Một giai thoại nhỏ, một bài học lớn

  • Bởi Admin
    02/02/2018
    4 phản hồi

    Từ Thức

    Văn phòng giám đốc đại học Harvard, một ngày cuối thế kỷ 19. Một cặp vợ chồng rụt rè xin gặp ông giám đốc.

    Cô thư ký nhìn vẻ quê mùa của hai người khách, chiếc quần sờn gấu của ông và bộ quần áo bình dân của bà, trả lời : ông giám đốc rất bận, chỉ tiếp khách có hẹn. Đúng ra, ông chỉ quen tiếp những trí thức danh tiếng, những người gia thế, có vai vế trong xã hội.

    Hai người khách nhất định xin được ở lại chờ, vì có chuyện muốn nói. Xế chiều, ông giám đốc Harvard mới hết khách, xách cặp ra về. Cặp vợ chồng xin được thưa chuyện vài phút.

    Ông bà cho hay người con trai duy nhất của họ, sinh viên năm đầu của trường, vừa chết vì bịnh thương hàn, và muốn dựng một cái gì để tưởng nhớ đứa con.

    Ông giám đốc thông cảm cái đau buồn của khách, nhưng trả lời : ông bà thử tưởng tượng, nếu mỗi gia đình có tang xây một mộ bia, bồn cỏ nhà trường sẽ thành một nghiã trang.

    Ông khách nói : chúng tôi không muốn xây mộ bia. Chúng tôi muốn nhân danh con, xây tặng một giảng đường, hay một nhà nội trú.

    Ông giám đốc nhìn bộ quần áo bình dân, vẻ quê mùa của khách, mỉm cười : ông có biết xây một giảng đường tốn hàng trăm ngàn Mỹ kim ?

    Bà khách nhìn chồng, nhỏ nhẹ : Nếu chỉ có vậy, tại sao mình không dựng luôn một trường đại học ?

    Hai ông bà ra về. Ít lâu sau, trường đại học Stanford ra đời và trở thành một 3 đại học uy tín nhất thế giới. Ông giám đốc Harvard không biết mình vừa tiếp hai vợ chồng tỉ phú Stanford , vua xe lửa, sau này trở này trở thành Thống đốc California

    TRẢ LẠI CHO XÃ HỘI

    Giai thoại trên đây về Leland và Jane Stanford được kể đi kể lại, nói lên nhân sinh quan đặc biệt của người Tây Phương, nhất là ở những xứ ảnh hưởng văn hóa Tin Lành ( 1 ), với phương châm được dạy dỗ và thấm nhuần từ nhỏ : trả lại cho xã hội những gì đã nhận được của xã hội.

    Khía cạnh văn hóa đó giải thích tại sao ở Hoa Kỳ và Bắc Âu có những nhà tỷ phú như Bill Gates, Warren Buffett, Zuckerberg dành những ngân khoản khổng lồ làm việc từ thiện, tài trợ những dự án có công ích, trong khi ở những xã hội khác, những người giầu có, nhất là mới giầu, chỉ biết khoe của, phung phí một cách lố bịch, nham nhở.

    Những ông bà hoàng dầu lửa, keo kiệt, tàn nhẫn với gia nhân, nhất là di dân lao động, không biết dùng tiền bạc làm gì hơn là phòng tắm, cầu tiêu bằng vàng, xây cất những trường đua ngựa vĩ đại với bồn cỏ xanh giữa sa mạc, ở một xứ Hồi giáo cấm cờ bạc, cấm đánh độ.

    Những tỷ phú Tàu xây lại lâu đài Versailles hàng trăm phòng cho hai vợ chồng với một cậu cả.

    Những ông trời con, những cô bồ nhí của quan lớn ở Việt Nam làm thang máy bằng vàng, xây dinh thự xanh đỏ, Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu, lấy tiền gấp tàu giấy cho con thả chơi.

