Quốc đồng ý. Nhưng lần này, các điều kiện vay ngặt nghèo hơn nhiều.

    Khoản vay thứ nhất trị giá 307 triệu USD, mới đầu có lãi suất thay đổi trên 1 hoặc 2% sau vụ khủng hoảng tài chính toàn cầu vào năm 2008. (Để so sánh, lãi suất tương tự của Nhật đối với các dự án cơ sở hạ tầng nằm dưới nửa phần trăm.)

    Nhưng để có nguồn vốn mới, sau khi thương lượng lại, Ông Rajapaksa chấp nhận mức lãi suất cố định 6,3% cao hơn nhiều so với khoản vay ban đầu.

    Nợ nần và chi phí dự án chồng chất cao, ngay cả khi cảng đang gặp khó khăn, đã tạo cho phe đối lập chính trị ở Sri Lanka một vũ khí lợi hại và họ tập trung tranh cử vào mối nghi ngờ Trung Quốc. Ông Rajapaksa thất cử.

    Chính phủ kế tiếp do Tổng thống Maithripala Sirisena cầm đầu có trách vụ kiểm soát các giao dịch tài chính của Sri Lanka. Họ phải đối mặt với một khoản nợ rất đáng sợ. Dưới thời Rajapaksa, khoản nợ quốc gia đã tăng gấp ba lần, lên 44,8 tỷ đô la khi ông rời chức. Và chỉ tính riêng cho năm 2015, khoản thanh toán là 4,68 tỷ đô la phải trả trước cuối năm.

    Cũng vẫn ký

    Tân chính phủ mong muốn xoay Sri Lanka lại về phía Ấn Độ, Nhật Bản và Tây phương. Nhưng các quan chức sớm nhận ra rằng không một quốc gia nào khác có thể lấp đầy lỗ hổng tài chính hay kinh tế mà Trung Quốc đã gây ra tại Sri Lanka.

    Ravi Karunanayake, bộ trưởng tài chính trong năm đầu tiên của tân chính phủ cho biết: “Chúng tôi đã thừa hưởng một nền kinh tế băng hoại có chủ đích - doanh thu không đủ để trả tiền lời, đó là chưa nói đến trả vốn.”

    Ông nói thêm "Chúng tôi đã tiếp tục vay tiền. Một chính phủ mới không thể ngừng vay vì đó là hành động chuyển tiếp; cần phải vay cho đến khi có kinh tế thắt lưng buộc bụng.”

    Ngân hàng Trung ương ước tính rằng Sri Lanka nợ Trung Quốc khoảng 3 tỷ đô la năm ngoái. Nhưng Nishan de Mel, một kinh tế gia tại Verité Research, cho biết một số khoản nợ đã được bôi xóa trong sổ sách của chính phủ và thay vào đó, chúng được đăng ký như các dự án riêng rẻ. Ông đoán rằng nợ của Trung Quốc có thể lên tới 5 tỉ đô la và tăng hàng năm. Vào tháng 5, Sri Lanka đã vay thêm 1 tỷ USD từ Ngân hàng Phát triển Trung Quốc để giúp họ trả nợ.

    Các quan chức chính phủ bắt đầu họp vào năm 2016 với các đối tác Trung Quốc để đi đến một thỏa thuận, hy vọng xóa cảng Hambantota khỏi bảng cân đối của Sri Lanka và tránh xù nợ. Nhưng các quan chức Sri Lanka nói Trung Quốc không chấp nhận xóa nợ và đòi hỏi một công ty Trung Quốc chiếm phần lớn sở hữu chủ của cảng.

    Mặc dù chưa bao giờ được phát hành công khai, báo The NY Times đã có một bản sao của thỏa thuận cuối cùng mà trong đó Sri Lanka phải chọn một trong hai công ty quốc doanh Trung Quốc để trao trọn quyền kiểm soát cảng: hoặc China Harbor hoặc China Merchants Port.

    Theo hai quan chức có liên quan đến cuộc đàm phán, China Merchants Port “trúng” hợp đồng và ngay lập tức họ đòi thêm 15.000 mẫu đất quanh cảng để xây một khu công nghiệp. China Merchants Port biện minh rằng bản thân cảng không đáng giá 1,1 tỷ đô la để xóa nợ tiền xây cảng cho Sri Lanka.

    Theo các quan chức có liên quan đến các cuộc đàm phán, một số quan chức chính phủ phản đối các điều kiện vay một cách cay đắng nhưng không còn cách nào khác. Thỏa thuận mới đã được ký vào tháng 7 năm 2017 và có hiệu lực vào tháng 12.

