Từ ngày Valentine, suy tư triết học về dân chủ hóa Việt Nam

  • Bởi Admin
    19/02/2018
    0 phản hồi

    Hà Huy Toàn

    Dân chủ hoá là mọi hoạt động xã hội nhằm thay đổi chế độ chính trị từ chế độ độc tài sang chế độ dân chủ: thay thế nhà nước bạo quyền bằng nhà nước pháp quyền.

    Chế độ độc tài là chế độ chính trị bảo đảm cho một cá nhân duy nhất hoặc một số ít cá nhân nào đó có chung cả quyền lợi lẫn ý đồ có thể cai trị được tất cả những người khác bằng bạo lực làm cho nhà nước độc tài biểu hiện thành nhà nước bạo quyền.

    Nhà nước bạo quyền là một hoặc một số ít người nào đó cai trị tất cả những người khác bằng bạo lực dựa trên ba điều kiện cơ bản: 1/ Bạo hành; 2/ Cướp bóc; 3/ Dối trá, dẫn đến tội ác.

    Nhà nước bạo quyền cũng có thể phải bày đặt luật lệ cho có nhưng sẽ không thể có luật lệ nghiêm minhchỉ có thể có luật lệ mù quáng hoặc không thể có luật lệ công bằngchỉ có thể có luật lệ bất công. Để áp đặt luật lệ bất công cho xã hội, nhà nước bạo quyền phải bạo hành, cướp bócdối trá, đối với dân chúng, tức là mọi luật lệ được bày đặt bởi nhà nước bạo quyền đều chỉ quy về ba điều kiện kia để cai trị dân chúng mà thôi. Bạo hành gây ra sợ hãi cho dân chúng để dân chúng phục tùng nhà độc tài. Cướp bóc gây ra bất công cho xã hội để dân chúng lệ thuộc nhà độc tài. Dối trá gây ra ngu dốt cho tất cả mọi người để dân chúng chấp nhận nhà độc tài. Tóm lại, luật lệ bất công cũng chỉ dẫn đến tội ác.

    Trong ba điều kiện kia, bạo lực đóng vai trò quyết định. Muốn cướp bóc được, cần phải có bạo lực. Muốn bắt dân chúng tin tưởng vào những lời dối trá, cần phải có bạo lực. Bạo lực gây ra sự sợ hãi cho tất cả mọi người mặc dù lúc đầu bạo lực chỉ gây ra sự sợ hãi cho dân chúng bị cai trị nhưng dần dần về sau bạo lực sẽ gây ra sự sợ hãi cho tất cả mọi người. Vậy sự sợ hãi làm động cơ cho chế độ độc tài [1].

    Vào giai đoạn cuối cùng, động cơ cho chế độ độc tài sẽ bị chùng xuống, tức là sự sợ hãi sẽ bị suy yếu cùng cực để dân chúng không còn sợ hãi nữa. Đến một giới hạn nhất định, chế độ độc tài sẽ được thay thế bằng chế độ dân chủ.

    Chế độ dân chủ là chế độ chính trị bảo đảm cho mọi cá nhân đều có thể làm chủ đối với chính mình bằng pháp luật để mọi người phải biết hành xử theo đạo đức. Vậy đạo đức làm động cơ cho chế độ dân chủ [2].

    Pháp luật là các quy tắc xử sự theo nguyên tắc bình đẳng được quy định chung bởi toàn thể nhân dân đồng thời được bảo đảm thi hành bởi nhà nước pháp quyền [3].

    Cần chú ý rằng: pháp luật phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng, nếu không dựa trên nguyên tắc đó thì không có pháp luật. Một điều luật bất công không phải là luật (an unjust law is no law at all). Luật bất công là luật chỉ được làm ra bởi con người mà không xuất phát từ luật vĩnh cửu và luật tự nhiên. Luật nào nâng cao phẩm giá con người, luật đó công bằng. Luật nào làm mất phẩm giá con người, luật đó bất công (An unjust law is a human law that is not rooted in eternal law and natural law. Any law that uplifts human personality is just. Any law that degrades human personality is unjust).

    Theo định nghĩa, pháp luật không thể tồn tại được với chế độ độc tài mà chỉ có thể tồn tại được với thể chế dân chủ.

    Pháp luật bao gồm Hiến pháp làm đạo luật cơ bản cùng với các đạo luật khác phải dựa vào Hiến pháp hoặc phải phù hợp với Hiến pháp.

    Hiến pháp theo đúng ý nghĩa đích thực cho khái niệm đó là đạo luật cơ bản làm cơ sở pháp lý cho cả xã hội công dân lẫn nhà nước pháp quyền, bao gồm các điều luật khái quát nhất chỉ quy định chung nhất các quy tắc chính trị bảo đảm cho mọi cá nhân đều có cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, đồng thời bảo đảm cho nhà nước pháp quyền phải được phân chia thành ba cơ quan khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, vừa độc lập với nhau về cơ thể hoặc nhân sự vừa thống nhất với nhau về ý chí hoặc mục đích để mọi cá nhân đều thực hiện được cả quyền lẫn nghĩa vụ dựa trên Tự do – Bình đẳng – Bác ái.

    Vì làm đạo luật cơ bản nên Hiến pháp phải thể hiện được ý chí chung cho mọi cá nhân hoặc toàn thể nhân dân. Muốn vậy, Hiến pháp phải được làm chung bởi mọi cá nhân hoặc toàn thể nhân dân [4].

    Hiến pháp nói riêng cũng như pháp luật nói chung bắt nguồn từ ý thức chân thực về bản tính vị kỷ.

    Bản tính vị kỷ là khuynh hướng tâm lý lấy mình làm mục đích cho mình đồng thời lấy mọi thứ khác làm phương tiện để thoả mãn mình.

    Bản tính vị kỷ được xác định bằng bản chất cho nhân loại [5]. Các sinh vật khác có thể cũng có bản tính vị kỷ nhưng chúng không thể ý thức chân thực về bản tính đó mà chỉ có thể phó mặc mình cho bản tính đó thúc đẩy mình sống theo bản năng mù quáng. Ngược lại, nhân loại phải vượt lên trên mọi sinh vật khác bằng ý thức chân thực về bản tính vị kỷ để có thể sống theo đạo đức. Nếu không ý thức chân thực về bản tính vị kỷ thì nhân loại cũng chỉ như mọi sinh vật khác mà thôi.

    Ý thức chân thực cho thấy rõ ràng: bản tính vị kỷ vừa tốt vừa xấu, nó chỉ xấu khi thúc đẩy người ta làm điều xấu hoặc nó chỉ tốt khi thúc đẩy người ta làm điều tốt. Điều tốt làm lợi cho nhân loại đối lập với điều xấu chỉ gây hại cho nhân loại.

    Vì bản tính vị kỷ tồn tại thường hằngmọi cá nhân sống vào mọi lúc nên mỗi cá nhân nhất định phải biết hành xử theo đạo đức đồng thời phải biết sống theo pháp luật. Nếu làm khác thì sẽ tự sát, nếu dối trá thì sẽ tự sát, nếu dùng bạo lực với đồng loại thì sẽ tự sát, nếu cướp bóc đối với đồng loại thì sẽ tự sát. Kẻ nào làm hại người khác, kẻ đó sẽ tự làm hại chính mình. Chẳng ai làm hại kẻ đó mà chính kẻ đó sẽ tự làm hại chính mình.

    Chính bản tính vị kỷ vừa làm động lực tuyệt đối cho lịch sử vừa làm nguồn gốc thực sự cho pháp luật.

    Bản tính vị kỷ bắt nguồn từ đâu? Có lẽ bản tính vị kỷ bắt nguồn từ Thượng đế. Từ nhỏ, tôi đã được nghe nói rằng mọi thứ đều được tạo dựng bởi Thượng đế khiến tôi xác tín chắc chắn rằng cả bản tính vị kỷ lẫn ý niệm chân thực về bản tính đó đều bắt nguồn từ Thượng đế. Lớn lên, tôi được gợi ý rằng: phải có ý niệm chân thực về bản tính vị kỷ mới có thể trở thành người tử tế để biết hành xử theo đạo đức đồng thời biết tạo dựng pháp luật.

    Pháp luật phải được làm chung bởi toàn thể nhân dân nhưng chỉ có thể được bảo đảm thi hành bởi nhà nước pháp quyền.

    Nhà nước pháp quyền là bộ máy chính trị điều hành xã hội bằng pháp luật dựa trên ba thiết chế cơ bản: 1/ Tam quyền phân lập; 2/ Đa nguyên bình đẳng; 3/ Bầu cử tự do, để bản tính vị kỷ không thúc đẩy mọi người gây hại cho nhau mà chỉ thúc đẩy mọi người làm lợi cho nhau bằng Tự doBình đẳngBác ái, tức là hành xử theo đạo đức. Phải có đủ cả ba thiết chế đó mới bảo đảm cho nhà nước pháp quyền tồn tại để có thể điều hành xã hội bằng pháp luật. Pháp luật sẽ kiểm soát được bản tính vị kỷ ở mọi cá nhân làm cho mọi cá nhân đều phải hành xử theo đạo đức như đã nói ở trên. Thiếu một trong ba thiết chế đó sẽ không thể có nhà nước pháp quyền, cũng tức là không thể có dân chủ thật sự, không có Tự do – không có Bình đẳng – không có Bác ái [6].

    Ví dụ: Thái lan có đa đảng nhưng không có tam quyền phân lập, chính vì chỉ có đa đảng mà không có tam quyền phân lập nên Thái lan thường xuyên xảy ra khủng hoảng chính trị để Vua phải ra lệnh cho quân đội dẹp loạn. Nước Nga cũng gần giống như Thái lan, tuy có đa đảng nhưng không có tam quyền phân lập làm cho cả ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháptư pháp, đều được tập trung cả vào Tổng thống. Thật đáng tiếc cho nhiều đấu sỹ dân chủ tại Việt nam hiện nay đã không biết sự thật về chế độ chính trị tại cả nước Nga lẫn Thái lan khiến họ đã đặt để cả hai nước đó vào các nước dân chủ [7].

    Tam quyền phân lập, tức là nhà nước pháp quyền phải được phân chia độc lập về nhân sự thành ba cơ quan khác nhau để thực hiện ba quyền lực tương ứng: cơ quan lập pháp thực hiện quyền lực lập pháp, cơ quan hành pháp thực hiện quyền lực hành pháp và cơ quan tư pháp thực hiện quyền lực tư pháp, theo đó bất cứ cá nhân nào đang làm quan chức cho cơ quan này cũng không được làm quan chức cho cơ quan khác để ngăn ngừa mọi quan chức nhà nước lạm dụng quyền lực nhà nước. Ba cơ quan đó bằng nhau về tổng số sức mạnh để kiểm soát lẫn nhau.

    Đa nguyên bình đẳng, tức là nhà nước pháp quyền phải được làm chủ bởi toàn thể nhân dân thông qua nhiều tổ chức độc lập hoặc nhiều đảng phái chính trị để ngăn ngừa các điều luật bất công dẫn đến tai hoạ cho dân chúng, cũng như phương tiện giao thông phải có phanh hãm thật tốt để phòng tránh tai nạn giao thông. Mỗi tổ chức độc lập hoặc mỗi đảng phái chính trị sẽ đại diện cho một quan điểm nhất định. Vì tất cả các quan điểm khác nhau đều phải dựa trên nguyên tắc bình đẳng đồng thời phải chấp nhận nguyên tắc đó, không thể chấp nhận sự thù địch mà chỉ có thể chấp nhận sự khác biệt, nên tất cả các tổ chức độc lập hoặc tất cả các đảng phái chính trị cũng đều không thể chấp nhận sự thù địch mà chỉ có thể chấp nhận sự khác biệt, các tổ chức độc lập hoặc các đảng phái chính trị không được loại trừ nhau mà phải chấp nhận nhau.

    Quyền lực nhà nước vốn dĩ đáng sợ nhất trên đời, nếu không bị kiểm soát chặt chẽ bởi toàn thể nhân dân thông qua nhiều tổ chức độc lập hoặc nhiều đảng phái chính trị thì quyền lực đó có thể làm hại bất cứ ai, kể cả chính nhà cầm quyền. Chính vì quyền lực nhà nước có thể làm hại bất cứ ai nên thể chế dân chủ phải bảo đảm cho nhân làm chủ đối với nhà nước pháp quyền bằng nhiều tổ chức độc lập hoặc nhiều đảng phái chính trị để nhân dân có thể kiểm soát chặt chẽ quyền lực đó [8].

    Bầu cử tự do, tức là nhà nước pháp quyền phải hoạt động theo nhiệm kỳ; sau mỗi nhiệm kỳ nhất định, nhà nước này phải thay đổi nhân sự thông qua bầu cử tự do, theo đó mọi cá nhân đều phải được tham gia lựa chọn những người có cả tài năng lẫn đức hạnh làm người lãnh đạo đồng thời cũng đều phải được ứng cử làm người lãnh đạo, nhưng chỉ được ứng cử vào một trong ba cơ quan khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp, nếu ứng cử vào cơ quan này thì không được ứng cử vào hai cơ quan kia hoặc nếu đắc cử vào cơ quan này thì phải từ bỏ chức vụ ở hai cơ quan kia để người đắc cử chỉ nắm được một trong ba quyền lực khác nhau: lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    Bầu cử tự do có một số tác dụng sau đây: 1/ Lựa chọn được những người tài đức làm quan chức nhà nước; 2/ Làm cho mọi quan chức nhà nước đều phải lệ thuộc vào dân chúng để phục vụ dân chúng; 3/ Ngăn ngừa được sự tha hoá hư hỏng trong nhà nước pháp quyền, tức là bảo tồn đạo đức cho nhà nước pháp quyền; vân vân [9].

    Đạo đức là những giá trị tinh thần làm cho bản tính vị kỷ thúc đẩy người ta hành động vị tha để mỗi cá nhân nhất định tự nguyện điều chỉnh hành vi ứng xử sao cho phù hợp với ý chí chung hoặc lợi ích chung.

    Nhà nước pháp quyền với ba thiết chế cơ bản: 1/ Tam quyền phân lập; 2/ Đa nguyên bình đẳng; 3/ Bầu cử tự do, làm cho mọi cá nhân đều phải hành xử theo đạo đức.

    Muốn tạo dựng được nhà nước pháp quyền để mọi người đều phải hành xử theo đạo đức, mọi cá nhân đều phải được dân chủ hoá thành người dân chủ.

    Dân chủ hoá là một quá trình phức tạp có thể được phân chia thành 5 giai đoạn khác nhau: 1/ Xây dựng một cơ sở tư tưởng; 2/ Xây dựng một đội ngũ cán bộ; 3/ Tạo lập các phương tiện cần thiết; 4/ Xây dựng cơ sở quần chúng; 5/ Thông qua Hiến pháp cho chế độ dân chủ. Trong đó giai đoạn đầu tiên đóng vai trò quan trọng nhất. Chính vì quan trọng nhất nên giai đoạn này khó khăn nhất chỉ có thể được thực hiện thành công bởi những tài năng xuất chúng. Đó là các triết gia hoặc các nhà tư tưởng [10].

    Dân chủ hoá không thể được thực hiện thành công bằng bạo lực hoặc lừa dối mà chỉ có thể được thực hiện thành công bằng SỰ THẬT, TÌNH YÊU THƯƠNG và LÒNG TRẮC ẨN, đòi hỏi mọi người phải biết ĐỐI THOẠI – TƯƠNG KÍNH – KHOAN DUNG. Vì bản tính vị kỷ tồn tại phổ biến ở mọi cá nhân sống vào mọi lúc nên nếu làm khác thì sẽ tự sát, nếu dùng bạo lực thì sẽ tự sát, nếu lừa dối thì sẽ tự sát!

    Dân chủ hoá phải tuân thủ nguyên tắc cùng thắng (the principle of winwin) sao cho không một kẻ nào bị thua mà tất cả cùng thắng: cả người đấu tranh lẫn người bị đấu tranh đều thắng. Chính bản tính vị kỷ đòi hỏi dân chủ hoá phải tuân thủ nguyên tắc cùng thắng.

    Dân chủ hoá được kết thúc khi thông qua được Hiến pháp cho chế độ dân chủ [11].

    Ở bất cứ đâu vào bất cứ lúc nào, tiến trình dân chủ hoá luôn luôn phải đối mặt với ít nhất hai lực cản ghê gớm nhất: lợi ích cục bộ ở tầng lớp lãnh đạo cùng với nhận thức chung ở mọi thành phần nhân dân. Tầng lớp lãnh đạo muốn giữ nguyên hiện trạng chính trị để hưởng lợi ích cục bộ hoặc tránh rủi ro bất định khiến họ không muốn dân chủ hoá hoặc thậm chí sẽ chống lại tiến trình dân chủ hoá. Nhưng nhận thức chung lại đóng vai trò quan trọng hơn nhiều: nếu nhận thức đó mà sai lầm hoặc tối tăm thì sẽ chỉ giúp tầng lớp lãnh đạo củng cố hiện trạng chính trị; ngược lại, nếu nhận thức đó mà đúng đắn hoặc sáng suốt thì sẽ thúc đẩy tiến trình dân chủ hoá cho dù tầng lớp lãnh đạo muốn chống lại cũng không thể chống lại được mà phải chấp nhận tiến trình dân chủ hoá để tồn tại trong thể chế dân chủ hoặc thậm chí sẽ chủ động thúc đẩy tiến trình dân chủ hoá để hạ cánh an toàn. Tại Việt nam hiện nay, tiến trình dân chủ hoá không chỉ phải đối mặt với hai lực cản kia mà còn phải đối mặt với ít nhất một lực cản khác ghê gớm hơn nhiều so với hai lực cản kia, đó là mối đe doạ thôn tính từ Đế quốc Tàu.

    Đế quốc Tàu có truyền thống lâu đời sống theo chính thể chuyên chế dựa trên Nho giáo [12]. Đến thế kỷ XX, truyền thống đó lại được kích hoạt mạnh mẽ bởi Chủ nghĩa MarxLenin khiến nước Tàu đã chuyên chế rồi lại càng chuyên chế hơn nữa [13]. Do những nguyên nhân sâu xa về địa lý chính trị nên Việt nam cũng tương đồng với Đế quốc Tàu về cả văn hoá chính trị lẫn thể chế chính trị nhưng Việt nam lại đang bị đe doạ thôn tính bởi chính Đế quốc Tàu [14].

    Chính vì mối đe doạ thôn tính từ Đế quốc Tàu đối với Việt nam nên tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam chỉ có thể được thực hiện thành công với ít nhất ba điều kiện cơ bản: Thứ nhất, nhận thức chung phải đúng đắn hoặc sáng suốt, tức là tư tưởng dân chủ phải được phổ biến rộng khắp trong xã hội trở thành tư tưởng chủ đạo để mọi người Việt nam đều thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước chân chính. Đó là một hệ tư tưởng dựa trên sự thật về Quốc gia Việt nam làm cho mọi người Việt nam đều hướng về lợi ích chung mà liên kết chặt chẽ với nhau để xây dựng một tương lai chung [15]. Đây là điều kiện tiên quyết tạo nên nội lực cho Việt nam, nếu không có điều kiện này thì mọi điều kiện khác đều vô nghĩa. Thứ hai, hợp tác quân sự với các nước dân chủ phải đủ mạnh mẽ để Việt nam có thể được bảo vệ về quân sự bởi các nước đó, ít nhất Mỹ cùng các đồng minh chiến lược phải hiện diện quân sự tại Việt nam hoặc xung quanh Đế quốc Tàu để có thể ngăn cản Đế quốc Tàu chống phá tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam. Thứ ba, Đế quốc Tàu phải suy yếu đến một mức độ nhất định khiến nó không thể can tiệp sâu rộng vào đời sống chính trị tại Việt nam hoặc không thể chống phá tiến trình dân chủ hoá tại Việt nam. Trong ba điều kiện đó, điều kiện thứ ba cũng như điều kiện thứ hai đang hình thành, điều kiện thứ nhất đóng vai trò quan trọng nhất như đã nói ở trên nhưng lại chưa hình thành. Giới đấu tranh cần phải hiểu biết sâu rộng về địa lý chính trị để đấu tranh đúng đắn theo phương pháp đúng đắn mới có thể tạo ra được điều kiện thứ nhất: không được chửi bới chính quyền, không được bạo hành với chính quyền, không được đe doạ lật đổ chính quyền, không được toan tính lật đổ chính quyền, không được làm cách mạng bằng bạo lực dưới mọi hình thức, tuyệt đối không được gây ra sợ hãi cho mọi quan chức nhà nước mà phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc bất hại (không được làm hại bất cứ ai), chỉ vận dụng triệt để phương pháp ôn hoà, bất bạo động, phải tránh đối đầu để chỉ đối thoại, phải tập trung truyền bá tư tưởng dân chủ cho mọi thành phần xã hội trong nhân dân để mọi thành phần đó đều có thể biết Đối thoạiTương kínhKhoan dung, phải nỗ lực tối đa để tạo ra điều kiện tiên quyết như đã nói ở trên. Chỉ khi đã có đủ ít nhất ba điều kiện đó mới có thể tiến hành sửa đổi Hiến pháp theo chiều hướng dân chủ.

    Song song với việc sửa đổi Hiến pháp theo chiều hướng dân chủ, cần phải thực thi nghiêm chỉnh một đạo luật đặc biệt về hoà hợp dân tộc nhằm ngăn ngừa việc trả thù báo oán giữa các thành phần khác nhau trong nhân dân đồng thời củng cố tăng cường sự đoàn kết quốc gia.

    Một khi đã xác lập được nền tảng tư tưởng cho tiến trình dân chủ hoá, đồng thời vượt qua được những thách thức về địa lý chính trị, Việt nam chắc chắn sẽ vươn mình lớn dậy thành một cường quốc về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hoá – tư tưởng v. v., để được nể trọng trên toàn thế giới.

    Suy ngẫm về dân chủ hoá Việt nam, không thể không nhắc đến Việt nam Cộng hoà.

    Việt nam Cộng hoà chính là miền Nam Việt nam dưới chính thể cộng hoà từ ngày 26 Tháng Mười 1955 đến ngày 30 Tháng Tư 1975. Được sáng lập bởi Ngô Đình Diệm (1901 – 1963), lúc đầu chính thể này vẫn còn mang tính chất độc tài. Hiến pháp 1956 tập trung quá nhiều quyền lực cho Tổng thống để Tổng thống có thể khuynh loát toàn bộ chính trường. Sau cuộc đảo chính quân sự lật đổ Ngô Đình Diệm vào ngày 01 Tháng Mười một 1963 được hậu thuẫn bởi người Mỹ khiến Ngô Đình Diệm bị thảm sát cùng với một số thân nhân, chính thể này lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng: không chỉ bị tấn công từ bên ngoài bởi Quân đội Cộng sản từ miền Bắc Việt nam mà còn bị tấn công từ bên trong bởi các tướng lĩnh quân đội tranh nhau nắm quyền lãnh đạo thông qua đảo chính quân sự xảy ra liên tục từ năm 1964 đến năm 1965. Người Mỹ đã can thiệp quân sự để cứu vãn chính thể này làm cho Chiến tranh Việt nam leo thang ác liệt. Hiến pháp Dân chủ được thông qua vào ngày 01 Tháng Tư 1967 thường được gọi tên bằng “Hiến pháp 1967” đã chấm dứt giai đoạn khủng hoảng. Tuy nhiên, cuộc tấn công đẫm máu trên khắp miền Nam Việt nam vào đầu năm 1968 (Tết Mậu thân) được thực hiện bởi Quân đội Cộng sản đã làm cho người Mỹ phải rút hết quân đội khỏi Việt nam vào năm 1973 để chính thể cộng hoà bị suy sụp nghiêm trọng hơn nữa. Quân đội Cộng sản chiếm được Sài gòn vào ngày 30 Tháng Tư 1975 đã đặt dấu chấm hết cho Việt nam Cộng hoà [16].