    Những nhà độc tài Phi châu dựng lại nhà thờ Vatican giữa một biển nghèo đói, dùng máy bay riêng chở thợ may, thợ đóng giầy nổi tiếng từ Paris, từ Rome ( Roma ) tới may bộ quần áo giá cắt cổ thứ 200, hay áo lông ( fourrure ) cho các mệnh phụ sống ở những xứ nóng như lửa.

    Hai tư duy khác nhau, đưa tới hai xã hội khác nhau : một bên thịnh vượng, tiến bộ, một bên nghèo đói, lạc hậu.

    TỪ KINH DOANH TỚI VIỆC NGHĨA

    Những nhà triệu phú Mỹ, khi kinh doanh, không ngần ngại dùng bất cứ thủ đoạn nào để thành công, kể cả đánh gục đối thủ cạnh tranh, để chiếm độc quyền. Đó cũng là một khía cạnh của văn hóa Tin lành : không có mặc cảm với tiền bạc, với thương mạị.

    Đó là một yếu tố văn hoá, nhưng nó giải thích phần nào cho sự thành công kinh tế của những nước như Hoa Kỳ, Bắc Âu. Văn hoá Tin Lành đã tạo ra những xứ tư bản Tây Phương.

    Người Tin lành không che dấu chuyện đã làm ra tiền, coi đó là dấu hiệu của thành công. Gặp người Mỹ, vài giờ sau biết họ lãnh bao nhiêu dollars mỗi năm, có bao nhiêu cái nhà, cái xe

    Văn hoá Thiên chúa giáo có mặc cảm với tiền bạc. Không bao giờ người Pháp nói về lương bổng của mình, ít khi phô trương, gần như muốn che dấu nếu thành công trong đời.

    Người Mỹ áp dụng những phương pháp hữu hiệu để kinh doanh, để làm giầu, nhưng khi đã thành công rồi, nghĩ tới việc trả lại cho xã hội những gì đã nhận của xã hội.

    Khi Bill Gates trình bày với vợ, con về dự án dùng trên 40 tỷ dollars cho Foudation Bill & Melinda Gates, và quyết định chỉ để lại cho mỗi người con 10 triệu ( ít quá, khó thành công; nhiều quá, chỉ làm hư con cái ), cả bà vợ và các con đều vui vẻ chấp nhận. Bởi vì họ được dạy dỗ, thấm nhuần văn hoá đó từ nhỏ.

    Khi Bill Gates nói về dự án của mình, Warren Buffet đã hưởng ứng ngay, đóng góp phần lớn gia sản kếch sù cho Foudation Gates. Trên 50 tỷ phú, đa số là người Mỹ , đứng đầu là Zuckerberg, đã noi gương Bill Gates

    Các trường đại học Mỹ hay Anh đều giầu có, với những ngân sách khổng lồ, ngang với ngân sách một quốc gia nhỏ, mà nhà nước không tốn một xu, bởi vì những cựu sinh viên khi đã thành công ngoài đời đều quay lại, tự nguyện đóng góp. Đối với họ, đó là một chuyện tự nhiên, khỏi cần ai kêu gọi. Không làm, mới là chuyện bất bình thường.

    Đơn giản như vậy, nhưng đem áp dụng ở những nước khác, rất khó. Phải bắt đầu bằng sự thay đổi văn hóa, thay đổi tư duy. Và văn hoá, không phải chuyện một sớm một chiều. Đó là chuyện của hàng thế hệ.

    Tinh thần ‘’ trả lại cho xã hội ‘’ giải thích tại sao vai trò của xã hội dân sự cực kỳ quan trọng trong các xã hội Tây Phương. Nó nhân bản hóa các xã hội tư bản.

    Ở Hoa Kỳ chẳng hạn, tiêu biểu cho chế độ tư bản, nó xoa dịu những bất công của một xã hội cạnh tranh, mạnh được yếu thua. Đó là hai khuôn mặt mâu thuẫn của tư bản Tây Phương. Mâu thuẫn hay bổ túc lẫn nhau.

    Những foundations tư nhân, nhan nhản khắp nơi, với những số tiền nhận được ở khắp nơi gởi giúp, trợ cấp học bổng, chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, phát triển nghệ thuật văn hoá, giúp đỡ người nghèo, người sa cơ lỡ vận.

    TRUYỀN THỐNG BÁC ÁI

    Tại Pháp, nơi người Tin Lành chỉ chiếm trên dưới 3 %, cái tinh thần ‘’ trả lại cho xã hội ‘’ không mạnh như ở Hoa Kỳ hay các nước có văn hoá Tin Lành ở Bắc Âu. Những trường đại học lớn, uy tín nhất của Pháp, những năm gần đây kêu gọi các cựu sinh viên đã thành đạt đóng góp cho trường, nhưng kết quả rất khiêm nhượng.

    Không phải một sớm một chiều người ta có thể tạo một truyền thống.

    Mặc dầu vậy, tinh thần bác ái ăn sâu tại các nước Thiên Chúa giáo như Pháp, Ý, Tây Ban Nha ( Espagne, Spain ) đã thúc đẩy các xã hội dân sự hoạt động tích cực.

    Tại Pháp chẳng hạn, tổ chức Resto du Cœur mỗi năm tặng thực phẩm, bữa ăn cho hàng triệu người. Emmaüs, một tổ chức thiện nguyện do linh mục Pierre lập ra không những giúp đỡ người nghèo, còn tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người. Một trong những hoạt động của Emmaüs : nhận bàn ghế, TV, tủ lạnh, computers , quần áo cũ của thiên hạ gởi tặng, sửa lại, bán rẻ lấy tiền làm việc nghĩa. Nhân viên của Emmaüs đều là những người gọi là SDF ( Sans Domicile Fixe, Không nhà không cửa, homeless ), theo nguyên tắc dạy người ta câu cá hơn là cho tiền mua cá. Những người điều hành là những người có dư khả năng làm lương lớn trong các hãng tư, nhưng muốn làm việc công ích để đóng góp cho xã hội.

    TỪ GIA ĐÌNH TỚI XÃ HỘI

    Người Tây Phương, có tinh thần cá nhân chủ nghĩa, nhưng không ích kỷ như chúng ta nghĩ.

    Rất nhiều người tích cực và nghĩ đến người khác, coi việc giúp đỡ người khác, cải thiện xã hội là một bổn phận.

    Người Việt hy sinh, nghĩ tới người khác nhiều hơn chính mình, nhưng ‘’ người khác ‘’ chỉ luẩn quẩn trong nhà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, không ra khỏi ngưỡng cửa gia đình . Gia đình VN chặt chẽ, nhưng xã hội VN lỏng lẻo. Gia đình Tây Phương lỏng lẻo, nhưng xã hội của người ta chặt chẽ. Chữ liên đới, bác ái, huynh đệ không phải là những danh từ trống rỗng trên cửa miệng

    Người Việt dành trọng tâm đời mình cho gia đình. Tai họa xẩy ra cho người thân làm tiêu tan luôn đời mình. Mất một người thân, cuộc đời kể như chấm dứt. Ngồi rầu rĩ thương thân, oán phận

    Thái độ của người Tây Phương tích cực hơn. Họ nghĩ tới xã hội. Họ không bi quan yếm thế. Tại họa cá nhân không đánh gục họ, trái lại, trở thành một động lực khiến họ lao đầu vào việc cải tiến xã hội.

    ‘’ OUR CHILDREN ‘’

    Hai ông bà Stanford, khi cậu con cưng chết, quyết định : từ nay, tất cả những đứa con California sẽ là con mình. ‘’ The children of California shall be our children ‘’

    Ở Pháp, những bà mẹ có con thơ ấu chết vì tai nạn xe hơi, thay vì ngồi than trời oán đất, hay oán thù người gây tai nạn, đã thành lập một hội rất thế lực, Ligue Contre La Violence Routière ( Hội chống lại bạo lực lưu thông ) hoạt động tích cực đòi quốc hội, chính phủ ban hành những luật lệ hạn chế vận tốc, kiểm soát, trừng phạt những người lái xe sau khi uống rượu, hút cần sa ma túy, mở những lớp về an ninh lưu thông, hỗ trợ các gia đình nạn nhân.

    Các nạn nhân khủng bố lập những hội tương trợ các nạn nhân như mình. Một phụ nữ Pháp, thoát chết trong cuộc khủng bố Hồi giáo ở Paris, nói : chưa bao giờ tôi hạnh phúc hơn, vì có một gia đình trên 200 người.

    Có người trong gia đình chết vì ung thư, họ lập những hội giúp bệnh nhân ung thư.

    Những người cựu SDF, khi có công ăn việc làm, mở hội giúp những người vô gia cư.

    Người có con chết vì ma túy, gia đình tan nát vì rượu chè, bỏ tiền bạc, giúp những người nghiện ngập . Họ làm việc đó tận tụy, âm thầm, coi như chuyện đương nhiên, ngạc nhiên khi có người ngạc nhiên trước các nghĩa cử đáng khâm phuc đó

    Những thí dụ đó nhan nhản, ở mỗi góc phố, đếm không xuể.

    Thí dụ điển hình nhất là tổ chức Télémathon. Một số gia đình có con bị các thứ bịnh hiếm, không có thuốc điều trị vì không có hãng bào chế thuốc nào bỏ ra những ngân khoản khổng lồ để tìm kiếm, sản xuất thuốc cho một số rất ít bệnh nhân, đã thành lập Télémathon, mỗi năm vận động quyên góp được hàng trăm triệu euros. Với số tiền đang kể đó, họ lập tuyển dụng các y sĩ, các chuyên viên y khoa nổi danh, mở những laboratoires tối tân để nghiên cứu phương pháp chữa trị, tìm tòi thuốc men. Tiền đóng góp từ khắp nơi gởi về, thường thường là của những người lợi tức thấp, nhưng sẵn sàng giúp người thiếu may mắn hơn mình. Và những người hoạt động tích cực nhất là những người có con cái đã chết vì bạo bệnh, hoạt động để tránh cho người khác thảm kịch của chính mình.

    Không quay đầu về quá khứ, tiến về phiá trước, nghĩ đến việc cải thiện xã hội, đó là những yếu tố khiến xã hội Tây phương thành công. Cả về kinh tế lẫn chính trị. Bởi vì dân chủ không phải chỉ xây dựng trên giấy tờ, qua hiến pháp, bầu cử, luật lệ. Nó phải được thực thi, bảo vệ, nuôi dưỡng bởi xã hội dân sự.

    CHA CHUNG KHÔNG AI KHÓC

    Người VN hy sinh cho gia đình, đó là một đức tính đáng cảm phục. Đó là một điều may, khiến xã hội VN không hoàn toàn băng hoại. Hay xã hội đã băng hoại, nhưng vẫn còn những ốc đảo là hàng triệu gia đình, đang âm thầm cố thủ.

    Ngưòi Việt hết lòng với gia đình, nhưng hoàn toàn thờ ơ với xã hội.

    Phương châm của người Việt : vườn ai nấy rào. Người ta đốn cây, tôi mặc kệ, vì là cây ngoài đường. Người ta xẻ núi, phá rừng, xây chung cư, khách sạn, tôi ngoảnh mặt đi để tránh vạ lây. Hậu quả là VN được trời cho một giang sơn gấm vóc, ngày nay bị tàn phá một cách thô bạo. Nha Trang, Đà Lạt, Sapa…, những thắng cảnh tuyệt vời đang trở thành những đống xi măng, cốt sắt thô kệch, trưóc sự thờ ơ của mọi người. Cha chung không ai khóc.

    Tại các nước Tây phương, các di tích lịch sử được bảo trì một phần lớn nhờ các foundations, các tư nhân. Ở VN, ngược lại, người ta biến của công thành của riêng, không nương tay tàn phá di sản của đất nước để làm giầu, để trục lợi.

    Khi nào tình thương, sự liên đới, lòng bác ái, tinh thần trách nhiệm của người Việt ra khỏi ngưỡng cửa gia đình, lúc đó VN sẽ có một xã hội lành mạnh, lạc quan, tích cực. Đủ lành mạnh, lạc quan, tích cực, để xây dựng một chế độ dân chủ đích thực. Để xây dựng lại đất nước đang trở thành một bãi rác, nghĩa đen cũng như nghĩa bóng.

    Từ Thức ( Paris, tháng 1/2018 )

    ( 1 ) Bài này không có dụng ý ca ngợi đạo Tin Lành. Tôn giáo nào cũng có ưu và khuyết điểm, sẽ đề cập trong một bài tới.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Đính chính

    Trong bài “Một giai thoại nhỏ, một bài học lớn” đăng tải trên trang boxitvn.net và trang blogspot.com của Bauxite Việt Nam hồi 31/01/2018, tác giả Từ Thức đã kể lại giai thoại về việc ông Leland Stanfordtrùm tư bản ngành đường sắt và cựu Thống đốc bang California, cùng vợ là Jane Stanford,đã đến gặp ngài Charles William Eliot, Chủ tịch Đại học Harvard tại Văn phòng, đề nghị được “dựng một cái gì” trong khuôn viên nhà trường nhằm để tưởng nhớ người con, nguyênsinh viên năm thứ nhất trường Harvard, đã qua đời trước đó chưa lâu. Quay về sau khi bị ông Eliot từ chối, ông bà Stanford đã quyết định xây dựng cả một trường đại học, Đại học Leland Stanford Jr.

    Tuy nhiên đây là một giai thoại không có thực, vì người con của ông bà Stanfordkhi mất mới 15 tuổi và chưa từng học Harvard.

    Và cũng khó có thể tin rằng Stanford, ông trùm ngành xe lửa, cựu Thống đốc bang California, ngân hàng được xếp vào loại Robber-Baron, và cuối đời là Thượng nghị sĩ Chính phủ Liên bang, lại phải chờ ở văn phòng của Hiệu trưởng Harvard với vẻ “quê mùa”, “rụt rè”, “chiếc quần sờn gấu”.

    Trên trang web của Đại học Stanford cũng đã giải thích cụ thể về việc này. Ngoài ra, quý vị có thể tham khảo thêm bài The Rejection That Led to the Founding of Stanford University(Sự từ chối dẫn tới sự ra đời của Đại học Stanford)hay The Founding of Stanford University -- Did Mr. and Mrs. Leland Stanford decide to found their own university after being rebuffed by Harvard's president?(Sự ra đời Đại học Stanford - Liệu ông bà Leland Stanford có quyết định thành lập trường đại học của họ sau khi bị Chủ tịch Harvard bác bỏ không?)

    Bauxite Việt Nam trân trọng cảm ơn TS. Vũ Quang Việt và GS. Phạm Xuân Yêm đã chỉ ra những thiếu sót này.

    BBT Bauxite Việt Nam

    Hai nhận xét của bác T T Ngự đều đúng cả (người Mỹ nào mà lại tự nhiên đi khoe lợi tức "thật" với người khác?).


    Từ Thức không cần thiết phải lấy credits cho đạo Tin Lành về những công trình từ thiện hay cải thiện xã hội ở bên Mỹ, và các thí dụ đã nêu lên về những cá nhân này không minh hoạ đúng ý nghĩ ấy:
    Gia đình Bill Gates chịu ảnh hưởng của truyền thống công giáo.
    (Goodell, Jeff (March 27, 2014). "Bill Gates: The Rolling Stone Interview". Rolling Stone. Retrieved April 14, 2014.)
    Warren Buffett từ bỏ đạo Tin Lành
    (Wired article Faces of the New Atheism: The Scribe published November 2006. Retrieved November 10, 2009.)
    Mark Zuckerberg là người Do Thái vô thần
    (https://en.wikipedia.org/wiki/Mark_Zuckerberg#Personal_life)

    Ngoài ra, quốc gia có đa số theo đạo Tin Lành như Mỹ lại không cung cấp dịch vụ y tế miễn phí cho hàng chục triệu công dân, trong khi đó quốc gia mà đa số theo Công giáo như Pháp lại có hệ thống bảo hiểm y tế công cộng miễn phí và có chế độ an sinh xã hội tốt hơn bên Mỹ.

    Còm sĩ Ngự có nhầm lẫn từ "tài trợ" cho các trường đại học tư ? có lẽ cần phân biệt.

    Ngân sách liên bang Mỹ cho giáo dục rất lớn, nó được đưa xuống từng tiểu bang và cộng thêm ngân sách từ tiểu bang có được từ tiền đánh thuế, từ tiểu bang sẽ xuống địa phương để chi tiêu cho mục đích giáo dục, duy trì hay xây dựng các công sở học đường cũng như lương bổng nhân viên, thầy cô giáo .

    Chỉ có trường công lập từ đại học và xuống tới các trường thấp nhất như mẫu giáo mới được hưởng ngân sách liên bang như nói ở trên.

    Trường tư ở Mỹ ở các cấp từ đại học xuống, tất cả đều tự túc, tự lực cánh sinh, không có nhận đồng nào cả như nói ở trên.

    Tuy nhiên, sinh viên học sinh Mỹ lại được nhận trực tiếp tài trợ "grant" từ liên bang để đi học các trường mình mong muốn, số tiền này được trả như học phí cho nhà trường, trường tư vì học phí mắc nên đươc tài trợ nhiều, trường công thì ít vì học phí rẽ, tất cả được duyệt xét trong từng trường hơp của cá nhân.

    Lại nói về tài trợ từ liên bang nhà nước Mỹ như còm sĩ Ngư nêu ra từ 10 trường trên, số tiền này không phải để chi tiêu như những trường công đã nói ở trên, không có tiền tài trợ này, các trường tư Mỹ vẫn sống phẻ, nhưng tại sao liên bang Mỹ lại phải tài trợ cho những nhà trường tư này, bởi một nhà nước thông minh thì phải biết đầu tư cho tương lai, chỉ những trường tư này mới có cơ sở cũng như con người để làm những chuyện trên trời dưới đất chưa ai làm như nghiên cứu, chế tạo vv.. trong mọi lãnh vực khoa hoc, nhân văn và xã hội, chính vì vậy tiền từ liên bang được bỏ vào đây trả lương thầy cô, mua dung cụ cũng như trả tiền học cho những sinh viên giỏi được tuyển chọn, số tiền tài trợ này thường thì cho các truơng trình nghiên cứu bực cao học hay tiến sĩ, hết tiền tài trợ, hết nghiên cứu, hết trả lương cho những nguời đuợc hưởng từ dự án.

    Nhà nước chọn và cho tài trợ ngu gì mà không nhận như nói về những tài trợ cho dự án ở trên.

    Năm 2018, Harvard có $36.4 billion USD, Standford có 22.4 billion USD trong nhà băng hay đang trong cổ phiếu đầu tư, vài trăm triệu dollars như còm sĩ Ngự đề cập, muối!

    Cảm ơn còm sĩ Messegee đã cung cấp thêm thông tin về gia đình Stanford.