    Bề ngoài, thỏa thuận này cho Sri Lanka một số quyền sở hữu trong đó một công ty liên doanh được thành lập để quản lý các hoạt động của cảng và thu lợi nhuận, với 85% thuộc sở hữu của China Merchants Port và 15% còn lại do chính phủ Sri Lanka kiểm soát.

    Nhưng các luật sư chuyên về mua cảng cho biết phần nhỏ của Sri Lanka chẳng có ý nghĩa gì so với quyền cai quản nhân viên và các quyết định điều hành nằm trong tay China Merchants Port. Và chính phủ Sri Lanka không có chủ quyền trên vùng đất của cảng.

    Các cuộc đàm phán thỏa thuận lúc ban đầu để ngỏ câu hỏi liệu cảng Hambantota và đất xung quanh có thể được sử dụng bởi quân đội Trung Quốc, một vấn đề mà các quan chức Ấn Độ yêu cầu chính phủ Sri Lanka phải rõ ràng cấm đoán. Thoả thuận cuối cùng ngăn cấm các quốc gia nước ngoài sử dụng cảng với mục đích quân sự trừ khi được chính phủ Colombo cho phép.

    Điều khoản đó nằm trong thỏa thuận là vì tàu ngầm Hải quân Trung Quốc trước đó đã đến Sri Lanka rồi.

    Quan tâm chiến lược

    Trung Quốc cũng đóng một vai trò ở cảng chính của Sri Lanka. China Harbor đang xây một bến tàu mới lúc đó được biết đến là Colombo Port City. Theo thỏa thuận cảng Hambantota, 50 mẫu đất ở cảng Colombo hoàn toàn nằm trong tay China Harbor và Sri Lanka không có chủ quyền.

    Điều đó đã được chứng minh một cách rõ ràng vào cuối nhiệm kỳ của ông Rajapaksa, vào năm 2014. Tàu ngầm Trung Quốc cập cảng cùng ngày với Thủ tướng Shinzo Abe của Nhật Bản viếng thăm Colombo, điều này được khắp khu vực xem như là một tín hiệu hăm dọa từ Bắc Kinh.

    Khi tân chính phủ Sri Lanka nhậm chức, họ tìm cách trấn an rằng cảng sẽ không bao giờ chào đón tàu ngầm Trung Quốc nữa vì mối quan ngại chính là tàu ngầm rất khó phát hiện và thường được sử dụng để dò thám. Nhưng giới chức Sri Lanka có ít quyền kiểm soát thực sự.

    Giờ đây, việc bàn giao cảng Hambantota cho Trung Quốc không làm nguôi những quan ngại về khả năng sử dụng quân sự - nhất là khi Trung Quốc tiếp tục quân sự hóa các đảo trên Biển Đông bất chấp những cam kết trước đó.

    Các quan chức Sri Lanka nhanh chóng nói rằng thỏa thuận này rõ ràng không cho phép quân đội Trung Quốc sử dụng cảng. Nhưng những người khác cũng lưu ý rằng chính phủ Sri Lanka có thể bị áp lực để cho phép điều đó vì vẫn còn nợ Trung Quốc rất nhiều.

    Và như ông de Silva, bộ trưởng chính sách quốc gia và kinh tế đã nói, "Chính phủ có thể thay đổi."

    Bây giờ, de Silva và những người khác đang theo dõi cẩn thận khi Rajapaksa, đối tác được Trung Quốc ưu ái ở Sri Lanka, đã cố gắng chuẩn bị trở lại chính trường. Đảng đối lập mới của cựu tổng thống đã thắng lớn trong cuộc bầu cử cấp tỉnh vào tháng Hai. Cuộc bầu cử tổng thống sẽ được tổ chức vào năm tới và tổng tuyển cử vào năm 2020.

    Mặc dù ông Rajapaksa không được tranh cử lần nữa vì giới hạn nhiệm kỳ nhưng em trai của ông, Gotabaya Rajapaksa, cựu bộ trưởng quốc phòng, dường như đã sẵn sàng để kế vị.

    Theo Ajith Nivard Cabraal, thống đốc ngân hàng trung ương dưới thời chính phủ Rajapaksa và là một cố vấn cho gia đình “Tùy Mahinda Rajapaksa, nếu ông ta chỉ định một trong những người em, người đó sẽ cầm trịch. Ngay cả khi không còn là tổng thống, Mahinda sẽ là gốc quyền lực chính, Hiến pháp đã quy định như vậy."

    Nguồn: "How China Got Sri Lanka to Cough Up a Port", Maria Abi-Habib, New York Times June 25, 2018.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi