Mô hình đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt

  • Bởi Admin
    04/06/2018
    2 phản hồi

    Vũ Thành Tự Anh

    Tình thế tiến thoái lưỡng nan trong chính sách đặc khu nói riêng và cải cách kinh tế của Việt Nam nói chung là nếu không có những chính sách đột phá thì sẽ lại “lỗi cũ ta về”, song chính sách đột phá mà triển khai trong môi trường kém minh bạch, thiếu trách nhiệm giải trình, năng lực kém và tham nhũng như hiện nay thì lại hết sức rủi ro.

    * * *

    Dự thảo Luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt (Luật đặc khu) đang gây nhiều tranh cãi nhưng chắc sẽ được thông qua vì trên thực tế “ván đã đóng thuyền”. Tuy nhiên, nếu được triển khai thì khả năng thành công của mô hình đặc khu theo đạo luật này sẽ rất thấp vì:

    Thứ nhất, chính sách nằm sau đạo luật này thiếu cơ sở thực tiễn. Một cách chính thống, Luật đặc khu nhằm thể chế hóa chủ trương, đường lối về “xây dựng một số đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt với thể chế vượt trội để tạo cực tăng trưởng và thử nghiệm đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy thuộc hệ thống chính trị”.

    Nếu mục tiêu là “tạo cực tăng trưởng” thì với quy mô và tiềm năng của Phú Quốc, Bắc Vân Phong, và Vân Đồn thì cả ba địa phương này đều không thể tạo ra đột biến lớn đến mức trở thành một cực tăng trưởng của đất nước trong 10-20 năm tới, trừ phi phần còn lại của đất nước dậm chân tại chỗ. Mà nếu phần còn lại của quốc gia quả thực không phát triển thì cũng chẳng có cơ sở để các đặc khu thành công.

    Nếu mục tiêu là tạo “thể chế vượt trội” để “thử nghiệm đổi mới, hoàn thiện tổ chức bộ máy” thì bài học từ mô hình khu kinh tế mở (bắt đầu với Chu Lai) từ 2003 cho thấy nếu không có sự thay đổi đồng bộ ở phạm vi quốc gia thì những sáng kiến của địa phương chắn sẽ sẽ bị bóp nghẹt bởi một mạng lưới chằng chịt các thể chế và quy định hiện hành vốn hoàn toàn không tương thích với “thể chế vượt trội”.

    Hơn nữa, khả năng nhân rộng các “thử nghiệm đổi mới” này sẽ rất thấp, đơn giản là vì khoảng cách giữa những ưu đãi và thể chế của 3 đặc khu vô cùng “vượt trội” với phần còn lại của đất nước. Nếu như sau 15 năm, ngay cả những ưu đãi và thử nghiệm thể chế khiêm tốn hơn nhiều của các khu kinh tế mở vẫn chưa thành hình và tới được phần còn lại của đất nước, thì hy vọng về một sự lan tỏa thể chế và chính sách từ ba đặc khu sẽ chỉ là những ước vọng xa vời.

    Thứ hai, trong khi mục tiêu của cả ba đặc khu đều hướng tới thu hút các ngành công nghệ cao 4.0 thì tư duy chính sách chủ yếu vẫn chỉ là 1.0 – tức là cố thu hút thêm FDI bằng lợi thế so sánh tryền thống cùng những ưu đãi kịch trần và vượt khung, thậm chí không ngần ngại mở casino cho cả người Việt Nam vào chơi. Những ưu đãi quá mức này một mặt tạo nên một “cuộc đua xuống đáy” ngay giữa ba đặc khu của Việt Nam, mặt khác không đảm bảo sự thành công cho các đặc khu vì theo kinh nghiệm thế giới, ưu đãi không đi cùng với chất lượng thể chế, quản trị, điều hành và cơ sở hạ tầng thì cũng trở nên vô nghĩa.

    Thứ ba, với thiết kế như hiện nay, không có gì đảm bảo các đặc khu sẽ có tính bền vững về kinh tế và giúp tạo ra các ngoại tác tích cực như nâng cấp và chuyển đổi cơ cấu cũng như thúc đẩy cải cách kinh tế trên diện rộng.

    Nền kinh tế Việt Nam đã và sẽ tiếp tục phụ thuộc sâu hơn vào khu vực FDI. Trong khi đó, đang tồn tại một sự đứt gẫy, thậm chí là một vực sâu khoảng cách giữa khu vực FDI với khu vực kinh tế trong nước. Với thiết kế hiện nay, ba đặc khu này tương đối biệt lập với phần còn lại của nền kinh tế quốc gia. Vì vậy, khi chúng đi vào hoạt động thì sự phụ thuộc vào FDI cũng như khoảng cách giữa FDI và kinh tế trong nước sẽ còn trở nên sâu sắc hơn. Hệ quả là ngoại lực không những không giúp kích thích mà sẽ còn tiếp tục lấn át nội lực. Điều này đi ngược với kinh nghiệm quốc tế, trong đó chìa khóa thành công nằm ở hệ thống thể chế và chính sách giúp phát huy vai trò của các doanh nghiệp địa phương năng động, đóng vai trò làm cầu nối và chất xúc tác cho đầu tư nước ngoài.

    Thứ tư, đưa ra một khuôn khổ pháp lý cho đặc khu mới chỉ là một bước khởi đầu, việc triển khai mô hình đặc khu trên thực tế chắc chắn sẽ còn lắm gian truân. Bên cạnh nguy cơ bị trói chân trói tay bởi một ma trận thể chế và quy định hiện hành, nguy cơ nhìn thấy trước là chính quyền đặc khu bị thiếu nguồn lực, năng lực, và thẩm quyền (cả thẩm quyền theo luật định và thẩm quyền trên thực tế) cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của mình. Về những phương diện này, ngay cả hai thành phố lớn nhất nước là Hà Nội và Hồ Chí Minh loay hoay mãi mà vẫn chưa thoát ra được thì liệu ba đặc khu có khắc phục được hay không hoàn toàn là một câu hỏi ngỏ.

    Thứ năm, với vị trí xung yếu và nhạy cảm của mình, liệu Phú Quốc, Bắc Vân Phong, và Vân Đồn có phải là những địa điểm thích hợp để thử nghiệm chính sách trong bối cảnh địa kinh tế và địa chính trị hiện nay hay không? Lấy đơn cử Vân Đồn chẳng hạn. Một trong những mục tiêu quan trọng của Đặc khu Vân Đồn là thu hút các ngành công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ công nghệ cao. Thử hỏi ở sát biên giới với Trung Quốc thì những công ty công nghệ cao của các cường quốc khoa học và công nghệ ở Châu Á (như Nhật Bản và Hàn Quốc) và phương tây có sẵn sàng và yên tâm đầu tư hay không?

    * * *

    Sự ra đời của đặc khu kinh tế không thể tách rời bối cảnh kinh tế - chính trị của quốc gia. Từ góc độ lịch sử, mô hình đặc khu chỉ thích hợp trong điều kiện cả nước đang đóng kín bưng và cần một “đột phá khẩu” ra thị trường thế giới. Hơn nữa, sự thành công của các đặc khu phụ thuộc vào mức độ tích hợp của chúng trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế cũng như mức độ kết nối của chúng với phần còn lại của nền quản trị và kinh tế quốc gia. Với độ mở thuộc nhóm cao nhất thế giới như hiện nay, mô hình “đột phát khẩu” này không thực sự phù hợp cho Việt Nam. Chìa khóa của cải cách thể chế thành công, vì vậy không phụ thuộc vào ba đặc khu mà nằm ở nỗ lực cải cách toàn diện nền tảng thể chế và chính sách quốc gia.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Phản hồi: 

    https://www.bbc.com/vietnamese/forum-44356411

    Có ý kiến nói Trung Quốc lại đang dùng chính sách 'creditor imperialism', đem đồng tiền và tín dụng để mở cảng biển, đặc khu trên thế giới.

    Các đặc khu ngày nay khác tô giới ngày xưa nhiều, vì phần lớn do các nước có chủ quyền vì làm ăn kém cỏi mà phải cần tín dụng xây cơ sở hạ tầng.

