Đề án đặc khu của Việt Nam: Ảo tưởng thành công

  • Bởi Admin
    07/06/2018
    4 phản hồi

    Nguyễn Anh Tuấn


    Nguồn ảnh: VNExpress

    Mô tả vẻ hào nhoáng của Thâm Quyến để bảo vệ đề án đặc khu của Việt Nam thật không thỏa đáng, bởi lẽ không lý giải được vì sao trong hơn 4300 đặc khu trên toàn thế giới tính đến thời điểm này, mà rất nhiều trong số đó được truyền cảm hứng từ thành công của Thâm Quyến, trường hợp thành công không phải chiếm đa số, trong khi con số đặc khu phải vật lột trong tình trạng “bỏ thì thương, vương thì tội” (white elephants/voi trắng) gây lãng phí nguồn lực quốc gia thì không hề nhỏ.

    Bởi vậy cần một cách tiếp cận khác: Chỉ ra các điều kiện cần thiết để có một chương trình đặc khu thành công theo kinh nghiệm quốc tế, từ đó so sánh với đề án đặc khu của Việt Nam để ước lượng khả năng thành công của đề án này trước khi lựa chọn một thái độ đối với nó.

    Hai học giả Douglas Zeng (TQ, World Bank), Hyung-Gon Jeong (HQ, KIEP) - là những người có nhiều kinh nghiệm nghiên cứu về đặc khu, trong một báo cáo có tên Thúc đẩy Tăng trưởng Năng động và Sáng tạo ở Châu Á: Trường hợp Đặc khu Kinh tế và Trung tâm Kinh doanh ấn bản bởi Viện Chính sách Kinh tế Quốc tế Hàn Quốc (KIEP) năm 2016, sau khi phân tích các trường hợp đặc khu thành công ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Hong Kong, Singapore, Dubai đã chỉ ra 10 điều kiện/yếu tố để một chương trình đặc khu có thể thành công,
    như là bài học cho các nước đang phát triển. [1] Khuôn khổ bài viết có hạn nên không thể phân tích đối chiếu chi tiết từng vùng đặc khu Vân Đồn, Vân Phong và Phú Quốc, mà chỉ điểm qua các điều kiện/yếu tố này, và dựa trên đó đưa ra những nhận định về đề án đặc khu của Việt Nam.

    Đầu tiên, chìa khóa cho một chương trình đặc khu thành công đến từ cách tiếp cận “toàn thể chuỗi giá trị” (whole of value chain). Nôm na là xem quốc gia ấy nằm ở đâu trong chuỗi giá trị toàn cầu, muốn tiến lên vị trí nào cao hơn, và chương trình đặc khu sẽ đóng vai trò gì trong tiến trình ấy. Như Việt Nam chẳng hạn, đang ở phân khúc thấp nhất của chuỗi giá trị toàn cầu với một nền kinh tế phụ thuộc vào lãnh vực sản xuất lấy gia công thâm dụng lao động (hàng điện tử, dệt may...) làm chủ lực, thì chương trình đặc khu này sẽ giúp nâng tầm nền kinh tế quốc gia thế nào khi những nơi được chọn đều nằm xa các vùng động lực kinh tế, và lại quá chú trọng tới những lãnh vực tách biệt như casino, nghỉ dưỡng…?

    Điều kiện thứ hai là một khuôn khổ thế chế hiệu quả vốn đòi hỏi cao về tính minh bạch, dễ đoán định, và khả năng tránh được những rủi ro như can thiệp chính trị hoặc đầu cơ đất đai. Trong bối cảnh các nhóm lợi ích bè phái hoành hành ở Việt Nam, chương trình đặc khu đang được giới thiệu chưa đưa ra bất kỳ giải pháp nào ngăn chặn hiện tượng này, nếu như không muốn nói là còn đang hợp thức hóa nó. Nạn đầu cơ đất đai một thời gian dài ở cả 3 địa phương, tệ hơn, còn gợi ý rằng chương trình đặc khu của chính phủ đã thất bại ngay cả khi chưa bắt đầu.

    Môi trường kinh doanh hấp dẫn là điều kiện thứ ba cho một dự án đặc khu thành công, và cũng là điểm mà các viên chức chính phủ Việt Nam tỏ ra tự tin nhất khi mà họ thường xuyên đề cập tới mức thuế suất thấp trong đề án của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh đang tồn tại hàng ngàn đặc khu khắp thế giới, miễn giảm thuế (fiscal incentives) không còn đủ hấp dẫn vì đã trở nên quá bình thường. Vậy thì câu hỏi là nếu Singapre nổi bật với chính quyền trong sạch và minh bạch, Hong Kong thừa hưởng di sản thông luật Anh với hệ thống tư pháp độc lập, Hàn Quốc tạo ấn tượng về năng lực bộ máy, Trung Quốc với danh mục đầu tư chọn-bỏ (negative list), thì chương trình đặc khu của Việt Nam có gì đặc biệt để chào hàng các nhà đầu tư tầm cỡ quốc tế?

