Nhận thức muộn và nhầm của cựu Chủ tịch nước

  • Bởi Admin
    12/01/2018
    1 phản hồi

    Nguyễn Đình Cống

    Đầu năm 2018 ông Trương Tấn Sang viết bài: “ Lịch sử giúp chúng ta hiểu về hiện tại, dự báo tương lai”. Bài được nhiều báo đăng, có lắm người quan tâm và bình luận. Cựu Chủ tịch trình bày việc quan sát di tích Hoàng thành Thăng long, nhìn ngắm Hồ Tây, xem tiểu thuyết Bão táp Triều Trần, đọc Đại Việt sử ký, ngẫm nghĩ về Thất trảm sớ của Chu Văn An, về 5 nguyên nhân gây mất nước do Lê Quý Đôn tổng kết v.v.., để rồi tức cổ nghiệm kim, suy nghĩ sâu xa về sự hưng vong của đất nước. Ông hiểu ra rằng đất nước hưng thịnh nhờ có vua sáng tôi hiền. Ông viết : “Con đường đi tới quyền lực và đưa đất nước lên tới đỉnh cao hưng thịnh của các triều đại rất khác nhau, nhưng nguyên nhân suy vong thì chẳng khác nhau là mấy. Ðó là do tài năng yếu kém và đạo đức suy đồi của những người cầm quyền.” Gần cuối bài ông đưa ra nhận xét :“ Hôm nay…, niềm tin trong nhân dân đã trở lại, sức khỏe nền kinh tế có phần hồi phục, vị thế đất nước được lan tỏa rộng rãi. Nhìn lại năm ngoái, phải khẳng định một điều, những gì Ðảng ta đã làm trong công tác cán bộ và xây dựng Ðảng là đúng với mong muốn và nguyện vọng của toàn dân”. Nhưng rồi ông lại viết : “Chẳng phải chúng ta đã chứng kiến những kẻ có lòng tham vô đáy lợi dụng kẽ hở của chính sách, lạm dụng quyền lực để móc túi nhân dân, rồi chính những kẻ đó và bè cánh lại tìm mọi cách để chui sâu, leo cao hơn nhằm bảo đảm cho khối tài sản ăn cắp đó tiếp tục sinh sôi, nảy nở?”. Rồi ông đặt câu hỏi : “Ðảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về đâu? Cuối cùng ông trấn an :“Mỗi chúng ta rồi đây đều phải đứng trước sự phán xét công bằng của lịch sử, của dân tộc. Với niềm tin đó chúng ta cùng phấn khởi bước sang năm Mậu Tuất 2018”. (Niềm tin Đảng kiên quyết chống tham nhũng)

    Tôi viết nhận thức của ông Sang là muộn, quá muộn vì đạị đa số nhân loại, trong đó có rất nhiều người Việt, đã biết nó từ rất lâu, đã nói và viết từ lâu. Hồi còn làm Chủ tịch nước ông có biết không, nếu không biết thì tại vì cái gì. Ông viết về tài năng yếu kém và đạo đức suy đồi của những người cầm quyền, về lạm dụng quyền lực, về tìm mọi cách để chui sâu leo cao. Ông có tự liên hệ không, có nghĩ đến việc đứng trước sự phán xét công bằng của lịch sử không. Ông có tự biết tài năng ông yếu kém, nhưng vì sao được ngồi vào ghế chủ tich nước không.

    Tôi viết nhận thức của ông Sang là nhầm. Xin giải thích rõ hơn. Những nhận thức đó chủ yếu không sai nhưng không hoàn toàn đúng, chủ yếu là nhầm.( riêng các ý sau là không phù hợp thực tế : Niềm tin trong nhân dân đã trở lại; và: những gì Ðảng ta đã làm là đúng với mong muốn và nguyện vọng của toàn dân”).
    Trước khi nêu ý kiến cá nhân tôi xin điểm vài nhận xét cúa các tác giả khác.

    Trung Nguyễn (bài : Thư gửi ông Trương Tấn Sang và giới lãnh đạo cộng sản ) nhận xét rằng “những kiến thức trong đầu các ông về thế giới và cả về đất nước Việt Nam rất lệch lạc”, rằng chế độ cộng sản không những giống mà còn tệ hơn chế độ phong kiến, thế mà ông chỉ hô khẩu hiệu và lừa dối nhau, rằng thực ra ông chẳng lo gì cho dân cho nước mà chỉ lo cho đảng cai trị.

    FB Huỳnh Ngọc Chênh (bài Nhân chuyện ông Trương Tấn Sang đọc lại lịch sử ) cho rằng: “Đọc lại lịch sử để biết vượt qua cái hạn chế của tổ tiên chứ không phải luẩn quẩn trong chuyện chúa minh hay chúa lú. Đất nước bây giờ đang cần Minh Chế.

    Nhà bình luận Tuấn Khanh ( Việt Nam Thời báo) cho rằng ông Sang chỉ viết những điều chung chung, không đưa ra được cái gì cụ thể, chỉ dẫn những sự kiện của các Triều Lý, Trần, Lê mà không đả động đến Triều Nguyễn, đã từng có nhiều thành công trong chống tham nhũng và chấn hưng đất nước.

    GS Nguyễn Đăng Hưng (bài : Lời bình sau khi đọc bài viết của ông Trương Tấn Sang ) nhận xét: Cái nguy hiểm trước mắt là những sai lầm chính trị, những biện pháp đàn áp đáng tiếc, phát sinh ra đối kháng giữa dân và nhà cầm quyền … Các vương triều đất Việt đi ngược lại lòng dân hay làm mất lòng dân đều tạo điều kiện cho phương Bắc thôn tính, nước nhà bước vào vòng nô lệ! Hơn bao giờ hết ngày nay trước hiểm họa lãnh thổ, lãnh hải bị xâm phạm, trước nguy cơ bị chiếm đoạt Biển Đông, chính quyền nên ghi nhận bài học này.

    Theo tôi điều nhầm lẫn lớn nhất của ông Sang cũng như của nhiều lãnh đạo khác của cộng sản trong việc đánh giá tình hình đất nước là cho rằng cái gốc của những tai họa mà đất nước và nhân dân phải chịu là sự tham lam, sự xuống cấp đạo đức của một số người cầm quyền. Họ không thấy, không chịu thừa nhận nguyên nhân gốc gác của mọi tai họa là sự độc tài toàn trị của Đảng theo Chủ nghĩa Mác Lê .Tất nhiên một mình CN Mác Lê chưa đủ để gây ra mọi tai họa mà nó kết hợp với những yếu kém của nền văn hóa, với những tính xấu của người Việt. Chính sự độc tài của cộng sản khi đã nắm chắc chính quyền đã tạo ra trong giới lãnh đạo những người vừa tham lam vừa thiếu trí tuệ nhưng có thừa mánh lới, có thừa mưu mẹo để leo cao, luồn sâu. Họ kết với nhau thành các nhóm lợi ích. Ngoài mồm họ rêu rao vì nước vì dân, thực chất họ chỉ lo vinh thân phì gia, lo củng cố quyền lực. Các nhóm liên kết với nhau thành một tập hợp lớn để vừa chiếm đoạt, vừa tàn phá tài nguyên của đất nước để làm giàu riêng. Ngày nay tập hợp lớn đó chính là ĐCS. Nói cách khác từ tập hớp lớn chia thành các nhóm lợi ích . Các nhóm này vì quyền lợi mà đấu đá nhau, thanh toán nhau.

    Nhưng có lẽ không phải ông Sang và lãnh đạo nhầm, họ thấy rõ nhưng cố tình che giấu. Như vậy đã phạm tội lừa bịp. Họ dựng lên nào là Hội đồng lý luận, nào là các Học viện chính trị, nào là Ban Tuyên giáo các cấp để nghiên cứu, để tuyên truyền, rằng mọi sự xấu xa , mọi đồi bại là do một số người suy thoái đạo đức. Thậm chí họ cố tình làm một việc quá sai là đem trộn lẫn khái niệm suy thoái đạo đức với tự diễn biến về tư tưởng. Họ cố bế tỏa đầu óc , cố bịt mắt, cố bưng tai để không nghĩ, không thấy, không nghe đến sự tác hại muôn mặt của chế độ toàn trị của đảng. Phải thấy được chế độ cộng sản còn tồi tệ hơn chế độ phong kiến như Trung Nguyễn, thấy được cái sai lầm về chính trị và sự đàn áp đáng tiếc như Nguyễn Đăng Hưng, thấy được sự cấp thiết xây dựng một Minh Chế như Huỳnh Ngọc Chênh, thấy được nguyên nhân gốc của mọi tai họa từ trong CNML như Nguyễn Đình Cống (không phải chỉ mấy người ấy mà hàng triệu người đều thấy, họ chỉ là đại diện).

    Có rất nhiều người, ngay từ đầu biết CN Mác Lê sai nên kiên quyết không công nhận (mặc dù một số vì tình thế bắt buộc phải chịu đựng). Một số khá đông đảng viên ĐCS , trong đó có các cán bộ lãnh đạo, tuy ban đầu tin vào CN Mác Lê, nhưng rồi bỗng ngộ ra rằng con đường cộng sản họ đã từng lựa chọn là sai về cơ bản, sai từ gốc. Nhận ra sai rồi, nhưng phản ứng của mỗi người là khác nhau. Nếu ông Sang và những cán bộ, đảng viên, dù đã nghỉ hưu hay đương chức, nếu có lòng với dân với nước thì hãy dũng cảm lên tiếng kêu gọi đổi mới thể chế. Có xây dựng được thể chế thật sự dân chủ với tam quyền phân lập mới có cơ sở loại bỏ tham nhũng đến tận gốc. Còn bài viết “Lịch sử giúp chúng ta hiểu về hiện tại, dự báo tương lai” chỉ mới chứng tỏ ông Sang đangcó những phản tĩnh để làm người tử tế. Rất hy vọng ông sẽ vượt lên được chính mình để có thể vững vàng đứng trước sự phán xét của lịch sử.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Lướt trên mạng, thấy hay trích lại đây để có một cái nhìn gần như đồng quan điễm với ông Nguyễn Đình Cống.

    Huynh Ngoc Chenh viết:

    TIẾP TỤC ÔN CHUYỆN LỊCH SỬ VỚI ÔNG TRƯƠNG TẤN SANG

    Ngay vào lúc các đồng chí mang các đồng chí của mình ra xét xử ầm ầm thì ngài Trương Tấn Sang cựu chủ tịch nước đăng đàn lên nhiều báo đảng ôn chuyện lịch sử, chuyện vua quan, chuyện thịnh suy các triều phong kiến để từ đó rút ra bài học lớn vận dụng vào chuyện thịnh suy của đảng ông ngày hôm nay.

    Ông kể khi còn làm "vua" ở kinh thành Thăng Long, ông thường đi qua Hoàng Thành, đắm chìm vào "những dấu tích của thời đại vàng son" và "ngẫm nghĩ về những thời kỳ thịnh, suy của đất nước, về những lẽ hưng vong của thời cuộc"
    Ông kể dài dòng từ triều Lý qua triều Trần qua triều Hồ rồi tâm đắc với chuyện Chu Văn An dâng sớ "thất trảm" thanh lọc bộ máy cầm quyền sa đọa để cứu triều phong kiến của giòng họ nhà Trần vào thời mạt vận.

    Bài học lịch sử lớn mà "cựu vua" rút ra là hầu hết giòng họ phong kiến suy tàn bởi nguyên nhân giống nhau là vua lú lên ngôi sử dụng gian thần đưa đến rối loạn triều ca rồi sụp đổ. Rồi vận dụng vào thực trạng đảng ông ngày nay, ông ta thán: “Nếu tình hình tham nhũng và suy thoái không được loại trừ, Ðảng này, chế độ này, đất nước này sẽ đi về đâu”?

    Từ đó ông ca ngợi đảng của ông đã đến hồi sáng suốt, không đi vào vết xe đổ của các giòng họ phong kiến trước, biết chọn dùng người tài, biết trừng trị quan tham, làm trong sạch trở lại bộ máy cai trị, mang lại niềm tin yêu cho toàn dân. "...những gì Ðảng ta đã làm trong công tác cán bộ và xây dựng Ðảng là đúng với mong muốn và nguyện vọng của toàn dân" - ông lạc quan viết như thế và tin rằng bằng phương cách thanh lọc triều ca mà cụ Chu Văn An đề nghị cách đây cả ngàn năm, triều đại của đảng ông sẽ trường tồn bất chấp các quy luật khách quan của lịch sử.

    Rút ra bài học lịch sử như thế thì chẳng rút ra được gì hết, nhất là đối với một người có bằng cấp lý luận Mác Lê siêu cao vốn phải thuộc làu làu kinh điển chủ nghĩa duy vật lịch sử như ông.

    Tôi nhớ không lầm thì chủ nghĩa duy vật lịch sử dạy rằng trình độ sản xuất quyết định quan hệ sản xuất rồi hình thành nên thể chế chính trị tương ứng. Đất nước ta trải qua thời kỳ lâu dài ở trình độ sản xuất nông nghiệp lạc hậu nên tương thích với nó là thể chế chính trị quân chủ độc tài kéo dài suốt 4000 năm lịch sử. Giòng họ này lên cầm quyền rồi suy tàn thì có giòng họ khác lên thay. Hết triều Đinh thì có triều Lê, hết triều Lê thì có triều Lý, hết Lý đến Trần, hết Trần đến Hồ, hết Hồ đến Lê, hết Lê đến Mạc, hết Mạc đến Trịnh - Nguyễn (lúc đó vua Lê vẫn tồn tại nhưng chỉ làm vì), hết Trịnh Nguyễn đến Tây Sơn, hết Tây Sơn đến Nguyễn, và hết Nguyễn là đến... (cái gì đó sẽ bàn sau).

    Tên họ triều đình liên tục thay đổi, nhưng chế độ phong kiến tức bản chất thể chế chính trị theo kiểu quân chủ độc tài không hề thay đổi. Giòng họ cai trị có thịnh suy, nhưng thể chế quân chủ độc tài không hề suy suyển, chẳng có thịnh suy. Phong kiến nối tiếp phong kiến, vì trình độ và quan hệ sản xuất của xã hội vẫn chưa thay đổi, vẫn con trâu đi trước cai cày theo sau, vẫn mua bán đổi chác theo kiểu chợ quê, chưa có thị trường hàng hóa....

    Cho đến khi người Pháp đên xâm lăng, họ đồng thời mang trình độ và quan hệ sản xuất mới đến với xã hội VN. Lúc đó xã hội VN có thêm sản xuất công nghiệp tiên tiến đang xen với sản xuất nông nghiệp lạc hậu, bắt đầu manh mún thị trường hàng hóa. Đó là lúc chế độ phong kiến kéo dài cả hàng ngàn năm lịch sử bắt đầu lung lay và đi vào suy tàn.

    Cái suy của phong kiến là do thay đổi quan hệ sản xuất của xã hội chứ không phải do vô phước có ông vua lú lên ngôi và gian thần lộng hành. Vua lú và gian thần chỉ làm suy tàn giòng họ chứ không làm suy tàn chế độ. Chế độ chỉ suy tàn khi lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất thay đổi.

    Cuối đời nhà Nguyễn, chế độ phong kiến suy tàn, thể chế chính trị quân chủ độc tài không còn tương thích với hình thái xã hội mới và người dân cũng dần hiểu biết về các thể chế chính trị tiến bộ khác từ phương Tây, nên cách mạng, trước sau cũng phải nổ ra theo cách này hay cách khác để thay đổi thể chế. Đây là thời điểm xuất hiện những Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Hoàng Đạo, Nguyễn Áí Quốc, Trần Trọng Kim, Ngô Đình Diệm...Những bậc tiền phong này liên tục thôi thúc xã hội đứng lên làm cuộc cách mạng dân chủ đồng thời với công cuộc giành độc lập để thay thế chế độ phong kiến đến lúc suy tàn.

    Những thôi thúc đó đã tác động đến Bảo Đại, ông vua cuối cùng của chế độ phong kiến. Ông học hành từ Pháp về nên nhanh chóng am hiểu thời cuộc. Ông thức thời, tự làm cách mạng trước khi người dân nổi dậy làm cách mạng, bằng cách chuyển từ thể chế quân chủ độc tài qua thể chế quân chủ lập hiến, mời nhà trí thức Trần Trọng Kim ra lập chính phủ. Đây là một cuộc cách mạng to lớn tạo ra bước ngoặc lịch sử mới cho dân tộc chứ không phải là chuyện tầm thường như đánh giá của lịch sử được viết lại bởi những kẻ cướp chính quyền sau nầy.
    Đây là cuộc cách mạng phù hợp với xu thế thời đại, phù hợp với lòng dân, không gây ra xáo trộn và đổ máu.

    Rút ra bài học lịch sử là rút ra từ chỗ nầy, từ thời điểm suy tàn của thể chế quân chủ độc tài sau khi đã kéo dài gần 4000 năm lịch sử của dân tộc, chứ không phải từ chỗ thịnh suy nhất thời của từng giòng họ. Chế độ phong kiến với thể chế quân chủ độc tài đã làm xong nhiệm vụ lịch sử của mình và đến lúc phải tự giác rút lui để thay vào một thể chế mới tiến bộ hơn và tương thích với hình thái xã hội mới.

    Thể chế chính trị hiện nay theo mô hình độc đảng của nhà nước Liên Xô thực chất chỉ là hình thức mới của chế độ phong kiến, một loại phong kiến tập thể, thay vì "quân chủ độc tài" là "đảng chủ độc tài", đã quá lỗi thời vì không tương thích với hình thái xã hội mới dựa trên lực lượng sản xuất mới và quan hệ kinh tế thị trường nên đã bị chính những kẻ đẻ ra nó tự giác đào thải.

    Gắng gượng tìm mọi cách để duy trì sự tồn tại của thể chế chính trị lỗi thời là duy ý chí, là chặn đứng bánh quay của lịch sử, là phản động, là có tội với đất nước.

    Đó là điều chủ nghĩa duy vật lịch sử của các ông nói, chứ không phải người viết bài nầy nói.

    Huynh Ngoc Chenh