    Nhưng người ta cũng nói Trung Quốc đang nhắc lại thông điệp hệt như Anh ngày trước về 'tự do thương mại' để bành trướng kinh tế.

    Brahma Chellaney viết trên The Project Syndicate (12/2017) rằng Vành đai và Con đường (BRI) đang đẩy cửa để Trung Quốc vào khai thác thị trường, tài nguyên và nhân khẩu của nhiều nước Á Phi.

    Vì thế không lạ khi đã có phản ứng của giới trí thức bản địa lo ngại những khoản cho vay với lãi suất thị trường từ BRI là một thứ gông cùm kinh tế kiểm mới.

    Nếu không tự cường được, các nước yếu kém, tham nhũng sẽ phải 'nộp cảng' trước đạn đồng Reminbi, không khác gì nha phiến của Anh thời Lâm Tắc Từ.

    Phản hồi: 

    (Tôi đọc những trích đoạn của bài này trong phần bình luận của một bài khác và đã góp ý ở đó. Bây giờ tìm thấy bài gốc ở đây, xin đăng lại bình luận của tôi để người đọc bài này tiện theo dõi.)

    Đây là những nhận định có tính chuyên môn cao nhưng là sự đánh giá về xác suất thành công của thí nghiệm đặc khu nhiều hơn là một tập hợp luận cứ chống lại việc tiến hành thí nghiệm. Đã là thí nghiệm thì thất bại cũng có ích, và cơ may thành công thấp không đủ là lý do để không tiến hành. Mặt khác, chuyện đảng cộng sản thất bại về kinh tế thì gần như luôn luôn xảy ra.

    Sau đây là vài điều góp ý với một số nhận định của Tiến sĩ Tự Anh.

    [quote="Vũ Thành Tự Anh"]Nếu mục tiêu là “tạo cực tăng trưởng” thì với quy mô và tiềm năng của Phú Quốc, Bắc Vân Phong, và Vân Đồn thì cả ba địa phương này đều không thể tạo ra đột biến lớn đến mức trở thành một cực tăng trưởng của đất nước trong 10-20 năm tới, trừ phi phần còn lại của đất nước dậm chân tại chỗ. Mà nếu phần còn lại của quốc gia quả thực không phát triển thì cũng chẳng có cơ sở để các đặc khu thành công.[/quote]

    Đoạn trên chứa một nghịch lý do tác giả tự tạo ra để thúc đẩy sự đánh giá "đàng nào cũng thất bại". Nhưng quan sát của tác giả thiếu sót. Thứ nhất, đặc khu có thể thành công dù các vùng xung quanh dậm chân tại chỗ. Thượng Hải và Thâm Quyến vào thời Trung Quốc còn dậm chân tại chỗ là những ví dụ tốt. Thứ hai, kinh tế trong đặc khu thay đổi, dù ít, trong khi "phần còn lại của đất nước dậm chân tại chỗ" chính là lý do để thực hiện đặc khu! Thứ ba, tác giả dường như chỉ dựa vào yếu tố địa lý để khẳng định "cả ba địa phương này đều không thể tạo ra đột biến lớn". Theo tôi thấy, ba địa phương này không tầm thường mà có nhiều lợi thế về địa lý cho một số kỹ nghệ như du lịch và hậu cần.

    [quote="Vũ Thành Tự Anh"]Hơn nữa, khả năng nhân rộng các “thử nghiệm đổi mới” này sẽ rất thấp, đơn giản là vì khoảng cách giữa những ưu đãi và thể chế của 3 đặc khu vô cùng “vượt trội” với phần còn lại của đất nước. Nếu như sau 15 năm, ngay cả những ưu đãi và thử nghiệm thể chế khiêm tốn hơn nhiều của các khu kinh tế mở vẫn chưa thành hình và tới được phần còn lại của đất nước, thì hy vọng về một sự lan tỏa thể chế và chính sách từ ba đặc khu sẽ chỉ là những ước vọng xa vời.[/quote]

