Truyện ngắn cuối tuần - Củ khoai Yên Bái

  • Bởi Biên tập viên
    25/11/2017
    2 phản hồi

    Nguyễn Đình Phùng - Phạm Hữu Phước

    Mới đây tôi đổi bức ảnh trên FB. Hai người bạn của tôi trong phần comments có nhắc đến chuyện “ Củ khoai Yên Bái “ và những ngày gian nan tù tội của tôi ở Bù Đăng . Năm 2006 những bạn bè cũ còn sống sót của Y khoa Sài Gòn niên khóa 1966-1973 họp mặt nhau tại California. Tôi gặp lại Nguyễn Đình Phùng, một người bạn rất thân những ngày còn ở đại học. Tôi kể hắn nghe những cực khổ tôi đã trải qua sau khi Phước Long thất thủ, tôi bị bắt làm tù binh và bị dẫn ra Yên Bái. Hắn vừa là BS nhưng cũng là một nhà văn, nghe chuyện tôi kể hắn viết thành chuyện ngắn " Củ khoai Yên Bái ".
    Những chi tiết trong chuyện là một phần của đời tôi, nhưng sự sắp xếp và các nối kết là do tài viết văn của hắn.
    Những bất hạnh trong đời đã làm tôi hiểu thấm thía nghĩa " Khổ đế " của Đạo Phật. Tôi đến với Đạo Phật dễ dàng hơn và bây giờ Đạo Phật là một phần đời sống của tôi. Tôi muốn chia xẻ với các bạn khoản đời của một người may mắn còn sống sót trong bom đạn trên chiến trường. Sau đó lại may mắn sống sót một lần nữa sau những ngày tù tội trong trại giam Yên Bái. Trong trại tù ai cũng có thể mất mạng dễ dàng chẳng khác gì trên chiến trận.

    Phước nhìn tôi mỉm cười:

    - Cậu đói lắm hay sao mà thúc vợ cậu làm cơm dữ vậy? Tôi vừa ra phi trường đón Phước về. Chúng tôi không gặp nhau đã hơn ba mươi mấy năm. Tôi chỉ nghe nói Phước vượt biên nhiều lần nhưng không thoát, bị giam cầm nhiều năm. Cứ mỗi lần được thả ra, Phước lại tìm đường trốn, đến lần thứ bảy hay thứ tám gì đó, Phước mới sang được Úc, định cư tại đây và trở lại được hành nghề bác sĩ tại Melbourne. Tôi không tưởng tượng được có ngày nghe lại giọng nói của Phước qua đầu dây điện thoại, hẹn sẽ sang chơi và đến thăm nhà. Tiếng cuời vẫn vui, tiếng nói vẫn sang sảng, như ngày nào chúng tôi cùng ở chung nhà, học thi để lên lớp cuối năm, đã ba mươi mấy năm trước.

    Phước nhấp ngụm nước:

    - Trong khi đợi vợ cậu làm cơm, để tôi kể cho cậu nghe chuyện tôi ở tù sau ngày Phước Long thất thủ. Ừ! Nghe cậu kêu đói, tôi sẽ tả cho cậu biết cái đói thực sự nó ra thế nào.

    Phước có tài kể chuyện. Tôi nhớ đến những ngày xưa cũ, khi ở chung, Phước kể chuyện rất có duyên. Những câu chuyện được xếp đặt thứ tự, mạch lạc đầu đuôi, có mở đầu, dẫn nhập, rồi vào chuyện, chi tiết lớp lang như theo một dàn bài. Tôi nhìn Phước, hít một hơi dài, mắt lim dim như muốn tìm đầy đủ những kỷ niệm, những cảm xúc của năm xưa. Phước như người cẩn thận, ngăn nắp tôi từng biết, không muốn mất đi một ký ức nào đã ghim sâu vào tâm khảm, như người hằng ba mươi mấy năm nay đã chờ đợi để ngày hôm nay gặp lại, kể cho tôi nghe những câu chuyện của đời mình đã trải qua.

    Phước cất tiếng:

    - Cậu biết không? Cuộc đời có những ngã rẽ không thể ngờ được. Ai cũng có định mệnh của mình. Không thể nào tránh khỏi được. Nhiều đêm sau này trong tù tôi vẫn nghĩ đến điều đó. Là nếu tôi không nhất định giữ đúng ngày phép hạn định của mình, ở lại Sài Gòn, không trở lại Phước Long, tôi đâu có bị những hoạn nạn kinh khủng đến như vậy. Cậu còn nhớ hồi ra trường, cậu đi Tây Ninh còn tôi đi bệnh viện Phước Long. Tôi được đi phép một tuần về Sài Gòn trước ngày Việt Cộng đánh Phước Long. Vợ tôi khóc quá mức khi thấy tôi nhất định giữ đúng ngày phép, ra trình diện lại ở Cục Quân Y. Bố vợ tôi cũng ngăn, nói tình hình nguy kịch quá rồi, ở nhà luôn đi, đừng lên Phước Long nữa.