    Từ Thức viết:
    Người Tin lành không che dấu chuyện đã làm ra tiền, coi đó là dấu hiệu của thành công. Gặp người Mỹ, vài giờ sau biết họ lãnh bao nhiêu dollars mỗi năm, có bao nhiêu cái nhà, cái xe

    Nhận xét trên đây của tác giả Từ Thức trái ngược hẳn với thực tế ở Mỹ. Lương bổng, thu nhập được coi là personal privacy, không ai đi khoe khoang với người khác (trừ các cơ sở thương mại muốn khoe khoang để câu khách; hay một số Vịt kiều về nước nói phét). Một trong những điều cấm kỵ ở Mỹ là việc hỏi thăm về thu nhập của người khác, hay tiết lộ thu nhập của người khác.

    Từ Thức viết:
    Các trường đại học Mỹ hay Anh đều giầu có, với những ngân sách khổng lồ, ngang với ngân sách một quốc gia nhỏ, mà nhà nước không tốn một xu, bởi vì những cựu sinh viên khi đã thành công ngoài đời đều quay lại, tự nguyện đóng góp. Đối với họ, đó là một chuyện tự nhiên, khỏi cần ai kêu gọi. Không làm, mới là chuyện bất bình thường.

    Tác giả Từ Thức đúng là nói liều một bước lên đến trời. Mặc dù nhiều trường đại học nổi tiếng ở Mỹ nhận được nhiều tặng dữ (endowment) từ những nhà hảo tâm, trường nào cũng phải nhận rất nhiều "xu" của chính phủ mới hoạt động nổi. Tiền từ chính phủ (liên bang và tiểu bang) phần lớn là để tài trợ cho các công trình nghiên cứu khoa học hay các chương trình nhằm thúc đẩy bình đẳng xã hội (chủng tộc, giới tính, và giai cấp). Đây là danh sách 10 trường đại học nổi tiếng và nhận nhiều funding nhất từ chính quyền liên bang năm 2011:
    1. Duke University (private): 585 triệu đô la
    2. University of Wisconsin, Madison (public):594 triệu đô
    3. University of California, San Diego (public): 637 triệu đô
    4. Columbia University (private): 645 triệu đô
    5. Stanford University (private): 656 triệu đô
    6. University of Pittsburgh (Public): 662 triệu đô
    7. University of Pennsylvania (public): 707 triệu đô
    8. University of Michigan (public): 820 triệu đô
    9. University of Washington, Seattle (public): 949 triệu đô
    10. John Hopkins University (private): 1.88 tỷ đô
    https://www.huffingtonpost.com/2013/04/27/universities-government-money_n_3165186.html
    Trang tin của Harvard cũng cho biết số tiền Harvard nhận được từ chính phủ liên bang trong hai năm 2013 và 2014 là
    639 triệu đô và 608 triệu đô.
    http://www.thecrimson.com/article/2015/1/22/federal-funding-decreases-2014/

    Việc các đại công ty đem tiền đi làm từ thiện không chỉ đơn thuần là lòng hảo tâm. Đen tiền đi làm từ thiện ở Mỹ thì được giảm thuế. Ngoài ra lại còn được cái danh (cái này gọi là mua danh), gây được ảnh hưởng rất lớn cho cá nhân và cho việc kinh doanh (quảng cáo cho công ty). Chỗ tôi làm việc có một building do hãng xe hơi Toyota tặng tiền xây. Cứ mỗi lần vào cái building đó, nhìn thấy tấm bảng ghi nhận đóng góp của Toyota là tôi lại nghĩ đến xe hơi Toyota, he he he.

    Carnegie Foundation là một nguồn tài trợ rất lớn cho các công trình khoa học, nhưng nhiều nhà khoa học vẫn có vài suy nghĩ khi nộp đơn xin tiền tài trợ. Họ cho rằng tiền tài trợ cho khoa học của Carnegie Foundation là một phần kết quã của một thời tư bản hoang dã khi các nhà máy của Carnegie đối xử rất tàn bạo với công nhân để xây dựng tài sàn kếch xù.