Cải cách về kinh tế và chính trị tại Việt Nam [*]

  • Bởi Khách
    05/02/2018
    5 phản hồi

    Nguyễn Hồng Hải

    Kính gửi: Ban Biên Tập.

    Do mục đích của trang là tập hợp các góc nhìn khác nhau về kinh tế và chính trị của Việt Nam và khai trí. Nên tôi gửi bài viết này với góc nhìn kinh tế độc lập không đứng dưới giác độ của phe phái nào và cũng không phải như nhưng con vẹt để ca tụng chế độ.

    Nguyễn Hồng Hải tại Canada.

    Năm 2017 đánh dấu khá nhiều những cải cách về kinh tế và chính trị tại Việt Nam, đây cũng là năm đầu tiên kể từ thời điểm sang Canada tôi quan tâm trở lại tới những vấn đề về kinh tế, chính trị tại Việt Nam vì trước đó không có những thay đổi thực sự nào đáng để chú ý. Trước hết cũng phải chúc mừng cho người dân và doanh nghiệp tại Việt Nam khi bức tranh tổng thể về kinh tế của đất nước có những dấu hiệu khởi sắc rõ rệt. Thể hiện qua những con số như chứng khoán tăng gần 50% trong năm 2017 và tiếp tục tăng mạnh đầu năm 2018. Dòng vốn ngoại đổ vào Việt Nam khá mạnh mẽ. Kinh tế tăng trưởng vượt tất cả mọi dự báo của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước. Du lịch Việt Nam lần đầu tiên đón hơn 13 triệu khách quốc tế. Ngân hàng và các công ty lớn tại Việt Nam lại bắt đầu thông báo những khoản lãi khủng, những khoản tiền thưởng lớn cho nhân viên…

    Cũng giống như thành công của đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam. Mỗi sự thành công đều có những nguyên nhân sâu xa đã được chuẩn bị từ trước đó. Năm 2017 là năm lần đầu tiên các báo lớn trong nước đăng tải nghị quyết của Bộ Chính Trị Việt Nam đề cập tới việc cải cách về kinh tế và hệ thống chính trị sâu rộng. Như vậy, mọi thứ không còn là chỉ phát biểu và lời nói của cán bộ lãnh đạo mà nó đã bắt đầu cụ thể hóa bằng chính sách và hành động. Cuối năm âm lịch, tôi muốn tổng kết một số điểm nhấn quan trọng mà tôi cho rằng nó có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của Việt nam trong hiện tại và tương lại.

    Điểm nhấn đầu tiên trong việc cải cách phải nhắc đến là việc chống tham nhũng tại Việt Nam. Đây là điều mà những người kinh doanh quan tâm nhất đặc biệt các nhà đầu tư nước ngoài. Họ muốn biết việc chống tham những là thực chất hay chỉ là cuộc đấu đá phe phái chính trị tạm thời. Khi đã bỏ vốn kinh doanh tại một quốc gia, đặc biệt đổ tiền vốn vào làm ăn lớn và lâu dài. Nếu quốc gia đó vẫn bị điều hành bởi các nhóm lợi ích và tham nhũng tràn lan thì các chính sách sẽ liên tục thay đổi phục vụ cho quyền lợi các nhóm lợi ích, người kinh doanh nghiêm chỉnh sẽ rất khó có cơ hợi để kinh doanh và dễ bị mất tài sản, lợi ích vào tay các nhóm lợi ích khác nhau.

    Công cuộc chống tham nhũng tại Việt Nam và Trung Quốc có những dấu hiệu vượt qua khỏi đấu tranh về phe nhóm. Bởi thông thường nếu chỉ đấu tranh giữa các phe nhóm sẽ chỉ tập trung vào một tới hai vụ trọng điểm lớn. Sau đó, khi đã có phân định thắng thua thì các bên sẽ có những thỏa thuận để chuyển giao về lợi ích và quyền lực. Việc đấu tranh cũng chỉ tập trung chủ yếu ở Trung ương. Nếu nhìn cách Việt Nam chống tham những hiện tại thì hoàn toàn khác với trước kia. Việc chống tham những trải rộng từ việc kỷ luật, cắt chức các quan chức từ Trung ương tới địa phương. Tất cả các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, tư nhân đều trong tầm ngắm, các vụ án xét xử liên miên, một người phải hầu tòa liên tục vì liên quan tới nhiều vụ án khác nhau. Những luật bất thành văn trong Đảng cộng sản từ trước tới nay bị phá vỡ cụ thể như Ủy viên Bộ Chính trị vẫn bị xét xử, nhiều quan chức về hưu cũng bị “ sờ gáy”, không còn khái niệm “ hạ cánh an toàn”.

    Tất nhiên tại Việt Nam vẫn sẽ có những nghi ngờ vì có nhiều người vẫn chưa bị đụng tới hoặc được nương nhẹ, điều này cũng dễ hiểu khi đứng dưới giác độ của quản lý, giống như một người lãnh đạo tiếp nhận một doanh nghiệp làm ăn bết bát, phần lớn nhân viên đều kém về năng lực và đạo đức, người lãnh đạo lại chưa hiểu biết gì về thị trường mới thì việc đầu tiên là phải phân loại. Những đối tượng nào cần sa thải và những đối tượng nào cần tiếp tục sử dụng và đào tạo lại để hệ thống có thể tiếp tục hoạt động mà không thể sả thải tất cả cùng một lúc. Nếu chống tham nhũng chỉ là vỏ bọc cho việc đấu đá phe phái thì thông thường người ta cũng chỉ tập trung vào bắt bớ phe đối lập mà cũng không quan tâm tới xây dựng các giải pháp để ngăn chặn và phòng ngừa tham những. Nhưng hiện tại ở Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản trong cách tiếp cận vấn đề chống tham nhũng. Như các thay đổi liên quan tới tổ chức bổ nhiệm nhân sự, xây dựng lại tiêu chuẩn đánh giá cán bộ, các giải pháp chống chạy chức, chạy quyền, các giải pháp liên quan hạn chế quyền lực, việc kê khai tài sản bắt đầu được thực hiện nghiêm túc hơn, những vấn đề liên quan tới quà cáp, mối quan hệ địa phương và Trung ương đã thay đổi….

    Đa đảng cũng là một trong những giải pháp để giảm thiểu tham nhũng nhưng kèm với nó vẫn phải có những nỗ lực từ những người đứng đầu. Việc chống tham tại những quốc gia như Việt Nam hoặc những quốc gia đa đảng nhưng mức độ phát triển và dân chủ còn thấp quanh Asean, thậm chí cả như Nga và Ấn độ thì đều phải xuất phát từ nỗ lực của người đứng đầu, không phải tự nhiên mà dân Philippines bầu cho một ông Tổng thống ăn nói rất “ bỗ bã” nhiều hành động khá cực đoan bất chấp pháp luật, vì họ cảm nhận bản chất ông ta muốn làm cho đất nước tốt lên bằng việc chống tham nhũng và tệ nạn.

    Điểm nhấn thứ hai là việc sử dụng hệ thống các chuyên gia và tư vấn trong phát triển kinh tế và cải cách. Thể hiện bên Đảng thì thành lập các Ban Kinh Tế, Ban chống tham nhũng. Phía chính phủ cũng đẩy mạnh sự dụng các chuyên gia kinh tế và chính trị, các cuộc gặp và thảo luận với doanh nghiệp tại các diễn đàn doanh nghiệp để lấy ý kiến phục vụ điều hành của chính phủ thực hiện nghiêm túc và bài bản hơn trước khá nhiều. Thực tế đối Việt Nam, chỉ cần một chính phủ cầu thị và biết lắng nghe sẽ có rất nhiều giải pháp để phát triển. Cũng không khó để các chuyên gia phát hiện các bệnh và có liệu pháp điều trị cho kinh tế Việt Nam. Vai trò của những lãnh đạo trẻ có học thức, có năng lực, ít dính dáng tiêu cực trong chính phủ được sử dụng nhiều hơn. (Vũ Đức Đam, Phạm Bình Minh, Vương Đình Huệ…). Trong những chính sách về kinh tế của Viêt Nam đưa ra năm 2017 thì có những đột phá lớn sau đây:

    - Bộ công thương cắt giảm 50% điều kiện kinh doanh, đây là bước đột phá mang tính lịch sử. Một trong những phiền phức lớn đối với các doanh nghiệp kinh doanh tại Việt Nam và cũng là điều kiện cho tham những là thủ tục rườm rà và đủ các loại giấy phép. Việc cắt giảm các điều kiện kinh doanh này đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp kinh doanh. Số doanh nghiệp thành lập mới tại Việt Nam năm 2017 đạt con số kỷ lục là 154.000 doanh nghiệp. Nhiều giải pháp khác nhau cũng được đưa ra để hỗ trợ cho doanh nghiệp mới thành lập như sự vào cuộc của giới truyền thông, sự vào cuộc của các quỹ đầu tư mạo hiểm… đã làm cho môi trường khởi nghiệp tại Việt nam thực sự sôi động trong năm vừa qua.

    - Hội nhập và giao thương được đẩy mạnh: Để kinh tế đất nước phát triển thì từ xa xưa người ta đã đúc kết đất nước phải mở rộng giao thương với các nước khác trên thế giới. Với thời đại công nghiệp và công nghệ thông tin, một quốc gia muốn đất nước phát triển nhanh hơn thì phải tạo các điều kiện khác nhau đảm bảo cho quá trình hội nhập và giao thương hàng hóa của đất nước với thế giới càng nhanh chóng càng hiệu quả càng tốt. Năm 2017 có nhiều quyết định nhằm hỗ trợ cho logistic tại Việt Nam như Thành lập liên minh hỗ trợ xuất khẩu, các tuyến đường vận chuyển lớn đường sắt giữa Việt Nam và Trung Quốc hình thành bắt đầu cho nỗ lực một vành đai một con đường. Các cầu vận tải hàng không được thành lập. Các hiệp định thương mại lớn như WTO bắt đầu có hiệu lực …. Năm 2017 cũng là năm Việt Nam tổ chức diễn đàn thanh toán không dùng tiền mặt hoành tráng nhất với những cam kết mạnh mẽ từ Chính phủ và sẽ cho phép các công ty lớn về thanh toán không dùng tiền mặt vào hoạt động tại Việt nam. Điều này sẽ tạo điều kiện cho kinh doanh nhanh chóng, minh bạch hơn rất nhiều.

    - Du lịch “ mỏ vàng của Việt Nam” đã được chú ý một cách nghiêm túc: Có lẽ ai cũng đều biết Việt Nam có lợi thế về điều kiện tự nhiên rất lớn để phát triển du lịch, thậm chí còn hơn nhiều Thái Lan. Nhưng chưa có những nỗ lực thực sự từ Trung ương liên quan tới phát triển du lịch. Năm 2017 mọi việc đã thay đổi, đã có nghị quyết về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Việt nam, luật du lịch được thông qua năm 2017. Hàng loạt các hoạt động liên quan tới quảng bá du lịch của Việt Nam được thực hiện, bổ nhiệm những người nổi tiếng làm đại sứ du lịch, cấp thị thực điện tử cho du khách nước ngoài, bắt đầu có những nỗ lực nhằm thúc đẩy sự liên kết giữa các doanh nghiệp du lịch và các doanh nghiệp công nghệ, tiếp thị, thanh toán, bảo hiểm… Con số 13.7 triệu khách du lịch tới Việt nam năm 2017 chắc sẽ còn tiếp tục tăng trong các năm tiếp theo nếu Việt Nam tiếp tục có những bước đi và quan tâm đúng hướng tới lĩnh vực này.

    Điểm nhấn thứ ba liên quan tới việc bắt đầu đưa ra những giải pháp liên quan tới việc cải tổ bộ máy nhà nước. Như việc phân chia quyền lực giữa Trung ương và địa phương. Ban hành cơ chế đặc thù thử nghiệm cho một số tỉnh thành phố. Sáp nhập các tỉnh thành. Thành lập các khu đặc khu kinh tế. Đã từ lâu hệ thống chính trị của Việt Nam có nhiều hạn chế lớn gây cản trở cho việc điều hành và quản lý. Một số điểm cụ thể sau đây:

    - Tuy rằng Việt Nam có duy nhất một đảng nắm quyền, nhưng các tỉnh thành và địa phương tổ chức thành hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân để quản lý. Vai trò của hội đồng nhân dân rất mờ nhạt trong quản lý nhưng nhiều khi tạo ra sự kiềm chế và những rào cản trong việc điều hành của ủy ban nhân dân. Các quan chức sợ đưa ra những quyết định đột phá, vì sợ trách nhiệm. Những quyết định mới đưa ra chậm chạm và lúc nào cũng cần thống nhất ý kiến tập thể. Khi sai cũng không có cá nhận chịu trách nhiệm. Nên tốt nhất là tổ chức lại theo mô hình thị trưởng. Tập trung vào một cơ quan duy nhất đề điều hành địa phương và người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về những điều hành của mình.

    - Bộ máy nhà nước Việt Nam được phân quá nhiều tầng nấc, quá cồng kềnh. Không những mỗi cấp chính quyền được phân ra bên Đảng, bên chính quyền mà lại còn tầng nấc từ Trung ương, tỉnh, huyện, cấp xã, phường, xóm. Với thời đại công nghệ thông tin hiện tại, gần như người dân nào cũng có điện thoại, internet phổ cập tới nông thôn, làng xóm. Việt Nam bắt đầu nghiên cứu thành lập các thành lập thành phố thông minh, chính phủ điện tử. Ngoài việc cần sáp nhập hai hệ thống hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân làm một thì cần loại bỏ cấp xã, phường, xóm. Thay đổi quản lý công dân theo dạng công dân điện tử, các giấy tờ thủ tục dần được số hóa. Số lượng tỉnh thành của Việt Nam là 64 cũng quá lớn so với số dân và số tỉnh thành của Trung Quốc chỉ có hơn 20 tỉnh thành thì cũng đang cần nghiên cứu để sáp nhập lại.

    - Phân cấp và phân quyền giữ Trung ương và địa phương: Một trong những điểm được nói đến nhiều tại Việt nam là tham nhũng “ quyền lực”. Với tổ chức hiện tại như ở VN quyền lực tập trung quá nhiều tại Trung ương và các địa phương rất khó chủ động trong việc điều hành và phát triển địa phương . Dẫn đến hiện tượng địa phương thường chạy lên trung ương để “ xin xỏ”. Cấp dưới chạy cấp trên xin phê duyệt… Do vậy, để chống tham nhũng và tạo thế chủ động cho địa phương thì việc phân quyền mạnh mẽ hơn cho các cấp địa phương và định rõ trách nhiệm cho cá nhân là quan trọng. Đang có những thay đổi trong việc phân quyền trong bộ máy chính quyền tại Việt Nam. Điển hình như việc Việt nam đang có dự án sẽ mở ra nhiều khu kinh tế mở. Mô hình này khá thành công tại Trung Quốc biến những khu vực vốn nghèo nàn lạc hậu thành những trung tâm kinh tế bằng việc giao quyền chủ động cho các lãnh đạo khu kinh tế. Đây cũng “ những phòng thí nghiệm” cho các chính sách của Việt Nam và sẽ nhân rộng ra khắp cả nước nếu thành công. Sài gòn cũng đã bắt đầu được giao cơ chế đặc thù để thử nghiệm. Người ta cũng bắt đầu nghiên cứu tới kế hoạch tăng lương cho các công chức song song tới việc cắt giảm biên chế. Bởi dẫu sao muốn người giỏi và hạn chế tiêu chức vẫn phải đảm bảo chế độ cho những người làm công chức, quản lý đất nước.

    - Ngay cả hệ thống tòa án và xét xử của Việt Nam cũng có những thay đổi tích cực hơn. Từ việc xét xử “ án tại tòa” khác hẳn với trước đây, hoặc việc truyền thông công khai các diễn biến tại phiên tòa cũng cho người dân có cái nhìn đa chiều về các vụ án.

    Có thể còn khá nhiều cải tổ và cải cách khác tại Việt Nam, mà việc đọc và tổng hợp một số thông tin báo chí tôi cũng chưa nắm được hết. Nhưng bức tranh về kinh tế và chính trị tại Việt Nam đã có nhiều nét sáng sủa hơn trước khá nhiều và đang dần biến đổi về chất. Thế giới đang chứng kiến những sự thay đổi và thử nghiệm các mô hình khác nhau. Kể cả nước Mỹ vốn được coi là hình mẫu chuẩn cho nền kinh tế thị trường và dân chủ thì người dân cũng đã chán ngán với mô hình cũ làm nhiều người dân mất việc và các doanh nghiệp mang vốn và công nghệ ra nước ngoài. Việt nam và Trung Quốc cũng đang tìm một mô hình thay đổi phù hợp hơn, tuy chưa đề cập tới chuyện đa đảng nhưng ít ra đã có nhìn nhận thực chất về những hạn chế và yếu kém của mô hình cũ và đang thay đổi dần dần. Giai đoạn hiện tại vẫn là giai đoạn giao thoa giữa cái mới và cái cũ. Để có sự phát triển bền vững, lâu dài thì cần nhìn đội ngũ lãnh đạo kế cận tiếp theo sẽ là những ai để có thể tiếp tục những hướng cải cánh mới và mạnh mẽ hơn cho Việt Nam hay không trong tương lai. Ít nhất từ Tết năm nay Việt Nam cũng ăn mừng lớn hơn với nhiều màu sắc hơn so với năm ngoái. Trong khi năm ngoái không có một điểm bắn pháo hoa trên cả nước thì riêng Hà nội năm nay cũng có tới 30 điểm bắn pháo hoa như để mừng cho thành công bước đầu của những cải cách mới.

    [*] Bài viết thể hiện quan điểm cá nhân, không nhất thiết phải trùng với quan điểm của Ban Biên Tập Dân Luận. Mời độc giả tham khảo và cùng phản biện.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    http://vi.rfi.fr/viet-nam/20180219-dong-bang-cuu-long-di-cu-bien-doi-khi-hau

    Đồng bằng Cửu Long: Áp lực di cư do biến đổi khí hậu

    (Thanh Phương)

    Đồng bằng sông Cửu Long là một trong những vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất thế giới. Ít nhất 15% tăng trưởng kinh tế của Việt Nam là đến từ vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nhưng vùng có 18 triệu dân này cũng là một trong những khu vực bị biến đổi khí hậu tác động nhiều nhất và chính điều này đang làm gia tăng áp lực về di cư tại đồng bằng sông Cửu Long.

    Tác động của biến đổi khí hậu lên kinh tế

    Trong một báo cáo được công bố ngày 09/01/2018, Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF nhấn mạnh, Việt Nam đặc biệt dễ bị tác động của biến đổi khí hậu, bởi vì nước này có bờ biển dài đến gần 3.500 km và phần chủ yếu của tài sản kinh tế quốc gia là nằm ở những vùng đất thấp ven biển. Tính từ năm 1990 đến nay, trung bình hàng năm, thiên tai đã khiến 500 người chết và khiến Việt Nam mất đi 1% GDP.

    Theo thẩm định của IMF, những tác động của biến đổi khí hậu (nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng cao, di cư do khí hậu) có thể khiến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giảm đi 10% và ảnh hưởng đến 12% dân số nước này vào năm 2021.

    Trong báo cáo nói trên, IMF cảnh báo: “Biến đổi khí hậu rất có thể sẽ làm gia tăng áp lực lên môi trường: các cơn bão thường xuyên hơn và dữ dội hơn có thể sẽ gây tác hại cho mùa màng, làm giảm thu nhập của nông dân, ảnh hưởng đến an ninh lương thực và xuất khẩu hàng hóa.” Định chế này dự báo thêm: “ Những nguy cơ đó sẽ tác động nhiều nhất lên người nghèo, buộc họ phải di cư đến những vùng trong nội địa và đến những thành phố lớn hơn.”

    Đồng bằng Cửu Long mất 1 triệu dân

    Theo một nghiên cứu mới đây của giáo sư Alex Chapman, Đại Học Southampton, Anh Quốc và giáo sư Văn Phạm Đăng Trì, Đại Học Cần Thơ, làn sóng di cư hiện đang gia tăng trong một thập niên qua đã khiến vùng đồng bằng sông Cửu Long mất đi 1 triệu dân trên tổng dân số 18 triệu người. Cụ thể là đã có 1,7 triệu dân di cư khỏi vùng này, trong khi chỉ có khoảng 700 ngàn dân đến định cư ở đây. Tỷ lệ di cư này là cao gấp đôi mức trung bình của cả nước.

    Theo nghiên cứu của hai vị giáo sư nói trên, có nhiều yếu tố liên quan đến biến đổi khí hậu thúc đẩy di dân ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Một số người đã phải di cư do nhà của họ bị sập vì nước biển xói mòn vùng bờ biển. Hàng trăm hộ đã phải đi nơi khác kiếm sống do tình trạng ngập mặn. Số khác thì không thể tiếp tục sống ở đây do nạn hạn hán, một hiện tượng khí hậu vừa là do tác động của biến đổi khí hậu, vừa do các đập thủy điện ở thượng nguồn.

    Một nghiên cứu khác do trường Đại Học Văn Lang ở Sài Gòn thực hiện cho thấy biến đổi khí hậu là nguyên nhân chính khiến 14,5% di dân đi tìm nơi cư trú khác, tức là tương đương với 24 ngàn người mỗi năm. Con số thực tế rất có thể là cao hơn, vì tình trạng di dân còn có quan hệ chặt chẽ với nạn nghèo khó.

    Phần lớn di dân là từ các cánh đồng vùng thấp do tình trạng ngập mặn ngày càng nặng, vì nước biển dâng cao khiến nước mặn tràn sâu hơn vào trong. Tình trạng này càng thêm trầm trọng do việc xây dựng các đập thủy điện trên thượng nguồn, chủ yếu là của Trung Quốc và Lào, cản trở các dòng nước ngọt chảy xuống hạ nguồn, tức là xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long. Nước mặn đã vào sâu đến hơn 80 km trong đất liền khi xảy ra trận hạn hán 2015-2016, trận hạn hán nặng nề nhất trong vòng thế kỷ, phá hủy ít nhất 160 ngàn hectare đất canh tác.

    Chính sách tái định cư còn bất cập

    Chính phủ Việt Nam đã có chính sách tái định cư, ưu tiên cho những hộ nghèo và những người dễ bị tổn thương nhất, bằng cách cho vay với lãi suất thấp để họ có kinh phí di dời nhà ở và xây nhà mới. Nhưng Viện Brookings của Mỹ, sau khi xem xét việc thực hiện chính sách ở hai tỉnh Đồng Tháp và Long An, đã nhận thấy rằng chương trình này còn thiếu minh bạch. Phần lớn các hộ nói trên cho biết thu nhập của họ đã bị giảm sau khi di dời, vì nơi ở mới không thích hợp, khiến họ không thể trả các khoản vay và thế là lâm vào tình trạng nợ nần chồng chất.

    Hai giáo sư Alex Chapman và giáo sư Văn Phạm Đăng Trì trong công trình nghiên cứu nói trên cũng đã lên tiếng cảnh báo về cách thức đối phó với biến đổi khí hậu. Đã có những người đã buộc phải di cư do chính những biện pháp được thực hiện nhằm bảo vệ họ trước những tác động của biến đổi khí hậu.

    Hàng ngàn km đê đã được xây dựng khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long để ngăn lũ. Nhưng một số con đê này lại phá hủy hệ sinh thái của vùng. Người nghèo và những người không có đất canh tác không còn kiếm được nguồn thủy sản để mưu sinh. Mặt khác, những con đê này ngăn những chất bổ dưỡng tự nhiên do các nước lũ dẫn về các cánh đồng lúa.

    Trong một bác cáo thực hiện cho Tổ chức Di cư Quốc tế IOM vào tháng 6/2016, hai nhà nghiên cứu Han Entzinger và Peter Scholten, thuộc đại học Eramus, Rotterdam, Hà Lan, cũng đã từng cảnh báo :" Dường như biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến các hình thái di cư quan trọng ở miền Nam Việt Nam (chủ yếu là di cư trong nước). Một hành lang di cư đã được hình thành, nối vùng đồng bằng sông Cửu Long và các thành phố như Cần Thơ và đặc biệt là Thành phố Hồ Chí Minh."

    Phân tích của hai nhà nghiên cứu này cho thấy phần lớn hộ gia đình di dân không xem biến đổi khí hậu là lý do chính cho quyết định di dời. Có thể họ không nhìn nhận việc di cư là để ứng phó với biến đổi khí hậu, mà để thích ứng với các yếu tố khác, ví dụ như điều kiện kinh tế. Phần lớn những hộ gia đình xem biến đổi khí hậu là một lý do dẫn đến di cư thường đề cập đến các hiện tượng như xói lở đất đau, bão và lũ lụt (hơn là các hiện tượng như hạn hán và xâm nhập mặn).

    Hơn nữa, các hộ gia đình di cư thường có thu nhập thấp và điều kiện nhà ở kém. Dường như các gia đình dễ tổn thương nhất thì mới phải di cư, trong khi các hộ có điều kiện nhà ở và kinh tế tốt hơn có đủ khả năng bám trụ.

    Hai nhà nghiên cứu Han Entzinger và Peter Scholten dự báo rằng, cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam chắc chắn sẽ tiếp tục đối mặt với tình trạng di cư quy mô lớn từ nông thôn lên thành thị, một phần do hệ quả của suy thoái môi trường tác động lên các vùng nông thôn, và một phần do hiệu ứng thu hút của đời sống và kinh tế thành thị.

    Họ cho rằng, phần nào nhu cầu di cư này có thể được giảm thiểu bằng cách đẩy mạnh các nỗ lực chống suy thoái môi trường, giải quyết hiệu quả các hệ lụy, giảm thiểu rủi ro thảm họa và tăng cường khả năng phục hồi sau thảm họa. Tuy nhiên, giải pháp này đôi khi lại không khả thi, và vì vậy di cư sẽ tiếp diễn. Do đó, theo khuyến cáo của hai nhà nghiên cứu Hà Lan, điều quan trọng nhất là phải gỡ bỏ các rào cản hiện hữu đối với di cư trong nước một cách triệt để.

    Ngoài ra, theo họ, các chương trình tái định cư mà Việt Nam đã có kinh nghiệm triển khai nên được tiếp tục và cải thiện nếu phù hợp, đồng thời cũng cần đặc biệt chú ý đến việc tạo ra đầy đủ và đa dạng cơ hội nghề nghiệp lẫn cơ sở vật chất cho học tập, cho các cộng đồng phải tái định cư do suy thoái môi trường.

    Các giải pháp cho Việt Nam theo IMF

    Trong báo cáo ngày 09/01/2018, IMF đã kêu gọi chính phủ Việt Nam nên có chính sách sử dụng một cách bền vững các nguồn tài nguyên, đặc biệt là nước và rừng, và kiểm soát tốt hơn các phương thức trồng trọt dùng quá nhiều phân bón gây ô nhiễm nguồn nước ngầm.

    Mặt khác, theo IMF, Việt Nam còn là một trong 10 quốc gia bị ô nhiễm không khí nghiêm trọng nhất thế giới, không thua gì tại các thành phố lớn và khu công nghiệp ở Trung Quốc. IMF dự báo là lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính của Việt Nam có thể sẽ tăng gấp đôi trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2020 và đến 2030 sẽ tăng gấp ba, một phần vì Việt Nam còn dựa nhiều vào các năng lượng hóa thạch. Cụ thể, 35% nguồn năng lượng của Việt Nam hiện nay là đến từ than, tăng so với mức 15% của năm 2000.

    Với nhu cầu năng lượng được dự báo sẽ tăng 2,5 lần vào năm 2035 và do chưa có giải pháp nào thay thế, Việt Nam sẽ lại càng phụ thuộc vào than, cho nên sẽ rất khó mà đạt được mục tiêu cắt giảm 8% lượng khí phát thải vào năm 2030.

    Trong báo cáo nói trên, IMF đã đề nghị Việt Nam một số chính sách để đối phó với tác động của biến đổi khí hậu:

    * Giảm bớt nguồn năng lượng hóa thạch và gia tăng nguồn năng lượng tái tạo để phá vỡ mối liên kết giữa sản lượng và khí phát thải.

    * Cung cấp cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp và chính phủ những công cụ mạnh hơn để tiếp tục tăng trưởng xanh: đánh thuế mạnh trên các loại nhiên liệu hóa thạch để thúc đẩy nhu cầu về năng lượng sạch.

    * Đầu tư vào các cơ sở hạ tầng liên quan đến khí hậu để giúp các hộ gia đình và các doanh nghiệp ứng phó với bão lụt. Thiệt hại do các thiên tai nên được tính trong các phân tích về tính bền vững của nợ công.

    * Thúc đẩy nghiên cứu và phát triển để gia tăng đầu tư vào các nguồn năng lượng sạch và cải tiến các công nghệ sạch.

    * Chuyển dần sang việc sử dụng các xe hơi tự động, xe hơi chạy điện và chia sẻ dùng chung xe hơi để giảm nạn kẹt xe và ô nhiễm không khí ở các thành phố.

    Từ đầu tới cuối bài này có 16 đoạn. Tựa bài được tác giả đặt là " Cải cách về kinh tế và chính trị tại Việt Nam"

    Đoạn 1:

    Tác giả viết:
    Năm 2017 đánh dấu khá nhiều những cải cách về kinh tế và chính trị tại Việt Nam, đây cũng là năm đầu tiên kể từ thời điểm sang Canada tôi quan tâm trở lại tới những vấn đề về kinh tế, chính trị tại Việt Nam vì trước đó không có những thay đổi thực sự nào đáng để chú ý. Trước hết cũng phải chúc mừng cho người dân và doanh nghiệp tại Việt Nam khi bức tranh tổng thể về kinh tế của đất nước có những dấu hiệu khởi sắc rõ rệt. Thể hiện qua những con số như chứng khoán tăng gần 50% trong năm 2017 và tiếp tục tăng mạnh đầu năm 2018. Dòng vốn ngoại đổ vào Việt Nam khá mạnh mẽ. Kinh tế tăng trưởng vượt tất cả mọi dự báo của các chuyên gia kinh tế trong và ngoài nước. Du lịch Việt Nam lần đầu tiên đón hơn 13 triệu khách quốc tế. Ngân hàng và các công ty lớn tại Việt Nam lại bắt đầu thông báo những khoản lãi khủng, những khoản tiền thưởng lớn cho nhân viên…

    Đoạn 2:

    Tác giả viết:
    Cũng giống như thành công của đội tuyển bóng đá U23 Việt Nam. Mỗi sự thành công đều có những nguyên nhân sâu xa đã được chuẩn bị từ trước đó. Năm 2017 là năm lần đầu tiên các báo lớn trong nước đăng tải nghị quyết của Bộ Chính Trị Việt Nam đề cập tới việc cải cách về kinh tế và hệ thống chính trị sâu rộng. Như vậy, mọi thứ không còn là chỉ phát biểu và lời nói của cán bộ lãnh đạo mà nó đã bắt đầu cụ thể hóa bằng chính sách và hành động. Cuối năm âm lịch, tôi muốn tổng kết một số điểm nhấn quan trọng mà tôi cho rằng nó có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của Việt nam trong hiện tại và tương lại.

    Cùng với tựa bài, nội dung của 2 đoạn trên đây làm cho người đọc có cảm giác những thông tin mà tác giả đưa ra là những sự kiện thực tế đã diễn ra. Theo cách đọc hiểu thông thường là như vậy. Tuy nhiên trước khi bắt đầu thảo luận, để bảo đảm chắc chắn việc thảo luận có trật tự và có hiệu quả tôi xin hỏi lại tác giả: có phải những thông tin tác giả đưa ra ở đây là những sự kiện thực tế đã diễn ra không?

    Sau khi tác giả trả lời tôi sẽ cùng tác giả thảo luận vào từng phần nội dung, chi tiết.

    Tác giả " treo đầu dê bán thịt chó ", trưng ra một cái titre rất câu khách nhưng nội dung bài viết không thấy đâu là những biện pháp cải cách kinh tế và chính trị, mà chỉ chứa đựng những sự kiện chứng minh ngược lại là về kinh tế cũng như chính trị, các nhà cầm quyền CSVN chỉ tuân theo ý Tàu Cộng :

    1) Để chứng minh có cải cách về kinh tế, tcg. đưa ra 2 sự kiện:
    - Chứng khoáng tăng 50%. Tcg không biết là chứng khoáng mọi nước tiến triển đều tăng vì mọi người đổ xô đi mua chứng khoáng, tin vào lời hứa hẹn của Trump là sẽ giảm thuế, tăng lương cho dân Mỹ, đổ cả trăm tỷ đô vào những công trình trùng tu, khiến các xí nghiệp Mỹ và các tổ chức tài chính Mỹ sẽ thâu được rất nhiều lợi nhuận. Chỉ có cái khác là chứng khoán các nước lên xuống 5% theo luật cung cầu thì chứng khoán VN tăng 50% theo cái bong bóng và bong bóng bể lúc nào không hay.
    - 13 triệu du khách đối với 92 triệu dân có nghĩa gì so với gần 40 triệu du khách tới Thái Lan, một nước 68 triệu dân hay so với 7 triệu du khách tới Cộng hòa Dominicain chỉ có 10 triệu dân ? Cũng tùy loại du khách nào vì du khách tới VN phần nhiều tới từ Tàu Cộng đòi hỏi rất nhiều, gây ô nhiễm, ăn cắp đồ ăn, chi tiền rất ít, nên ngoài thiểu số những tay chân của các quan chức cướp đất của dân ,xây khách sạn làm nhà hàng, chỉ là một cái họa cho người dân VN.

    2) Hỗ trợ cho logistic tại VN hay cho Tàu khi " nối các tuyến đường vận chuyển lớn đường sắt giữa VN và TQ hình thành một vành đai một con đường "? Không một ai không biết rằng mọi con đường phát xuất từ Tàu đều nằm trong kế hoạch chinh phục thế giới của Tàu cộng dù được giấu diếm dưới những tên mỹ miều "đường Tơ lụa mới", "đường Tơ lụa trên mặt biển", đường Vành đai... ĐCSVN chỉ tuân lệnh Tàu cộng giúp phần hoàn thành những con đường này.

    3) Tác giả cố ý lẫn lộn chính trị với hành chính. Vấn đề quản lý địa phương là vấn đề thuần hành chính không cần phải xen lấn chính trị vào. Nhưng từ trước tới nay, ngay cả về hành chính ở những đơn vị nhỏ nhất, phái "Đảng" nắm chức vị Bí thư và phái "chính phủ" nắm chức vị chủ tịch UBND, cũng chia đều nhau quyền hành và giậm chân nhau, khác với Tàu Cộng - chỉ có một phái duy nhất từ chóp bu cho tới chóp bét - là phái " Bí thư chủ tịch nước". Nếu muốn cải cách chính trị thì cứ làm như Tàu cộng đi. Bày ra Hội đồng nhân dân không thuộc về phái nào, chỉ là anh ba phải đứng giữa sự giằng co của 2 phái trong đảng. Cũng phải hiểu là sở dĩ CSVN không vứt bỏ được 2 phái trong Đảng để cải tổ chính trị theo mô hình Tàu cộng là vì Tàu cộng không cho phép, vẫn bắt phải duy trì 2 phái để dễ chia và trị.

    Gửi chị Trần Thị Ngự.

    Tôi thấy chị thường có ý kiến phản hồi trong các bài viết của tôi, thông thường tôi cũng không có ý kiến trả lời các ý kiến của chị. Lý do cơ bản nhất là tôi và chị hoàn toàn có cách nhìn nhận khác nhau về xã hội Việt Nam, các con đường cũng như giải pháp để cho đất nước Việt Nam tốt đẹp hơn. Do vậy, cũng giống như hai người đã khác nhau về “ngôn ngữ” thì cũng không thể nói chuyện được với nhau.
    Tuy nhiên, có lẽ đây là lần đầu cũng là lần cuối tôi phản hồi để chị hiểu rõ quan điểm của tôi về cách nhìn nhận các vấn đề chính trị và xã hội tại Việt Nam. Tôi luôn mong muốn đất nước và dân tộc Việt Nam ngày một tốt đẹp hơn nên tôi có khá nhiều bài viết liên quan tới việc cải cách chính trị và kinh tế của Việt Nam trên dân luận, đó là mong mỏi của tôi. Với nhìn nhận của tôi về văn hóa, con người, xã hội Việt Nam hiện tại cũng như quá khứ. Các nhóm đấu tranh đối lập và tri thức của người dân hiện nay, tôi vẫn cho rằng con đường mà Việt Nam có thể cải cách và biến đổi hiện tại chỉ có thể dựa vào những chính những người lãnh đạo, cầm quyền hiện nay của Việt Nam. Những phản kháng, các tiếng nói đối lập chỉ có thể góp phần thúc đẩy cho sự thay đổi, cải cách của giới lãnh đạo , chứ không thể tạo nên một cuộc cách mạng nào trong thời điểm hiện tại, và kể cả nếu có một cuộc cách mạng xảy ra thì nó cũng không có một hướng đi nào rõ rệt để đảm bảo Việt Nam tốt đẹp hơn. Vì cá nhân tôi chưa thấy một phong trào và nhóm đối lập nào đủ mạnh, có đường lối và phướng hướng rõ ràng cũng như đủ sức lôi cuốn đông đảo quần chúng nhân dân. Tôi cũng luôn nhìn chế độ và giới lãnh đạo Việt Nam cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực chứ không chỉ nhìn một phía. Khi họ có những hành động tôi cho rằng tốt cho xã hội và đất nước thì tôi khen, và những điểm nào không tốt thì tôi cũng chỉ ra và đưa ra giải pháp kèm theo. Tôi không đứng trên quan điểm của phe phái và nhóm nào, nên cũng không có sự đối lập hay ức chế đối với bất kỳ một nhóm hay phe phái nào. Do vậy, tôi hoàn toàn cảm bình thản và khách quan khi đọc mọi bài viết với các tư tưởng và quan điểm khác nhau trên dân luận. Trên đây là những ý kiến của tôi. Hy vọng chị đọc được phản hồi này.

    Tên tác giả viết:
    Nên tôi gửi bài viết này với góc nhìn kinh tế độc lập không đứng dưới giác độ của phe phái nào và cũng không phải như nhưng con vẹt để ca tụng chế độ.

    Tg gửi bài này cho DL, nghĩa là Tg sẽ theo dõi xem có ai đọc, phản hồi không?

    Tg hãy cho đọc giả biết, (theo ý của Tg) như thế nào là một nền Kinh tế Độc lập, cũng như những điều kiện ắt có và đủ, để một nền Kinh tế Độc lập có thể vận hành với những khó khăn- chủ quan, khách quan - chắc chắc sẽ xảy ra.

    Tôi cũng thắc mắc như bà Ngự, muốn biết những điều ( như) bà Ngự đã nêu.
    Cám ơn Tg bài chủ.

    Tg không phải lo, là người đọc sẽ "ném đá" Tg ca tụng chế độ, bởi, ca tụng hay không là quyền của mọi người. Vấn đề là những lời ca tụng đó có thuyết phục người đọc hay không, có làm cho người đọc "sáng mắt sáng lòng hay không và khi không thuyết phục được, thì sẽ có những phản hồi.
    Vậy thôi.

    Nguyễn Jung

    Chà, bài viết của tác giả Nguyễn Hồng Hải cho thấy tương lai kinh tế và chính trị ở VN "sáng sủa" cứ như ở các nước Âu Mỹ phát triển vậy. Tác giả ở tận Canada mà sao lại có thể thấu hiểu tình hình ở VN, cứ như nằm trong ruột nhà nước ý, hi hi hi. Vì thấy tác giả biết nhiều như thế nên tui xin được hỏi tác giả vài điều:

    1) Tình hình "chống tham nhũng" năm 2018 tiến triển đến đâu? Chừng nào thì sẽ cách chức và đưa ra toà tất cả các cán bộ từ cấp xã trở lên cho đến các nhân vật trong bộ chính trị? Tui hỏi vậy bởi vì ở VN, ai có quyền, có chức đều dính vào tham ô, hối lộ, bởi nếu không thì tiền đâu mà xây nhà, mua xe, cho con đi du học?

    2) Chừng nào thì người ta sẽ không còn bị tù tội, hay cảnh cáo (như trường hợp TS Trần Đức Anh Sơn ở Đà Nẵng) chỉ vì phát biểu các quan điểm khác với quan điểm của những người lãnh đao? Chừng nào thì dân chúng được quyền có quan điểm khác biệt với quan diểm của nhà nước?

    3) Chừng nào thì 90 triệu dân VN, chứ không phải chỉ có 4 triệu đảng viên đảng CSVN, được quyền tham gia vào việc điều hành đất nước? Chừng nào sẽ chấm dứt việc "đảng cử dân bầu" để có tự do bầu cử và ứng cử ở VN?

    Tầt cả những điều tui hỏi trên đây đều nằm trong phạm vi của Tuyên Ngôn Nhân Quyền mà VN đẵ ký kết. Vậy thì đừng biện minh rằng mỗi nước có quan điểm nhân quyền khác nhau nhé vì đã ký tức là đã công nhận nó rồi.