    Yếu tố thứ tư là lập kế hoạch, thiết kế và vận hành chương trình đặc khu một cách cẩn trọng, bắt đầu ngay từ nhu cầu của nền kinh tế. Ngoại trừ một vài cái tên đã gom đất trước ở ba địa phương, có bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam hiện tại mong chờ đặc khu? Hay điều họ thực sư cần là chính phủ đẩy nhanh hơn việc cắt giảm thủ tục hành chính vốn đã và đang hành hạ họ hàng thập kỷ vừa qua? Thêm nữa, dĩ nhiên các viên chức chính phủ sẽ luôn cho rằng họ đã chuẩn bị chu đáo cho đề án này, song thực tiễn thất bại ở các khu kinh tế trước đó (vốn cũng được xếp là một loại đặc khu) thật khó để dư luận không hoài nghi về triển vọng của đề án lần này.

    ‘Có bột mới gột nên hồ’ - Đội ngũ lao động chất lượng cao là điều kiện thứ năm quyết định thành công của chương trình đặc khu. Và đây cũng là điểm mà đề án của Việt Nam yếu nhất. Trong khi Hong Kong - cảng thị sầm uất Á Đông với truyền thống pháp trị Tây phương trăm năm dễ dàng thu hút chuyên gia khắp nơi trên thế giới, Singapore tự tin với hệ thống giáo dục vượt trội ở châu Á, đủ sức cung ứng nguồn nhân lực chất lượng toàn cầu, Trung Quốc trông cậy vào Hoa Kiều lúc chập chững làm đặc khu, thì Việt Nam có gì? Một hệ thống giáo dục lạc hậu bởi giáo điều ý thức hệ mà điển hình là chương trình giáo dục chính trị marxist bắt buộc bậc đại học; đã thế lại chẳng thể khai thác được nguồn lực kiều dân như Trung Quốc khi mà hồ sơ hòa giải dân tộc vẫn đang bế tắc.

    Điều kiện thứ sáu là tiếp thu công nghệ và sáng tạo không ngừng. Đề án đặc khu của Việt Nam đúng là có mang kỳ vọng thu hút được những dự án công nghệ cao, song như đã nói ở điểm 1, vì không đặt trong tương quan với thực trạng nền kinh tế hiện nay, kỳ vọng này khả năng cao chỉ là một ảo vọng.

    Vị trí chiến lược và khả năng kết nối tạo thành điều kiện thứ bảy cho thành công của đặc khu. Đúng là cả ba vị trí được chọn có một số thuận lợi, nhưng nếu so với các trường hợp điển hình thành công trên thế giới như Thâm Quyến, Thượng Hải (TQ), Masan (Hàn Quốc), Singapore, Hong Kong thì khó có thể nói là vượt trội? Cả ba vị trí đó có nằm trên tuyến thương mại hàng hải quốc tế nào không? Có gần thị trường quốc tế rộng lớn nào không? Có được hậu thuẫn bởi thị trường hoặc tổ hợp công nghiệp nội địa nào không? Hoàn toàn không.

    Yếu tố thứ tám là liên kết với nền kinh tế quốc gia. Những trường hợp đặc khu thành công đều chứng tỏ được khả năng kết nối các nhà đầu tư quốc tế với các doanh nghiệp địa phương, giúp lan tỏa ảnh hưởng tích cực cho toàn bộ nền kinh tế. Trong khi đó, 30 năm thu hút hơn 170 tỷ USD đầu tư nước ngoài (FDI) nhưng với trọng tâm đặt sai chỗ, Việt Nam đã thất bại trong việc xây dựng nền công nghiệp hỗ trợ tạo đà cho nền sản xuất quốc nội, thì làm sao có thể tin rằng chính phủ lần này sẽ thành công với 3 địa điểm vừa tách biệt về mặt địa lý, vừa khác biệt với phần còn lại của nền kinh tế.