    Như vậy Việt nam Cộng hoà chỉ tồn tại được ngắn ngủi với một lịch sử bi thương có thể được phân chia thành ba giai đoạn chính: giai đoạn hình thành từ năm 1955 đến năm 1963, giai đoạn hỗn loạn từ năm 1964 đến năm 1966, và giai đoạn suy vong từ năm 1967 đến năm 1975. Trong cả ba giai đoạn đó, chính thể cộng hoà đều có những nhược điểm hiển nhiên vừa bắt nguồn từ những nguyên nhân nội tại vừa bắt nguồn từ những nguyên nhân ngoại lai. Trong giai đoạn hình thành, văn hoá chính trị vẫn mang tính chất cổ truyền dựa trên Nho giáo vốn xuất nguồn từ nước Tàu làm cho chính thể cộng hoà vào giai đoạn này không thể dân chủ thực sự. Ngay cả Ngô Đình Diệm kịch liệt chống cộng sản nhưng lại cực kỳ tâm đắc với Nho giáo làm cho chính thể cộng hoà được sáng lập bởi chính ông không thể tránh khỏi tính chất độc tài: tránh vỏ dưa nhưng lại gặp vỏ dừa, tránh độc tài cộng sản nhưng lại quay trở về độc tài phong kiến dựa trên Nho giáo. Trong giai đoạn hỗn loạn, chính thể cộng hoà vẫn chưa thoát khỏi tính chất độc tài lại phải chịu đựng áp lực to lớn hơn nữa: không chỉ bị tấn công quân sự bởi Quân đội Cộng sản từ miền Bắc mà còn bị áp đặt trắng trợn bởi người Mỹ từ bên ngoài Việt nam làm cho các tướng lĩnh cộng hoà xâu xé nhau, chưa kể đua nhau tham nhũng bắt đầu từ đó. Trong giai đoạn suy vong, chính thể cộng hoà đạt được hình thức hoàn chỉnh với Hiến pháp 1967 nhưng lại bị đánh một đòn chí tử vào Tết Mậu thân (đầu năm 1968) khiến người Mỹ nhận thấy mình sai lầm rồi bỏ rơi Việt nam Cộng hoà từ năm 1973 để chính thể này bị tiêu diệt vào ngày 30 Tháng Tư 1975 [17].

    Trong suốt cuộc Chiến tranh Việt nam, tất cả các bên liên quan đều phạm sai lầm chết người gây ra đau khổ nhiều nhất cho Quân đội Cộng hoà để tất cả những người lính cộng hoà đều phải chiến đấu trong tuyệt vọng. Đó chính là nguyên nhân làm cho tôi yêu những người lính cộng hoà. Tôi bày tỏ tình yêu đối với những người lính cộng hoà không phải để khơi lại quá khứ đau thương mà chỉ để gợi ý cho mọi người Việt nam hãy hoà giải với nhau. Hoà giải với nhau để xây dựng một nước Việt nam thống nhất dựa trên chế độ dân chủ!

    Vì Việt nam Cộng hoà đã bị tiêu diệt đẫm máu vào ngày 30 Tháng Tư 1975 bởi những người Cộng sản Việt nam nên tất cả những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà đều có thể gây ra nỗi sợ hãi cho Chính quyền Cộng sản tại Việt nam hiện nay, cũng như vong hồn từ nạn nhân luôn luôn gây ra nỗi ám ảnh cho sát thủ vậy. Cũng chính vì tất cả những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà đều có thể gây ra nỗi sợ hãi cho Chính quyền Cộng sản tại Việt nam hiện nay nên bất cứ ai tham gia công cuộc dân chủ hoá cho Việt nam bằng phương pháp ôn hoà, bất bạo động, cũng tuyệt đối không nên dùng tất cả những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà, như Cờ Vàng chẳng hạn, v. v., làm biểu tượng đấu tranh. Nếu dùng những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà làm biểu tượng đấu tranh thì sẽ gây ra nỗi sợ hãi cho Chính quyền Cộng sản tại Việt nam hiện nay. Vì sẽ gây ra nỗi sợ hãi cho Chính quyền Cộng sản tại Việt nam hiện nay nên bất cứ ai dùng những gì thuộc về Việt nam Cộng hoà làm biểu tượng đấu tranh cũng sẽ bị đàn áp khốc liệt. Cần phải hiểu đúng đắn rằng: đấu tranh dân chủ bằng phương pháp ôn hoà, bất bạo động, không được gây ra sợ hãi cho đối phương, không được gây ra đau khổ cho đối phương, không được gây ra chết chóc cho đối phương, không được gây ra mát mát cho đối phương, không được gây ra thù hận cho đối phương, v. v.. Tóm lại, không được gây ra vấn đề cho đối phương mà phải mang lại giải pháp cho đối phương, tức là phải chỉ ra lối thoát cho đối phương để tất cả cùng thắng.

    Nếu người nào bác bỏ ý kiến này hoặc cho ý kiến này không phù hợp với người Việt nam thì chỉ chứng tỏ rằng người đó chưa trưởng thành về chính trị, chưa hiểu đúng về phương pháp đúng cho đấu tranh dân chủ, chưa hiểu đúng về cốt lõi bất hại cho đấu tranh ôn hoàbất bạo động.

    Tôi nhắc lại về Việt nam Cộng hoà không phải để gợi nhớ lại về quá khứ đau thương mà chỉ để bày tỏ mong muốn về sự hoà hợp quốc gia làm cho người Việt nam hoà giải với nhau. Hoà giải với nhau để xây dựng một nước Việt nam thống nhất dựa trên chế độ dân chủ. Một nước Việt nam thống nhất dựa trên chế độ dân chủ sẽ cần một lá cờ khác, tuy vẫn kế thừa cả màu Vàng lẫn màu Đỏ từ cả Cờ Vàng lẫn Cờ Đỏ nhưng phải thêm màu Xanh tượng trưng cho Hoà bình. Màu Xanh phải chiếm tỷ lệ áp đảo ít nhất cũng phải bằng cả hai màu kia cộng lại.