    Tác giả sai ở chỗ đặt ra tiêu chí thành công cho thí nghiệm đặc khu bao gồm sự lan tỏa thành công tới các vùng khác. Chỉ cần thấy ba đặc khu vượt lên là đủ để cả nước phải thay đổi theo. Nếu sau 15 năm, với sự thành công dù ít hay nhiều của các đặc khu, mà chính phủ chưa áp dụng được bài học nào lên phần còn lại của đất nước, thì đó là lỗi của chính phủ hay của đảng cộng sản. Chuyện đó có thể xảy ra, nhưng không nên đổ lỗi cho đặc khu mà nên đổ lỗi cho chính phủ và đảng. Khả năng nhân rộng kém không phải là lý do để không tiến hành thí nghiệm đặc khu.

    [quote="Vũ Thành Tự Anh"]...không đảm bảo sự thành công cho các đặc khu vì theo kinh nghiệm thế giới, ưu đãi không đi cùng với chất lượng thể chế, quản trị, điều hành và cơ sở hạ tầng thì cũng trở nên vô nghĩa.

    Thứ ba, với thiết kế như hiện nay, không có gì đảm bảo các đặc khu sẽ có tính bền vững về kinh tế và giúp tạo ra các ngoại tác tích cực như nâng cấp và chuyển đổi cơ cấu cũng như thúc đẩy cải cách kinh tế trên diện rộng.[/quote]

    Tôi hoàn toàn tán thành các ý kiến trên. Xin thêm: nếu việc nâng cao chất lượng thể chế, quản trị và điều hành mà không do chính người Việt thực thi ngay tại các đặc khu thì cũng không có thêm cơ may nhân rộng. Nghĩa là, đặc khu không phải là nơi chỉ mời chủ nhân nước ngoài tới thuê đất 99 năm rồi công nhân nhập cư nước ngoài tới làm việc trong những nhà xưởng do giám đốc, quản trị viên nước ngoài điều hành. Đây phải là nơi các thế hệ chuyên viên mới của Việt Nam thực tập ở tầng quản trị.

    [quote="Vũ Thành Tự Anh"]Bên cạnh nguy cơ bị trói chân trói tay bởi một ma trận thể chế và quy định hiện hành, nguy cơ nhìn thấy trước là chính quyền đặc khu bị thiếu nguồn lực, năng lực, và thẩm quyền (cả thẩm quyền theo luật định và thẩm quyền trên thực tế) cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của mình. Về những phương diện này, ngay cả hai thành phố lớn nhất nước là Hà Nội và Hồ Chí Minh loay hoay mãi mà vẫn chưa thoát ra được thì liệu ba đặc khu có khắc phục được hay không hoàn toàn là một câu hỏi ngỏ.[/quote]

    Vì không thể thí nghiệm kiểu đặc khu với Hà Nội và Sài Gòn, cho nên mới cần tới ba nơi ở vùng biên cương.

    [quote="Vũ Thành Tự Anh"]Thử hỏi ở sát biên giới với Trung Quốc thì những công ty công nghệ cao của các cường quốc khoa học và công nghệ ở Châu Á (như Nhật Bản và Hàn Quốc) và phương tây có sẵn sàng và yên tâm đầu tư hay không?[/quote]

    Khoảng cách tới biên giới Trung Quốc không phải là yếu tố quyết định trong đầu tư thuộc lãnh vực khoa học và công nghệ. Tạm gác vấn đề địa chính trị, nhìn vào bản đồ, ba đặc khu càng hấp dẫn bao nhiêu về du lịch thì càng thất sách bấy nhiêu về công nghệ. Các vùng đất này đe dọa tạo ra chi phí cơ sở cao ngất trời đối với các công ty công nghệ. Mặt khác, trình độ của giới chuyên viên trong nước quyết định sức hấp dẫn của đầu tư trong lãnh vực này. Nếu các kỹ sư Ấn Độ không đáp ứng được những đòi hỏi trong ngành tin học Mỹ, thì vùng Bangalore và công ty Infosys sẽ chẳng thể như ngày nay. Nhưng bắt Infosys phải khởi đầu ở một nơi đất vàng thì chắc gã khổng lồ tin học phải đổi ngành!