    Sự hài hòa giữa phát triển công nghiệp và phát triển xã hội/đô thị là điều kiện thứ chín góp phần cho thành công của đặc khu. Đó phải là những đô thị đáng sống với môi trường trong sạch, hạ tầng phát triển và chi phí cư trú không quá đắt đỏ (ít nhất là giai đoạn ban đầu). Với trường hợp Việt Nam, thực tiễn đầu cơ đất đai và phá hoại môi trường thời gian vừa qua, đặc biệt là ở Phú Quốc, Vân Đồn đang khiến khả năng xây dựng những đô thị đáng sống như trên trở nên xa vời.

    Cuối cùng, chương trình đặc khu thành công cần một cơ chế đánh giá hiệu quả khách quan để biết khi nào nên tiếp tục hay dừng lại. Với số tiền khổng lồ dự kiến lấy từ ngân sách quốc gia đầu tư cho các đặc khu, quả thật rất thiếu sót khi đề án hoàn toàn vắng bóng một cơ chế đánh giá như thế để có thể rút ra kịp thời trong trường hợp không thành công như mong đợi.

    Tóm lại, xét trên cả 10 điều kiện/yếu tố góp phần vào thành công của một đặc khu theo kinh nghiệm quốc tế, chương trình đặc khu của Việt Nam tỏ ra thật kém cạnh tranh và thiếu triển vọng. Những người bảo vệ đề án này có thể có những lý giải khác nhau, song không khó để nhận ra đối tượng hưởng lợi lớn nhất từ đề án này. Trong dự thảo luật, họ được gọi tên là “nhà đầu tư chiến lược”, còn trên thực địa họ chính là một vài tập đoàn đã gom đất ở ba địa phương này với giá rẻ mạt trong nhiều năm qua, đang chờ luật thông qua sẽ kéo theo hàng tỷ USD mỗi năm (chắt bóp từ ngân sách quốc gia vốn đang eo hẹp) đổ về đầu tư giúp tăng giá trị dự án của họ lên gấp nhiều lần. [2]

    PS: Bài không đề cập tới những nguy cơ có yếu tố Trung Quốc, với ý tưởng rõ ràng rằng, ngay cả khi chưa tính tới yếu tố Trung Quốc thì đề án cũng không đáng được ủng hộ khi xét tới tính khả thi và triển vọng thành công của nó.

    ______________________

    [1] http://www.kiep.go.kr/eng/sub/view.do?bbsId=policyAnalyses&nttId=191699

    [2] Dự kiến ngân sách nhà nước thời gian tới phải bỏ ra 7.5 tỷ USD cho Phú Quốc, 3.5 tỷ USD cho Vân Phong và 1.7 tỷ cho Vân Đồn - đều là những con số khổng lồ đối với tình trạng ngân sách thâm thủng của Việt Nam hiện nay.

    http://baodauthau.vn/thoi-su/von-nha-nuoc-chi-la-von-moi-cho-dac-khu-68492.html

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Chủ Nghĩa Phản Bội

    Chủ nghĩa ngày xưa bác rước về
    Từ hai “thánh tổ” Mác và Lê
    Phi nhân sắt máu đầy hoang tưởng
    Hoành hành điên đảo cả trời quê

    Thứ chủ nghĩa từ thời hồng hoang
    Loài người sinh sống kiểu bầy đàn
    Ăn lông ở lổ như cầm thú
    Được bác cho là nhất thế gian

    Rồi bác kết bè lũ ác nhân
    Lập ra một đảng cướp hung thần
    Tuân theo mệnh lệnh trùm quốc tế
    Dẫn đường nô lệ nước và dân

    Bác lại vinh danh ngọn búa liềm
    Ngải bùa của đảng cướp cơm chim
    Trăm triệu oan hồn theo đòi mạng
    Trên bàn thờ tổ giống Rồng Tiên

    Ngọn cờ tang tóc phủ tai ương
    Sông núi thành ra bãi chiến trường
    Bác từ phủ chúa truyền quân lệnh
    Xây đắp cơ đồ trên máu xương

    Dân tộc quay cuồng theo đảng nô
    Bùa ma ngải quỉ Mác Lê Hồ
    Địa đàng xã ngãi trên dương thế
    Xây mãi toàn ra những nấm mồ

    Chủ nghĩa điên rồ bỗng chết non
    Năm châu thoát nạn mãi kinh hồn
    Riêng dân tộc Việt còn ngầy ngật
    Như đàn chuột bạch giữa lồng son

    Cộng vẹm cùng đường hóa quái thai
    Bám theo dân tộc Việt lâu dài
    Chủ nghĩa “quang vinh” thành phản bội
    Đưa cả quê hương xuống huyệt đài.

    Phan Huy MPH
    https://fdfvn.wordpress.com

    TRẦN H. CÁCH viết:
    để đánh giá cái chưa thành hình thì tác giả không công bằng...

    Formosa ở Hà Tĩnh, trên danh nghĩa là Đàì Loan, nhưng cổ phần công ty và người làm việc ở đây là người Tàu ( Mainland china), cái này có đươc coi là SEZ không ?

    Nguyên tắc SEZ là nơi phải có con người cho lao động tay chân, con người cho lao động trí sáng tạo, đất đai rông rãi để xây dựng công xưỡng, nhà cửa cho con người trú ngụ và trước nhất là đường xá cầu cống ... Vậy những thứ này đã có chưa mà đòi thí nghiệm ?

    Đừng đem chuyện xa xôi ở Trung đông mà hãy nhìn ngay những nước lân cận VN như Sing như Thái thì sẽ thấy SEZ của VN có sẽ là những con chuột bạch, khi Thái Sinh đã được don cỗ có sẳn và chỉ cần vào là sơi ngay, thằng đầu tư ngu nào vào VN khi nó phải chuẩn bị cả khâu nấu?

    Những cú nắm thép Vinahines, Vinalines chưa đủ sao ? những chaebol đã được Nam Hàn ném vào thùng rác sau khi quá đát xữ dụng thì lại được bọn cs VN vận hành và sáng tạo ? chưa đủ sao mà còn đòi thí nghiệm.

    Vài vấn đề với bài trên.

    1. Tác giả Nguyễn Anh Tuấn dùng cách đánh giá đã được tổng hợp qua nghiên cứu đối với những đặc khu kinh tế (SEZ) hàng đầu của thế giới. Nếu lấy những điểm đúc kết của chuỗi "bài học" để đánh giá cái chưa thành hình thì tác giả không công bằng. Chẳng hạn: "Điều kiện thứ sáu là tiếp thu công nghệ và sáng tạo không ngừng." Chưa có SEZ thì lấy đâu ra đối tượng để quan sát thấy, hay không thấy, sự tiếp thu và sáng tạo?

    2. Cách tiếp cận "toàn thể chuỗi giá trị", theo bản báo cáo, không phải là "điều kiện" thứ nhất. Các "điều kiện" từ số 2 trở đi mà tác giả Nguyễn Anh Tuấn nêu ra đều thuộc về cách tiếp cận này. Các tác giả của bản báo cáo (tám người với hai chủ biên) cũng không định nghĩa cách tiếp cận "toàn thể chuỗi giá trị" ở bất cứ đâu trong văn bản, chỉ nói nó "bao gồm mọi phương diện quan trọng (cơ sở hạ tầng cả mềm lẫn cứng) để xây dựng một hệ sinh thái công nghiệp hay doanh nghiệp thuận lợi".

    3. Tác giả Nguyễn Anh Tuấn nêu câu hỏi: "Cả ba vị trí đó có nằm trên tuyến thương mại hàng hải quốc tế nào không?" Câu hỏi này mắc kẹt vào con mắt coi bản đồ của các thế kỷ trước. Hãy xem Dubai. Nếu đi thuyền từ Vịnh Ba Tư ra và dừng chân ở Dubai thì còn có lý. Nhưng nếu đi thuyền từ Vịnh Oman vào phải ghé Dubai, đòi hỏi một cú rẽ xuống nam. Dubai trở thành một trung tâm của thế giới không phải do vị trí liên quan tới biển mà do tại đây có phi trường lớn nhất thế giới. Phải nhìn bằng con mắt hàng không thay vì hàng hải. Cũng vậy với Incheon, thuận lợi vì nằm giữa Trung Quốc và Nhật Bản -- nhưng cũng phải được nhìn bằng con mắt hàng không.

    Bản báo cáo có nói về ba thế hệ SEZ. Các SEZ ở Việt Nam đều chỉ thuộc thế hệ thứ nhất, khu chế xuất. Nay Việt Nam muốn xây các SEZ mới với vai trò "giá thí nghiệm" cho những chính sách mới và sự phi điều tiết hóa, tham vọng của các SEZ thế hệ thứ hai. Nên cho nhà nước cơ hội thực hiện bước nhảy này, dù có nguy cơ rơi xuống biển.

    Sự thành công của đặc khu Thâm Quyến (Shenzhen) là do hai yếu tố chính :
    -nối liền Hong Kong vào lục địa Tàu, tạo điều kiện cho các công ty Âu Mỹ từ Hong Kong dễ dàng đầu tư vào Thâm Quyến
    -ban đầu, chủ yếu là các nhà đầu tư Tàu trên toàn thế giới đổ vào Thâm Quyến