    Màu Xanh không chỉ tượng trưng cho Hoà bình mà còn có thể tượng trưng cho cả Tình yêu nữa!

    Nhân Ngày Valentine, tôi xin chia sẻ ưu tư chính trị với đồng bào Việt nam từ trong nước đến hải ngoại: hãy chấm dứt thù hận, đừng kéo dài thù hận, hãy vượt qua thù hận để yêu thương [18].

    Tôi xin cầu chúc cho mọi người Việt nam được sống an lành với thông điệp tình yêu từ Ngày Valentine!

    HÀ HUY TOÀN

    ____________________________

    [1] C. S. Montesquieu đã phát hiện được rằng sự khiếp sợ làm động cơ cho chính thể chuyên chế. Nhưng ông lại xác quyết chủ quan rằng sự khiếp sợ đưa đến chính thể chuyên chế, tức là ông quy định một trình tự trái ngược cho mối quan hệ thực tế giữa chính thể chuyên chế với sự khiếp sợ (Charles de Secondat Montesquieu: De l’Esprit des Lois. Traité, Geneve 1748. Garnier Frères, Libraires-Éditeurs. Paris 1874. Hoàng Thanh Đạm chuyển dịch từ Pháp ngữ sang Việt ngữ: Tinh thần Pháp luật. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội 1996. Quyển III: Bàn về những nguyên tắc của ba loại chính thể, từ trang 54 đến trang 57. Chương 9: Nguyên tắc của chính thể chuyên chế, trang 56. Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà nội 2006. Quyển III, từ trang 55 đến trang 58. Chương 9, trang 58). Có thể xem tác phẩm này trên Internet bằng Pháp ngữ (http://www.ecole-alsacienne.org/CDI/pdf/1400/14055_MONT.pdf) hoặc Anh văn (https://archive.org/details/spiritoflaws01montuoft), v. v.. Thực tế khách quan lại cho thấy chính thể chuyên chế đưa đến sự khiếp sợ, nếu không có chính thể chuyên chế thì đương nhiên không thể có sự khiếp sợ, chính thể chuyên chế làm cho hầu hết mọi người đều khiếp sợ như nhau. Ở đây tôi đã đảo ngược cái trình tự trái ngược đã được thiết lập bởi C. S. Montesquieu. Đây cũng là một điểm khác biệt phân biệt tôi với ông.

    [2] C. S. Montesquieu đã phát hiện được rằng đạo đức làm động cơ cho chính thể dân chủ. Nhưng ông lại xác quyết chủ quan rằng đạo đức đưa đến chính thể dân chủ (Charles de Secondat Montesquieu: De l’Esprit des Lois. Traité, Geneve 1748. Garnier Frères, Libraires-Éditeurs. Paris 1874. Hoàng Thanh Đạm chuyển dịch từ Pháp ngữ sang Việt ngữ: Tinh thần Pháp luật. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà nội 1996. Quyển III: Bàn về những nguyên tắc của ba loại chính thể, từ trang 54 đến trang 57. Chương 3: Nguyên tắc của chính thể dân chủ, từ trang 54 đến trang 55. Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà nội 2006. Quyển III, từ trang 55 đến trang 58. Chương 3, từ trang 55 đến trang 56). Tuy nhiên, thực tế khách quan lại cho thấy chính thể dân chủ đưa đến đạo đức khiến tôi phải đảo ngược trình tự cho mối quan hệ giữa đạo đức với chính thể dân chủ đã được xác quyết chủ quan bởi C. S. Montesquieu.

    [3] Xem Hà Huy Toàn: Pháp luật là gì? Dân Luận, ngày 03 Tháng Mười một 2017 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20171103/phap-luat-la-gi).

    [4] Xem Hà Huy Toàn: Quan niệm đúng về Hiến pháp. Dân Luận, ngày 20 Tháng Năm 2016 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20160520/quan-niem-dung-ve-hien-phap).

    [5] Xem Hà Huy Toàn: Chủ nghĩa cá nhân cần được hiểu thế nào cho đúng? Diễn đàn Xã hội Dân sự, ngày 01 Tháng Giêng 2014. Trang mạng đó đã bị phá bỏ nhưng tiểu luận này vẫn được lưu giữ tại Facebook (https://www.facebook.com/diendanxhds/posts/407606209372159).

    [6] Độc giả có thể hiểu đúng về nhà nước pháp quyền theo triết lý chính trị được xác lập bởi Hà Huy Toàn tại đây (https://www.danluan.org/tu-khoa/ha-huy-toan).