    Phước thở dài:

    - Cậu biết, tính mình hồi đó còn tuổi trẻ, bồng bột, đâu biết tính toán gì. Tôi không thích làm điều gì sai quấy, hạn phép nghỉ chỉ một tuần, hết hạn là mình ra trình diện, không muốn trốn ở lại.

    Tôi đến Cục Quân Y lúc đó là buổi chiều. Chiếc trực thăng đậu trong bãi đáp đang sửa soạn để cất cánh bay chuyến chót, bổ xung người cho bệnh viện tiểu khu Phước Long. Toán sĩ quan trợ y, y tá đã ngồi đầy không còn một chỗ trống trên đó. Trung tá y sĩ Liễn đích thân đưa tôi ra và hạ lệnh cho trực thăng khoan cất cánh. Ông chỉ tay vào người sĩ quan trợ y ngồi sát bìa:

    - Em đi xuống để chỗ cho bác sĩ Phước lên. Người thiếu úy trợ y khuôn mặt trẻ măng chắc mới ra trường vội vàng đi xuống, không dấu được vẻ mừng rỡ. Tôi sửa soạn để trèo lên trực thăng và ánh mắt chúng tôi chạm nhau. Tôi nhìn được sự sung sướng của người trợ y, như một kẻ sắp bước chân vào địa ngục được trở lại trần thế. Ai cũng biết Phước Long sắp mất trong nay mai và bị gọi để đi lên Phước Long được coi như lãnh án tử hình. Vận mệnh của chúng tôi đã trao đổi cho nhau trong giây phút đó, trong luồng ánh mắt gặp nhau buổi chiều hôm đó!

    Tôi không hiểu người thiếu úy trợ y được thoát chuyến bay cuối cùng đi lên bệnh viện tiểu khu sau này ra sao? Anh có thoát được những hiểm nghèo khác không trong những ngày sau chót của cuộc chiến? Anh đã chết trong một trận đánh nào khác? Hay anh đã bình yên và an lành sống một cuộc đời hiền hòa ở Hoa Kỳ, ở Úc hay một chỗ nào đó trên khắp quả địa cầu? Nhưng tôi biết, tôi đã lấy chỗ của anh để bước chân vào địa ngục. Vì vận mệnh của tôi đã sắp đặt để sự việc xảy ra như thế, để tôi phải bị đọa đầy trong mấy năm trời đằng đẵng, dài như cả một đời người!

    Phước ngồi thừ một lúc, không nói gì. Một lúc sau Phước bật cười:

    - Ừ! Cậu biết không? Tôi lâu lâu vẫn nghĩ có ngày nào mình đi đâu đó, rồi gặp lại anh chàng trợ y mình đã hoán đổi định mệnh ba mươi mấy năm trước. Mình muốn biết anh chàng sau này ra sao? Cuộc đời hắn thế nào? Cũng hay đấy chứ nhỉ?

    Phước lắc lắc đầu mấy cái, như muốn đánh đuổi ý nghĩ đó ra khỏi đầu:

    - Để tôi kể tiếp cho cậu nghe. Cậu còn nhớ Trần Kim Phẫn không? Nó ra trường về cùng bệnh viện tiểu khu với tôi. Chắc cậu không biết điều này vì nó dấu kín với tất cả mọi người. Chỉ tôi ở với nó trên Phước Long mới được biết. Cậu không thể ngờ được là nhà nó nghèo đến thế nào. Ba nó đạp xích lô nuôi nó ăn học. Phẫn vào được trường y khoa, nó học rất giỏi vì chỉ ở trong nhà thương không bao giờ về nhà. Lý do là nhà nó kinh khủng quá, ở trong nhà thương ăn ở đầy đủ, lại có cơ hội thực hành nhiều, nên nó không về nhà nữa. Tôi đã nghĩ chỉ mình mới gặp nhiều hoạn nạn, nhưng Phẫn, định mệnh của nó còn thê thảm hơn nhiều. Cậu còn nhớ tuy nó là người bạn tốt, nhưng lại có biệt danh kỳ quái là Phano vì lúc nào cũng dễ phẫn nộ. Nhưng trong sự giận dữ của Phẫn tôi thấy một niềm đau đớn nào đó. Có lẽ Phẫn đã linh cảm được cái chết sắp đến của mình.

    Chiều hôm đó, chiếc trực thăng vừa đáp xuống bệnh viện tiểu khu, tôi đã thấy Phẫn vội chạy ra. Thấy tôi bước xuống, Phẫn nhào lại nắm lấy vai tôi lắc mạnh:

    -Trời ơi! Mày sao ngu quá vậy Phước! Tao đã mừng tưởng mày được đi phép là thoát rồi. Sao không ở lại luôn lên làm gì?

    Phẫn la hét chửi tôi, cơn tức giận không dấu được như bừng bừng bốc lửa. Phẫn đánh mạnh vào tay tôi làm tôi đau điếng. Phẫn như người cuồng điên, sự phẫn nộ tràn ra ào ạt. Nhưng trong ánh mắt giận dữ của Phẫn, tôi thấy được những lo âu, sợ hãi. Những xúc cảm mãnh liệt của Phẫn không dấu được sự kinh hoàng của người biết trước được định mệnh của mình, nhưng hầu như còn được chút an ủi là người bạn thân đồng khóa đã may mắn được về phép trước khi Việt Cộng tấn công Phước Long, tưởng là thoát khỏi hiểm nghèo. Nay thấy tôi đột nhiên xuất hiện trên chuyến trực thăng chót đưa người lên bệnh viện tiểu khu, đưa đầu vào chỗ chết, bảo sao Phẫn không nổi điên lên được!

    Phước không nói nữa. Một lúc sau, Phước nghẹn ngào, nói ngắn gọn:

    - Đêm đó, Việt Cộng tấn công, Phẫn chết ngay trong đợt pháo kích đầu tiên. Phước nhìn tôi, lắc đầu:

    - Tôi định kể cho cậu câu chuyện về đói cơ mà! Vợ cậu chắc làm cơm sắp xong. Những chuyện khác trong trận đánh Phước Long, tôi sẽ lần lượt kể sau cho cậu nghe, nhưng trong đêm Phẫn chết đó, tôi cũng bị thương nặng ở đùi. Và trở thành tù binh, cùng với bao nhiêu người lính khác bị Việt Cộng bắt sau trận đánh. Chúng tôi bị giam, bị bỏ đói, tôi không biết bao nhiêu ngày nữa. Vết thương đùi của tôi làm độc, tôi không còn hơi sức, nằm một chỗ, nhức nhối đau đớn đến cùng cực. Đàn ruồi bay vo ve theo tôi hàng mấy ngày rồi vì mùi thịt thối xông lên nồng nặc. Những người tù binh khác đều dạt ra xa vì không muốn phải ngửi mùi kinh khủng này. Chính tôi lúc nào cũng buồn nôn muốn ói vì cái mùi ghê tởm ngày đêm bao phủ lấy mình. Tôi không đi được, phải dùng hai cùi chỏ để lết. Nhưng sau cùng lết cũng không được vì mấy ngày không ăn đã kiệt lực không còn hơi sức. Tôi chỉ còn cách nằm yên, nhắm mắt lại, cố gắng để quên cái đau và cơn đói đang hành hạ.

    Bỗng dưng một mùi thơm lạ lùng thoảng vào mũi tôi. Chừng như mùi hôi thối từ vết thương đùi cũng không đánh át được mùi thơm này. Tôi mở mắt ra và thấy một anh lính địa phương quân tù binh đang được người mẹ cho ăn cháo. Bà mẹ nấu ít cháo đem đến cho con ăn. Tôi không hiểu sao bà được Việt Cộng cho phép vào và đến thăm đứa con. Nhưng tôi không muốn tìm hiểu gì thêm. Vì cơn đói như được mùi cháo thơm làm bùng dậy mạnh mẽ. Cái đói cồn cào, thôi thúc, còn hơn cả cơn đau vết thương đang hành hạ. Tôi không thể nhịn được và như trong cơn mơ, tôi thấy tôi lết lại dần chỗ có mùi thơm kỳ diệu kia. Mắt tôi không thể rời ra khỏi tô cháo anh lính đang đưa vào miệng húp. Cơn đói càng lúc càng tăng lên làm tôi run bần bật. Mắt tôi hoa lên, mồ hôi ra ướt đẫm trán nhưng tôi cố gắng để chặn mình không mở miệng ra xin ăn cháo. Cả đời tôi chưa bao giờ bị đói. Và tôi chưa hề một lần mở miệng xin xỏ ai, dù là bất cứ điều gì. Tôi nghĩ đến bố mẹ tôi, đến tổ tiên dòng họ, ngay thẳng chân chính, không hề quỵ luỵ ai, lúc nào cũng giữ lưng cho thẳng, có bao giờ mở miệng van xin dù có chết đi chăng nữa. Và tôi đang nằm đây, mắt không chớp nhìn vào tô cháo, đánh nhau với chính mình, cố gắng bậm môi đến gần bật máu để không mở miệng xin ăn cháo.

    Nhưng cái đói không để yên, sự hành hạ đã quá mức, tôi không thể chịu nổi nữa. Tôi nghe tiếng mình nói, thều thào: "Cho... xin... chút... cháo!" Anh lính địa phương quân tù binh không quay đầu lại, tiếp tục húp cháo. Nhưng bà mẹ quay sang tôi, hung dữ:

    - Cháo này tôi cho con tôi, thừa đâu cho anh! Bà bĩu môi, hất tay như muốn xua tôi đi chỗ khác. Tôi thấy quay cuồng, cơn đói, cơn đau vết thương và nỗi nhục nhã uất ức như cùng nhau hợp vào, ùa đến như làn sóng thần phủ chụp. Nước mắt tôi chảy ra dàn dụa. Anh lính lúc đó mới quay đầu lại, chừng như bất nhẫn, nhìn bà mẹ một hồi rồi ngập ngừng đưa tôi tô cháo đang húp dở. Tôi giơ tay cầm tô cháo. Mùi thơm ùa vào mũi và như một phản xạ không kiềm chế được, tôi há miệng để dòng cháo chảy vào. Nhưng nước mắt tôi càng lúc càng chảy ra nhiều hơn. Cái đau tinh thần đã thay thế cho tất cả những nỗi đau thân thể và cơn đói hành hạ. Tôi thấy tôi. Một bác sĩ vừa ra trường, cả đời chỉ lo học hành, đi tìm cái hay, cái đẹp của cuộc đời, muốn giúp người, cứu người. Và chỉ trong mấy tháng vừa qua sau khi ra trường làm việc tại bệnh viện tiểu khu này, tôi đã cứu được nhiều thương bệnh binh và cũng được nhiều người kính phục. Tại sao tôi lại ở đây, khổ sở, đau đớn, điên cuồng vì đói để bị sỉ nhục, khinh khi chỉ vì cái đói kinh khủng đã làm tôi phải mở miệng để xin ăn cháo! Dòng cháo thơm tho, nuôi sống, đã vào miệng rồi nhưng cơn nghẹn ngào và nước mắt tuôn rơi làm tôi không thể nuốt nổi. Cổ họng tôi như thắt lại và dù cơn đói thôi thúc, tôi nhả ra và trao lại tô cháo cho anh lính. Tôi cố gắng dùng tàn hơi để bắt mình lết dần sang một chỗ khác, để không thấy, không nghe tiếng húp cháo nữa, dù mùi cháo thơm tiếp tục bay đến hành hạ như không bao giờ ngơi nghỉ.

    * * *
    Phước nhìn tôi. Phước hỏi nhưng mắt mơ màng như vẫn còn đang sống trong kỷ niệm của ba mươi mấy năm về trước: - Cậu nghe đã sợ cái đói thực sự như thế nào chưa? Nhưng khoan! Trước khi vào ăn cơm, để tôi kể nốt cho cậu nghe câu chuyện đói khác. Chuyện này có hậu hơn. Tôi biết cậu thích chuyện gì cũng phải có hậu mà phải không? Tôi sẽ kể thêm những chuyện trong trại tù binh ở miền Nam cho cậu nghe sau. Nhưng để tôi nhảy sang chỗ tôi bị chuyển ra Bắc, bị đưa ra trại Yên Bái, chỗ giam cầm bao nhiêu người bên mình bị bắt từ bao nhiêu năm, những biệt kích, phi công bị bắt, đều bị giam ở đây.

    Sau trận Phước Long, tôi cùng nhiều sĩ quan khác bị đưa ra Bắc, đoàn xe của chúng tôi chạy suốt quãng đưòng dài, dân chúng miền Bắc như được lệnh, thấy mặt chúng tôi là sỉ vả, nguyền rủa. Tôi có nhiều chuyện lắm cho cuộc hành trình này, tôi sẽ lần lượt kể cho cậu nghe sau. Nhưng để tôi kể chuyện này khi gần đến Yên Bái.

    Lúc đó trời đã về chiều, đoàn xe dừng lại. Bộ đội đi xuống kiếm chỗ đi tiểu hay ăn uống. Chỗ này đã gần đến Yên Bái và đã có ít căn nhà thưa thớt của dân dọc hai bên đường. Một người đàn bà dáng đã già tiến lại hỏi mấy tên bộ đội về đoàn xe. Được nghe giải thích đây là những tù binh từ miền Nam bị bắt đưa ra trại giam Yên Bái, bà ta tiến lại chỗ chúng tôi. Bà hoa chân múa tay bắt đầu chửi:

    - Tiên sư bố chúng mày! Cho chúng mày chết hết đi! Đáng đời chúng mày! Bà càng chửi càng hăng hơn. Bộ đội thích thú cười. Chúng tản mát ra kiếm chỗ để lấy đồ ngồi ăn và uống nước. Một lúc không thấy bộ đội nào lảng vảng gần đó nữa, bà cụ già tiến lại gần hơn chiếc xe tôi đang nằm trên cáng. Mặt bà dịu lại, vẻ dữ tợn biến đâu mất. Trên khuôn mặt nhăn nheo, sạm nắng và cặp mắt trũng sâu, chỉ còn lòng trắc ẩn. Bà lại gần tôi, nhìn vào vết thương đùi không lành đã mấy tháng nay, lúc nào cũng đầy mủ và bắt đầu có dòi. Bà nói nho nhỏ:

    - Tội nghiệp con! Làm sao để ra nông nỗi này. Chúng nó khốn nạn quá! Rồi bà rút trong ngực áo ra một củ khoai, dúi vào tay tôi: - Con ăn đi cho đỡ đói!
    Bà vừa nói vừa láo liên nhìn về phía đám bộ đội. Thấy một tên đi xăm xăm lại, bà quay người đi ngay. Tôi ngẩn người nhìn theo bà lão. Dù đang đói lả, cơn đói như cào xé lấy ruột gan, tôi không ăn ngay được. Cho đến khi bóng bà lão khuất sau hàng dậu thưa của căn nhà bên đường và tên bộ đội trở lại chỗ ngồi cũ, tôi mới ngoạm vào củ khoai còn nóng. Miếng khoai ngọt ngào trôi vào trong cổ họng, thơm ngon và ấm áp. Nuớc mắt tôi ứa ra, nhớ lại bát cháo ngày nào ở Phước Long. Miếng cháo cũng thơm ngọt, nhưng dù có sắp chết tôi không thể nào nuốt trôi. Còn miếng khoai này, đầy ắp tình người, đã nuôi sống tôi buổi chiều hôm đó, cũng như giúp tôi trải qua những đọa đày cùng cực của ba năm giam cầm ở trại giam Yên Bái.

    Vì cậu thấy không? Trong chốn địa ngục của trần gian đó, chỉ còn hy vọng là điều ngăn cách giữa cái sống và cái chết, giữa lương tri và ác độc, giữa chịu đựng và buông xuôi. Và tình người của bà lão Yên Bái đã giúp cho tôi còn chút hy vọng, khi đã tuyệt vọng không cùng, khi chỉ còn muốn nhắm mắt để vĩnh viễn ra đi. Củ khoai của bà đã nuôi sống tôi đến tận bây giờ đó cậu ạ!

    Nguyễn Đình Phùng - Phạm Hữu Phước

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Bài dưới đây cho rằng dân VN đang trong tình trạng tâm lý "tập nhiễm bất lực". Nhưng cách nào để thoát ra khỏi nó? Có lẽ là hy vọng! Và có cách nào đem lại cho dân VN niềm hy vọng (tỉnh táo) tràn đầy?

    http://danlambaovn.blogspot.com/2017/12/tam-ly-tap-nhiem-bat-luc.html#more

    Tâm lý tập nhiễm bất lực

    Người lang thang (Danlambao) - Một dân tộc bất khuất đang chìm đắm trong vũng lầy của tâm lý tập nhiễm bất lực.

    Tâm lý tập nhiễm bất lực (learned helplessness) là một thuật ngữ trong ngành tâm lý học mà giáo sư Martin Seligman năm 1967 đã dùng trong thí nghiệm tìm hiểu phản ứng của loài chó và sau đó loài người tại đại học Pennsynvania ở Hoa Kỳ.

    Những người bị tâm lý tập nhiễm bất lực trở nên thụ động, mất ý chí vượt thoát khỏi hoàn cảnh hay tình huống nào đó dù họ biết là vẫn có thể làm được.

    Sự hiểu biết về tâm lý tập nhiễm bất lực rất cần thiết trong công tác giáo dục và xã hội.

    Ở VN người đối lập không muốn chống đối. Công dân không muốn là người của xã hội. Người yêu nước không dám vạch mặt kẻ bán nước. Người Việt mang nặng mặc cảm là nạn nhân, cho rằng mọi sự ở ngoài tầm tay và không thể thay đổi được điều gì cả.

    Người Việt bây giờ không quen đối kháng hoàn cảnh xã hội và chính trị dù biết rằng sự thay đổi sẽ tốt hơn. Cái tâm lý xin cho, được dạy dỗ dẫn dắt, hưởng cơn mưa móc đã trải qua nhiều thế hệ. “Đã có đảng và nhà nước lo”, một câu nói thường phát ra ở cửa miệng, là lời chạy tội để che giấu sự khiếp nhược vì thiếu vắng năng lực hành động của một công dân có trách nhiệm.

    Suốt nhiều thập niên, vòng kim cô cộng sản đã xiết chặt trên đầu khiến người Việt mang nặng tâm lý tập nhiễm bất lực trước bạo quyền.

    90 triệu người Việt đang mộng du, gần như mất khả năng tự chủ để sinh tồn.

    Họ làm chủ đất nước nhưng cam phận tôi đòi và hài lòng với những gì được ban phát.

    Họ bất mãn chế độ nhưng sợ sự thay đổi.

    Họ cảm thấy bị áp bức và bị đối xử bất công nhưng không dám tranh đấu cho quyền lợi cúa mình.

    Họ căm ghét quan chức và chính phủ nhưng chấp nhận nhà nước chen vào và quyết định tất cả mọi lãnh vực trong cuộc sống.

    Họ căm ghét công an, cảnh sát nhưng lại yên lòng sống dưới chế độ công an trị.

    Họ cảm thấy bị lừa gạt nhưng lại tin vào những gì viết trên sách báo và chiếu trên TV.

    Họ thấy những tệ nạn xã hội nhưng vô cảm.

    Ho chỉ trích tham nhũng nhưng vẫn đồng lõa với thối nát.

    Họ thua kém vì bị bóc lột nhưng sẵn sàng bợ đít kẻ quyền thế giàu có.

    Họ rất yêu nước nhưng không dám bày tỏ sự chống đối kẻ thù truyền kiếp của dân tộc.

    Khi người ta không thể tự cải thiện cuộc sống của mình thì họ chạy trốn thực tế bằng cách giao vận mệnh của mình vào tay kẻ khác. Ở đất nước này, sự phân cách giữa người dân và bọn cầm quyền rất rõ rệt. Đám thiểu số cai trị tha hồ sử dụng, phân phối tài nguyên quốc gia như thuộc quyền sở hữu riêng để chia chác hưởng lợi. Thêm vào đó, thay vì tạo cho người dân niềm tin vào giá trị bản thân, gia đình và xã hội, những thứ giờ đây đã bị đạp xuống bùn, bọn cầm quyền cho thực hiện những chương trình hướng mối quan tâm của người dân sang những lãnh vực khác như văn nghệ, thời trang, thể thao, phim ảnh..., đề cao lối sống đua đòi hưởng thụ, và tẩy não chính trị thay cho ý tưởng đấu tranh cho quyền lợi xã hội và dân quyền. Tuyên truyền là phương cách hiệu quả nhất để trấn an và trấn áp căn bệnh tâm lý của người Việt. Người ta thổi phồng 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, những thành quả kinh tế giả tạo, chụp mũ phản động và thanh toán những phần tử chống đối hay muốn cải cách, gọi họ là thế lực thù địch,xét lại,suy thoái tư tưởng, bằng cách bắt giữ,khủng bố, giam cầm hay thủ tiêu .Người Việt chỉ nên thỏa mãn với những gì đang có và sống kiếp tầm gửi, cứ yên tâm giao phó cuộc sống của bản thân, gia đình cho đảng và nhà nước. Ngay cả lòng yêu nước cũng phải được hướng dẫn chỉ đạo theo chủ trương chính sách. Những tội ác lịch sử được định nghĩa chỉ là sai lầm. Các dự án kinh tế liên tục thất bại và số tiền khổng lồ từ công quỹ không biết chạy vào túi những ai. Người dân không được quyền tìm hiểu, chỉ được biết những gì nhà cầm quyền cho phép biết và phải hiểu theo cách họ giải thích. Tâm lý tập nhiễm bất lực đã làm tê liệt khả năng đối kháng của người Việt. Đảng cầm quyền khai thác triệt để tâm lý này để cai trị. Tuyên truyền của họ không những chỉ thao túng thông tin và ý thức tập thể mà còn là liệu pháp tâm lý ở cấp quốc gia. Nó đánh lừa sự thật và ru ngủ quần chúng.

    Không một xã hội nào có thể lý tưởng hơn cái xã hội này cho tư tưởng độc tài toàn trị bám rễ và tồn tại.

    EFG viết:
    “ Hy vọng” vừa là món quà vĩ đại của Tự nhiên ban cho con người, vừa là vũ khí cuối cùng của những kẻ yếu thế !Nhưng “hy vọng” còn cần hai điều kiện, phải hy vọng một cách tỉnh táo và cố gắng tìm ra cơ hội , thực hiện những hành động phù hợp với niềm “hy vọng” ấy ! ( Nếu không có hành động, “hy vọng” rất dể kết thúc với tình trạng chờ đợi trong….”tuyệt vọng”) .

    Đúng boooong. :)

    Một thành phần không nhỏ các trí thức yêu đảng "ta" vẫn cố gắng hy vọng đảng và nhà nước "ta" sẽ "thức tỉnh", sẽ thay đổi, sẽ đổi mới... Nhưng tôi cho rằng những hy vọng này KHÔNG hề tỉnh táo, họ viết ra những sai lầm của chính sách, của thực hành, của thực tế....., họ cố gắng tìm cơ hội để khuyên lơn đảng "ta" thay đổi, đổi mới.... và họ đã không dám nhìn thẳng vào thực tế là niềm hy vọng của họ rất mong manh, không có đáp số... , vì cái đáp số KHÔNG nằm trong tay họ.

    Dù sao đi nữa, thì vẫn hơn tuyệt vọng... và niềm hy vọng mong manh này chỉ để tự cứu bản thân, khi tuyệt vọng đang dần đến...

    Tôi sẽ "ngâm kíu" Sấm để giải. Hy vọng sẽ có khả năng "đối thoại" với bác về Sấm. :) :)

    Nguyễn Jung

    Trích dẫn:
    “Trong chốn địa ngục của trần gian đó, chỉ còn hy vọng là điều ngăn cách giữa cái sống và cái chết, giữa lương tri và ác độc, giữa chịu đựng và buông xuôi.

    Đoạn trích trên ....“ chuẩn không cần chỉnh” !
    Trong đoạn nói về “địa ngục” , nhà thơ thời Trung cổ người ý - Dante Alighieri (1265-1321), kể rằng cổng địa ngục có ghi hàng chữ “ Kẻ nào bước vào đây, hãy để hy vọng lại bên ngoài “ ( ai biết tiếng Ý thì tham khảo "Lasciate ogne speranza, voi ch'intrate"). Nhà thơ /triết gia này có lẽ muốn nói một ý như câu trên ( dù chưa từng biết địa ngục CS ) - “ Hy vọng” vừa là món quà vĩ đại của Tự nhiên ban cho con người, vừa là vũ khí cuối cùng của những kẻ yếu thế !Nhưng “hy vọng” còn cần hai điều kiện, phải hy vọng một cách tỉnh táo và cố gắng tìm ra cơ hội , thực hiện những hành động phù hợp với niềm “hy vọng” ấy ! ( Nếu không có hành động, “hy vọng” rất dể kết thúc với tình trạng chờ đợi trong….”tuyệt vọng”) .
    ----------
    Và để “giữ gìn niềm hy vọng” , thì người ta có rất nhiều cách,trong đó, có một cách vui vui – đó là “hy vọng” vào “ Sấm ký” các loại ?!

    Nhân cuối tuần , thử bàn chơi một bài Sấm ký…về “hậu vận” của VN XHCN ( không phải VN à nha ?!- Và lưu ý “ Sấm ký” không có tay, có mồm và internet…, không phải đọc rồi ngồi đó chờ “sung rụng”. Ai đọc xong mà ngồi yên đó chờ “Sấm ký “ làm thay việc của mình…thì coi chừng chỉ thấy có Sấm…chớp !Hic !)

    Ô hô thế sự tự bình bồng
    Chắc “bình bồng” này nói về chủ trương …”đu dây” của VN ?! Hè he

    Nam Bắc hà thời thiết lộ thông
    Hiện tại, có một loạt các dòng tin “….tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng” , “ ..ký kết Hiệp định vận tải đường sắt biên giới mới> “.. Thúc đẩy hợp tác đầu tư và kết nối chiến lược phát triển giữa hai nước với đại chiến lược ... [em]“hai hành lang, một vành đai” và “một vành đai, một con đường” … vv.
    Đường sắt trên không và tuyến đường, đầu tàu từ biên giới phía Bắc…kinh, về đến …Ba Đình, là do TQ làm “tổng thầu”, chính là đang thực hiện chuyện “thiết lộ thông “này ! Sau khi đã “thiết lộ thông” thì mới thúc đẩy “… Tăng cường hợp tác tài chính và tiền tệ…”mua lại các ngân hàng “được đảng ta cho phép phá sản” và muốn biết kế sách“tầm ăn dâu” tiếp đến thì cứ tham khảo[em]”…Danh mục các dự án hợp tác năng lực sản xuất giữa Bộ Công Thương nước CHCNXH Việt Nam và Ủy ban Phát triển và Cải cách nước CHND Trung Hoa...vv

    Hồ ẩn sơn trung mao tận bạch .
    Bốn chữ đầu “ Hồ ẩn sơn trung” có lẽ nói về cái “sơn” mà Hồ ẩn ngày xưa, nay là cái “ sơn” của “trung quốc”, nên gọi là “sơn trung” ! He he . Vả lại, Hồ lão nhi, khi đã bị internet đốt sạch các lớp mặt nạ mà Tuyên huấn từng thay nhau tô vẽ trên mặt, khi toàn bộ sự thật đã bị… lộ thì , chắc chắn không còn dám chường mặt ra ở …đồng bằng , đám lâu la của Hồ không trốn lên núi ma mị dân tộc thiểu số thì còn biết đi đâu ?)
    Nhưng đó cũng là lúc , Tập đế chiếm ngôi cao của Mao, nhưng không phải là Mao đã bị tận phá . Ngược lại, “học thuyết Trung Hoa đặc sắt” mới này của họ Tập đã thực sự “bạch hóa” toàn bộ dã tâm và tham vọng của Mao ngày xưa, nên mới nói là “ Mao tận bạch”

    Kình ngư hải ngoại huyết lưu hồng.
    Thế nào biển Đông hoặc vùng biển Nhật bản cũng có xung đột ? Nhưng có vẻ không từ VN, vì VN là loại “cá lòng tong” ,hoàn toàn không phải loại “kình ngư”. Mà VN cũng phải là kẻ phát động, thế nên trong cuộc xung đột ấy, máu của các quốc gia khác sẽ đổ …nhiều hơn máu Việt ?!

    Kê minh ngọc thụ thiên khuynh bắc
    “Kê minh, ngọc thụ” là những thứ tượng trưng cho quyền uy của bật đế vương- Hiện nay và sắp tới, vị thế TQ sẽ dần vọt lên cao ngất ngưỡng ( 1.3 tỉ dân đói là một lợi thế của ông vua họ Tập )! Phương Bắc ( của VN ) mà nổi lên thì các phương khác có thể gặp nguy ( Nguy nhất là phương…An Nam ! Hic !)

    Ngưu xuất lam điền nhật chính đông
    Do chú trọng “năng lực trí tuệ ,trí óc”, Việt cộng thích chọn Trâu/ Bò làm biểu tượng Cuốc ra. Vậy nên con trâu VN có khả năng sẽ phải mở rộng các vùng “Đặc khu” hướng về biển Đông để tồn tại…Có khi từ “chính sách Tô Giới” này mà tạo nên lối thoát cho thể chế Chính trị ở VN chăng ?

    Nhược đãi ưng lai sư tử thượng
    Mỹ thường dùng biểu tượng con chim ưng ! Con ưng này ( không nói Trump đâu nhé- Trump quay phim bị chim ưng mổ, Hè hè, con ưng nước Mỹ thứ thiệt “có vẻ” không ưa Trump ) nếu nó chịu hạ mình ghé đến, thì dân tộc VN sẽ lột xác đứng lên, cất tiếng gầm của Sư Tử.
    Mà muốn là Sư tử thì trước , chính quyền Việt cộng phải bỏ được cái kiếp làm chó cho TQ,đã , còn dân tộc VN phải tránh xa “não trạng nô lệ”, cái tâm thức “quỳ hôn liếm láp …người tứ xứ” đến VN …và xã hội phải chuyển sang Tự do-Dân chủ -Đa nguyên, cạnh tranh chính trị lành mạnh !

    Tứ phương thiên hạ thái bình phong
    Câu này …hm…có lẽ chỉ là một kiểu “kết luận” …, nó có thể đề cập đến một giai đoạn tạm ổn nào đó. Ngọn “thái bình phong” này chắc thổi từ ngoài biển Đông vào ?Nếu không thì chịu…( vì “Sấm” mà viết rõ ràng, thẳng tuột như câu này thì…chả lý thú, hấp dẫn gì mấy ?)
    Có thể “con trâu VN”, theo câu trước, nếu “thượng” lên như…Sư tử Do Thái, Sư tử Nhật thì lo gì mà “thiên hạ” không thái bình ? - He he, nhất là Lao/ Cambodia….thái bình chắc luôn ! ) Xưa kia Phù Nam/ Chân Lap/ Chiêm thành…vốn rất không thái bình, nhưng sau đó, nhờ Sư Tử VN “thượng” vài phát mà nay đã vĩnh viễn…. thái bình ?!- [em]( Nói đùa thôi, trách chuyện xưa thì có mà trách …toàn thế giới, xét lịch sử quốc gia của từng em thì …chẳng có quốc gia nào….”còn trinh” cả , nói gì VN ?! Ngày nay đã có LHQ , và người Việt vẫn là giống dân hiểu rõ hơn ai hết , nổi đau của chiến tranh và mất nước, nên nhất định dân tộc VN không phải là dân tộc hiếu chiến !)

    PS:
    Và đã là “sấm” thì khó mà nói cho hết cái thế cuộc đến hàng triệu năm sau, trong khi ở thế giới loài người, không có chữ gì giàu tính tương đối hơn là… chữ“Thái Bình” ! Ai mê và tin “Sấm ký” các loại, phải nên nhớ kỹ cái ý này nha ! Sấm thì có khi chẳng đáng tin, song , điều nói trên luôn là sự thật, tin hay không cũng thế thôi !
    Ai "giải Sấm" siêu hơn nữa thì EFG xin được học hỏi ?