    [7] Xem Hiến pháp Nga bằng Việt ngữ trên Internet (https://diendancuachungta.com/tai-lieu-tham-khao/hien-phap-nga/). Có thể xem thêm thông tin về Hiến pháp Nga tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Конституция_Российской_Федерации) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Constitution_of_Russia) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Constitution_de_la_fédération_de_Russie) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Verfassung_der_Russischen_Föderation) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Hiến_pháp_Liên_bang_Nga) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/俄罗斯联邦宪法), v. v.. Cũng có thể xem thông tin về Hiến pháp Thái lan trên Bách khoa Toàn thư Mở bằng Thái ngữ (https://th.wikipedia.org/wiki/รัฐธรรมนูญแห่งราชอาณาจักรไทย) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Constitution_of_Thailand) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Hiến_pháp_Thái_Lan), v. v..

    [8] Độc giả có thể tìm hiểu triết lý chính trị được xác lập bởi Hà Huy Toàn tại đây (https://www.danluan.org/tu-khoa/ha-huy-toan).

    [9] Xem chú thích 6.

    [10] Xem Hà Huy Toàn: Cần minh định về phương pháp đấu tranh. Dân Luận, ngày 6 Tháng Tư 2017 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20170404/can-minh-dinh-ve-phuong-phap-dau-tranh). Trong tiểu luận đó, tôi đã ghi nhận Tập hợp Dân chủ Đa nguyên đã đóng góp được một số thành tựu triết học rất đáng kể cho công cuộc dân chủ hoá tại Việt nam hiện nay, đồng thời tôi cũng chỉ ra một số lỗ hổng quan trọng cần phải được lấp đầy cho những thành tựu đó. Độc giả có thể xem thêm Hà Huy Toàn: Chính trị học cho Việt nam? Dân Luận, ngày 6 Tháng Hai 2017 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20170206/chinh-tri-hoc-cho-viet-nam).

    [11] Xem Hà Huy Toàn: Cần minh định về phương pháp đấu tranh. Dân Luận, ngày 6 Tháng Tư 2017 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20170404/can-minh-dinh-ve-phuong-phap-dau-tranh).

    [12] Xem Hà Huy Toàn: Nho giáoMột hệ tư tưởng nguy hiểm. Dân Luận, ngày 10 Tháng Tám 2015. Xem cả đoạn 1 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150810/ha-huy-toan-nho-giao-mot-he-tu-tuong-nguy-hiem-1) lẫn đoạn 2 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150810/ha-huy-toan-nho-giao-mot-he-tu-tuong-nguy-hiem-2).

    [13] Xem Hà Huy Toàn: Chủ nghĩa Marx. Dân Luận, ngày 15 Tháng Tám 2015 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20150814/ha-huy-toan-chu-nghia-marx).

    [14] Xem thông tin về Việt nam tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Việt_Nam) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/越南) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Vietnam) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Việt_Nam) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Vietnam) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Вьетнам), v. v..

    [15] Xem Hà Huy Toàn: Việt nam với lịch sử bi thương? Dân Luận, ngày 3 Tháng Hai 2018 (https://www.danluan.org/tin-tuc/20180203/viet-nam-voi-lich-su-bi-thuong).

    [16] Có thể xem thêm thông tin về Việt nam Cộng hoà tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Việt_Nam_Cộng_hòa) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/越南共和国) hoặc Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/South_Vietnam) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/République_du_Việt_Nam) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Südvietnam) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/Южный_Вьетнам), v. v..

    [17] Trước khi can thiệp quân sự vào Việt nam, người Mỹ hầu như không hiểu gì hoặc chỉ hiểu rất sai về Việt nam, hiểu sai về chủ nghĩa cộng sản Việt nam, hiểu sai về quan hệ truyền thống giữa Việt nam với nước Tàu. Với những mâu thuẫn nội tại về logic, chủ nghĩa cộng sản sẽ dẫn đến chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa quốc gia sẽ dẫn đến chế độ độc tài, chế độ độc tài lại dẫn đến xung đột quốc gia, tức là các quốc gia cộng sản sẽ xung đột với nhau. Nhưng người Mỹ chỉ nhìn nhận đơn giản thế này: Cộng sản Việt nam làm lính xung kích cho cả Cộng sản Nga lẫn Cộng sản Tàu bành trướng xuống Đông Nam Á châu. Chính vì nhìn nhận sai lầm như vậy nên người Mỹ đã can thiệp quân sự vào Việt nam nhằm ngăn chặn chủ nghĩa cộng sản tràn xuống Đông Nam Á châu. Can thiệp quân sự theo nhãn quan sai lầm như vậy đã dẫn đến hậu quả đau đớn như đã thấy.

    [18] Xem thông tin về Ngày Valentine tại Bách khoa Toàn thư Mở bằng Anh văn (https://en.wikipedia.org/wiki/Valentine%27s_Day) hoặc Pháp ngữ (https://fr.wikipedia.org/wiki/Saint-Valentin) hoặc Đức ngữ (https://de.wikipedia.org/wiki/Valentinstag) hoặc Nga văn (https://ru.wikipedia.org/wiki/День_святого_Валентина) hoặc Việt ngữ (https://vi.wikipedia.org/wiki/Ngày_Valentine) hoặc Tàu ngữ (https://zh.wikipedia.org/wiki/情人节), v. v..

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi