Liệu vụ án “hoa hậu quý bà” Trương Thị Tuyết Nga có bị hình sự hóa?

  • Bởi Admin
    20/11/2017
    0 phản hồi

    Vũ Văn Hải

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM.
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    ĐƠN KÊU OAN KHẨN CẤP

    KÍNH GỬI: Tổng bí thư Nguyễn phú Trọng
    Thủ tướng Nguyễn vuân Phúc
    Chủ tịch nước Trần Đại Quang
    Chủ tịch quốc hội Nguyễn kim Ngân

    Tôi là Vũ Văn Hải. Sinh ngày 28 tháng 5 năm 1956. CMND số: 022314196 do công an thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/12/2012. Thường trú: 671 Nguyễn Kiệm, phường 3, quận Gò Vấp TP Hồ Chí Minh.

    Tôi là chồng và là người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan trong vụ án mà tòa án Nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên y án sơ thẩm bà Trương Thị Tuyết Nga sinh 16/11/1961, 15 năm tù vì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với số tiền 3,1 triệu USD. Đây là một vụ án oan quá rõ ràng. Bản chất của vụ án đã bị cơ quan điều tra viện kiểm sát nhân dân tối cao bẻ cong. Các phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm vi phạm nghiêm trọng tố tụng. Tôi xin được trình bày 7 nội dung chính của vụ án oan này:

    I/ VIỆC BẮT BÀ TRƯƠNG THỊ TUYẾT NGA KHÔNG ĐÚNG THẨM QUYỀN

    Đề nghị xem xét việc cơ quan điều tra viện KSND tối cao bắt tạm giam và điều tra bà Nga có vi phạm tố tụng hay không khi chức năng và nhiệm vụ của cơ quan điều tra viện KSND tối cao không có quyền này. Theo tiến sỹ Đỗ văn Đương phó chủ nhiệm ủy ban dân nguyện của Quốc Hội có bài viết đăng trên Tạp chí Tổ chức Nhà nước của cơ quan Bộ Nội Vụ thì: “ Thực hiện chủ trương thu gọn đầu mối cơ quan điều tra theo tinh thần Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Pháp lệnh Tổ chức cơ quan điều tra hình sự năm 2004 đã thu hẹp mô hình tổ chức và thẩm quyền cơ quan điều tra của Viện kiểm sát; giải thể các Phòng điều tra ở Viện kiểm sát cấp tỉnh, chỉ tổ chức cơ quan điều tra ở Viện Kiểm sát nhân dân tối cao để điều tra các vụ án hình sự về một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của tòa án nhân dân.

    Cụ thể hóa quy định trên, Điều 4 Quy chế 1169/2010 của Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao đã hướng dẫn rõ hơn về thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đối với: các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ của các cơ quan tư pháp khi các tội phạm đó thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án Nhân dân. Ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án; hành vi phạm tội hoặc người thực hiện hành vi phạm tội có liên quan đến vụ án thuộc thẩm quyền điều tra của cơ quan điều tra Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao đang khởi tố, điều tra.

    Theo ông Lê hồng Thanh Phó trưởng phòng 1 cục điều tra viện KSND tối cao có bài đăng trên tạp chí kiểm sát số 11/2012 thì: Thẩm quyền chung của các Cơ quan điều tra (thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Vỉện kiểm sát nhân dân tối cao) được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 (BLTTHS năm 2003) nhự sau:

    “Điều 110. Thẩm quyền điều tra

    1. Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân điều tra tất cả các tội phạm, trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    2. Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân điều tra các tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự.

    3. Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát Nhân dân tối cao điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp

    Bà Trương Thị Tuyết Nga là một bác sỹ không phải là cán bộ của bất cứ cơ quan tư pháp nào. Vì vậy việc bắt giam bà Nga, tự điều tra, tự ra cáo trạng có vi phạm nghiêm trọng tố tụng hay không? Việc vừa đánh trống vừa thổi còi này có minh bạch hay không? Nhất là trong trường hợp nếu có sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh đạo viện KSND tối cao thì chắc chắn bà Nga phải có tội. Các vụ, viện, cục của Viện kiểm sát có dám làm trái ý lãnh đạo viện hay không. (Trong các bút lục: từ 9423 đến 9427 Kiểm soát viên Hà Minh Khương thấy rất rõ các hành vi gian dối của bà Linh bằng các câu hỏi. Nhưng lại không dám đưa vào cáo trạng). Việc bắt giữ và điều tra người trái pháp luật của cơ quan điều tra viện KSND tối cao. Kết hợp với hành vi bức cung để đòi nợ của các điều tra viên Viện KSND tối cao là hành vi vi phạm pháp luật. Việc bắt bà Nga từ 27/4/2013 với tội lừa đảo là không đúng thẩm quyền, nên trong quá trình điều tra điều tra viên mà cụ thể là ông Đào trọng Phú đã liên tục ép cung, dọa nạt, chửi bới, giam trong phòng tối không có ánh sáng đèn cả ngày lẫn đêm, không cho ăn, ép viết đơn từ chối luật sư, dụ dỗ bà Nga (Theo như lời bà Nga khai) để ép bà Nga nhận tội đưa hối lộ. Do đó ngày 17/7/2013 cơ quan điều tra viện KSND tối cao đã khởi tố bổ sung tội môi giới và đưa hối lộ chỉ nhằm mục đích hợp thức hóa việc bắt bà Nga. Cho đến nay đã hơn 4 năm tội danh này cũng chỉ khởi tố rồi để đấy chứ cũng không có chứng cứ gì. Trong biên bản họp liên ngành ngày: 8/7/2013 lãnh đạo 3 ngành: Công an, Tòa án, Viện kiểm sát đều khẳng định thẩm quyền điều tra theo quy định của pháp luật trong vụ án này thuộc về cơ quan điều tra Bộ Công an. Nhưng cuối cùng lại quyết định giao cơ quan điều tra viện KSND tối cao điều tra tội danh lừa đảo đối với bà Nga. Quyết định này có phải đã vượt thẩm quyền và vi phạm pháp luật (Không một cá nhân hay cơ quan, tổ chức nào được thay đổi luật ngoài quốc hội). Vì hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật này. Kính đề nghị quốc hội chỉ đạo hủy kết luận điều tra của cơ quan điều tra viện KSND tối cao và trả vụ án lại cho cơ quan điều tra Bộ Công an để điều tra theo đúng thẩm quyền.

    II/ VỀ TỘI LỪA ĐẢO

    1/ Bản án mà tòa án cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên là hoàn toàn không có cơ sở. Tại phiên tòa này các bằng chứng xác thực bằng các văn bản có chữ ký của các bên và có hiệu lực pháp luật không được thẩm phán quan tâm mà chỉ căn cứ chủ yếu vào lời khai của bị hại là bà Dương mỹ Linh. Tôi xin khẳng định phiên tòa này thẩm phán đã trọng cung hơn trọng chứng và được xét xử không công bằng. Những văn bản của các cơ quan nhà nước có liên quan đến vụ án thì cơ quan điều tra và viện kiểm sát chỉ trích những từ, những câu bất lợi cho bị cáo mà không dẫn toàn văn bản. Như vậy là bóp méo sự thật, không đúng bản chất của vấn đề, không đúng với nội dung chỉ đạo và hướng dẫn của các văn bản này. Từ đó quy kết bà Trương Thị Tuyết Nga tội lừa đảo. Cụ thể nhất là văn bản của sở Tài Nguyên Môi Trường TP Hồ Chí Minh trả lời cho công ty TNHH Vũ Lan số 10098/TNMT ngày 27/11/2007 ghi rất rõ: Địa điểm khu đất công ty xin đầu tư chưa có quy hoạch chi tiết 1/2000, theo quy hoạch chi tiết 1/5000 được phê duyệt năm 1998 khu đất trên thuộc khu vực kho tàng của nhà ga. Ngày 30/8/2007 văn phòng hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân thành phố có công văn số 612/TB-VP thông báo nội dung kết luận và ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố tại cuộc họp ngày 9/8/2007 về tình hình phát triển giao thông đô thị Thành phố Hồ chí Minh đến năm 2020, trong đó chỉ đạo xem xét điều chỉnh nhà ga của tuyến đường sắt Nha Trang – Sài Gòn tại Quận 2 về tại ga Suối Tiên quận 9. Do vậy tổ công tác liên ngành sẽ tiếp tục xem xét giải quyết hồ sơ của công ty sau khi quy hoạch chi tiết 1/2000 tại khu vực được điều chỉnh phê duyệt theo quy định. Toàn bộ văn bản này hoàn toàn không có câu nào ghi: không chấp thuận cho Trương Thị Tuyết Nga thực hiện xây dựng dự án như trang 11 dòng 15 mà bản án phúc thẩm đã ghi. Đây chính là sự nhập nhèm của cơ quan điều tra viện KSND tối cao, công tố viên và cả chính ông thẩm phán Lê Thành Văn nhằm kết tội bằng được bà Nga. (Các văn bản khác mà Viện Kiểm sát đưa ra cũng được trích dẫn kiểu tương tự). Văn bàn này chỉ rất rõ công ty Vũ Lan chỉ cần đợi phê duyệt quy hoạch chi tiết 1/2000 (đây là bước bắt buộc mà tất cả các dự án đều phải chờ đợi) sau đó sẽ xem xét tiếp. Hiện nay khu vực này đã được phê duyệt quy hoạch 1/2000 và khu đất của bà Nga cũng đã được phê duyệt là thương mại, dịch vụ, bệnh viện như đề nghị. Việc quy hoạch nhà ga từ năm 1998 đã được Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định chuyển đi bằng nhiều văn bản.(Xin gửi kèm những văn bản này) Nhưng cơ quan điều tra, ông thẩm phán Lê Thành Văn vẫn cố tình làm ngơ để cho rằng: Khu đất này thuộc quy hoạch nhà ga Thủ Thiêm (dòng 7 trang 11 bản án phúc thẩm) là một sự vu khống trắng trợn nhằm ép bằng được bà Nga tội lừa đảo.

    2/ Trong bản án sơ thẩm và phúc thẩm cáo buộc bà Nga bán dự án là hoàn toàn vu khống.Trong tất cả các văn bản mà bà Nga kí kết với bà Linh không có một từ nào là bán hoặc chuyển nhượng dự án mà chỉ là chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền khai thác kinh doanh trên khu đất này. Điều này thể hiện rất rõ trong các điều khoản của tất cả các bản hợp đồng, bản ghi nhớ, phụ lục hợp đồng mà bà Linh đã kí với bà Nga. Ví dụ:

    - Hợp đồng ngày 24/12/2007 ghi rất rõ là: HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT.

    - Trong bản THỎA THUẬN CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ THỰC HIỆN DỰ ÁN ĐẦU TƯ ngày 22/1/2008 cũng thể hiện rất rõ ngay cả từ tiêu đề của văn bản. Các điều khoản của văn bản này cũng thể hiện rất rõ là bà Trương Thị Tuyết Nga chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Dương Mỹ Linh để cùng thành lập liên doanh xin dự án trên khu đất này. Cụ thể tại điều 1 trang 2 ghi rất rõ: Mục đích sử dụng: xây dựng dự án nhà ở để bán, văn phòng, trung tâm thương mại, căn hộ cho thuê với mật độ xây dựng cam kết không thấp hơn 40%, với độ cao từ 36 đến 45 và 69 tầng (bên chuyển nhượng sẽ cố gắng xin để đạt các chỉ tiêu quy hoạch tốt nhất cho liên doanh) ’’.Điều 2 khoản 4 ghi: mật độ xây dựng không thấp hơn 39% đến 45%. Độ cao 36 đến 45 và 69 tầng như vậy rõ ràng bà Trương Thị Tuyết Nga chỉ chuyển quyền sử dụng đất cho bà Dương Mỹ Linh để cùng thành lập liên doanh và bà Nga có trách nhiệm xin dự án với những tiêu chí như trên. Vì vậy cáo trạng và bản án đã tuyên chỉ căn cứ vào lời khai của bà Linh để ép bà Nga vào tội bán dự án không có thật là sự vu khống trắng trợn.

    - Trong bản phụ lục 2 ngày 17/3/2008 có tiêu đề: CHUYỂN NHƯỢNG VỐN ĐIỀU LỆ. Văn bản này thể hiện rất rõ các công việc mà bà Nga phải thực hiện cho liên doanh theo tiến độ xin dự án để bên nhận chuyển nhượng là bà Linh phải trả tiền cho bà Nga.

    - Trong văn bản: BẢN GHI NHỚ VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ghi ngày 10/1/2008 (thực chất là kí ngày 1/2/2008) ghi rất rõ ở mục 1.2: nguyên tắc nhất quán là bên nhận chuyển nhượng mua quyền sử dụng đất gắn liền với quyền phát triển một khu đa chức năng…Tại mục 4.1: nhằm mục đích đầu tư phát triển khu đất, bên nhận chuyển nhượng có quyền thành lập pháp nhân hoặc góp vốn liên doanh với bất kì cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước… .có nghĩa là vẫn chỉ là chuyển nhượng quyền sử dụng đất để phát triển thành dự án.

    - Trong văn bản cuối cùng: BẢN GHI NHỚ VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT được kí kết giữa bà Nga và bà Linh ngày 20/3/2008(là văn bản quan trọng nhất trong việc hợp tác giữa hai bên) mà cơ quan điều tra và viện kiểm sát cũng như hội đồng xết xử đã cố tình bỏ qua có ghi: tại điều 1.1 mục đích của bản ghi nhớ này là: nhằm đặt ra các nguyên tắc cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng mảnh đất và hợp tác phát triển khu đất như được nêu tại điều 2.2 dưới đây. Điều 1.2: khu đất dự kiến được chuyển nhượng và được sử dụng để phát triển dự án….

    Tất cả các nội dung trên đều chứng tỏ rất rõ bà Nga chỉ chuyển quyền sử dụng đất cho bà Linh để cùng thành lập liên doanh phát trển dự án trên khu đất này. Trong bản án phúc thẩm tại dòng 18 trang 11 Thẩm phán Ghi: “Tin tưởng bị cáo Nga là đã được cấp phép dự án chung cư cao cao cấp tháp văn phòng” là hoàn toàn bịa đặt chỉ căn cứ vào lời khai gian dối của bà Linh. Còn mọi chứng cứ bằng các văn bản đã được hai bên ký kết thì bị bỏ qua. Căn cứ vào lời lẽ vu khống này mà thẩm phán Văn quy kết bà Nga tội lừa đảo là hoàn toàn áp đặt.

    3/ Cáo trạng và bản án cho rằng bà Linh bị lừa khi không biết tình trạng khu đất chưa được chuyển nhượng là không đúng sự thật ở đây cơ quan điều tra và hội đồng xét sử chỉ căn cứ vào lời khai của bà Dương Mỹ Linh mà không căn cứ vào bằng chứng sác thực của các văn bản đã kí giữa bà Nga và bà Linh.ví dụ:

    -Trong văn bản: BẢN GHI NHỚ VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ngày 10/1/2008 (thực chất kí ngày 1/2/2008) và BẢN GHI NHỚ VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ngày 20/3/2008 tại trang 1 phần BÊN B bà: Dương Mỹ Linh có ghi:

    + căn cứ vào các buổi họp trong tháng 1 năm 2008 giữa các bên

    + Trong khi Hợp Đồng Chuyển Nhượng Quyền sử dụng đất chưa được chính thức kí kết do những hạn chế tạm thời và kiểm soát có điều kiện của Nhà Nước đối với việc sang nhượng đất thuộc khu vực Quận 2, thành phố Hồ Chí Minh, những quy định chưa được hoàn chỉnh của các cơ quan hữu quan, làm cho bên chuyển nhượng tạm thời chưa thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất của khu đất, dựa trên cơ sở tinh thần hợp tác của bên nhận chuyển nhượng trong việc thực hiện các nghĩa vụ cần thiết của mình với hoàn cảnh nêu trên, hai bên đồng ý kí kết bản ghi nhớ làm cơ sở cho việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thực hiện dự án đầu tư. (Trong các kết luận điều tra. Cơ quan điều tra viện KSND tối cao lại cho rằng bà Nga đưa nội dung trên vào nhằm mục đích lừa đảo bà Linh. Đây là những suy luận mang tính quy chụp, vu khống làm sai lệch bản chất của sự thật) Những văn bản này do chính bà Linh và luật sư của bà Linh là người soạn thảo (Tất cả các văn bản đã ký giữa bà Nga và bà Linh phần bên A mục Ông….và bà Trương Thị Tuyết Nga đều bỏ trống vì bà Linh khi soạn thảo hợp đồng không biết tên của tôi lên để trống. Còn nếu bà Nga soạn thảo thì đã đưa tên của tôi vào)..Và trong chúng cứ mới nộp cho tòa phúc thẩm được lập có vi bằng thể hiện rất rõ bà Linh là người chủ động hoàn toàn trong việc chuyển nhượng này, thậm trí bà Linh còn chỉ đạo bà Nga phải làm những gì, nói thế nào với đối tác nước ngoài vvv.

    Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 23/1/2017. Luật sư của bị cáo đã cung cấp cho ông thẩm phán Lê Thành Văn những chứng cứ mới được thu thập hợp pháp. (Những chứng cứ này đã được lập vi bằng). (Có giấy biên nhận hồ sơ của thư ký tòa). Những chứng cứ này thể hiện rõ:

    1/ bà Linh là người soạn thảo các bản ghi nhớ và thỏa thuận đã ký giữa hai bên.

    2/ Bà Linh là người chỉ đạo bà Nga trong việc đàm phán với đối tác nước ngoài. Tất cả các văn bản làm việc với đối tác nước ngoài là do bà Linh soạn thảo. Bà Nga chỉ việc dịch ra và ký.

    3/Bà Linh biết rất rõ tình trạng khu đất ở thời điểm đó đang hạn chế chuyển nhượng, kể cả việc trong thửa đất số 502 tờ bản đồ số 03,31 phường Bình Khánh Quận 2 bà Nga đã chuyển cho Ông Trần Văn Mười 2909m2.

    4/ Đến tận tháng 9 năm 2008 bà Linh vẫn còn mang khu đất này đi tìm đối tác nước ngoài để liên doanh (Công ty Kenmore) (Trong khi các bản khai và tại tòa bà Linh luôn cho rằng: Sau khi ký bản ghi nhớ ngày 20/3/2008 là bà Linh biết bị lừa nên không chuyển tiền đợt 2 như thỏa thuận cho bà Nga nhằm trốn tránh lỗi vi phạm hợp đồng không chuyển tiền đợt 2 cho bà Nga).

    5/ Số tiền bà Linh giao cho bàNga chỉ là 1,5 triệu USD và số tiền này không phải là của bà Linh mà là của công ty FAIRWAY. Bà Linh chỉ là người môi giới. Chính bà Nga đã có hai lần nhận tiền trực tiếp từ công ty FAIRWAY. Người bị thiệt hại nếu có là công ty FAIRWAY chứ không phải là bà Linh. Nếu có lừa đảo thì chính bà Linh mới là kẻ lừa đảo các đối tác nước ngoài. Trong bản hợp đồng ủy quyền được ký giữa bà Linh và công ty cổ phần bất động sản FAIRWAY ghi rất rõ bà Linh đại diện cho công ty FAIRWAY: Tìm hiểu thông tin, đàm phán khả năng hợp tác phát triển khu đất…..do bà Trương Thị Tuyết Nga làm đại diện hợp pháp. Với việc ủy quyền này đương nhiên bà Linh phải tìm hiểu và biết rõ tình trạng khu đất ngay từ đầu.

    Tất cả các chứng cứ này đã được luật sư của bị cáo nêu trong phiên tòa phúc thẩm.

    Như vậy chứng tỏ rằng trong các buổi họp giữ hai bên bà Nga đã cho bà Linh biết rất rõ tình trạng khu đất và bà Linh đã chấp nhận những hạn chế về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thời điểm này. Vì vậy cho đến ngày 20/3/2008 hai bên vẫn chỉ ký là các bản ghi nhớ về chuyển quyền sử dụng đất mà chưa ký được hợp đồng chuyển nhượng. (Tại bút lục: 421 đến 423 ngày 12/3/2013 bà Linh khai trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 24/12/2007 bà Nga có đưa cho bà Linh các văn bản trong đó trong đó có văn bản 10098/TNMT ngày 27/11/2007 ghi rõ về việc các cơ quan chức năng chưa cho chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong thời gian này). Do đó bà Linh, cơ quan điều tra và hội đồng xét xử cho rằng bà Linh bị lừa khi không biết tình trạng khu đất chưa được chuyển nhượng là hoàn toàn sai sự thật. Bà Linh là một doanh nhân lên biết rất rõ khi nhà ga đã được chuyển đi thì việc hạn chế việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ là tạm thời và đây chính là cơ hội đầu tư cho những nhà đầu tư biết nắm bắt cơ hội. (Thực tế chỉ một thời gian ngắn sau UBND Quận 2 đã cho chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở khu vực này). Đây cũng là bản chất chính của vấn đề khi cơ quan điều tra bộ công an trả lời giao dịch giữa bà Nga và bà Linh là giao dịch dân sự (Thông báo trả lời đơn số 1157/C44B(P5) ngày 08/12/2011 do thiếu tướng Cao Minh Nhạn ký) và văn bản 3774/CV ngày 28/11/2011của Viện Kểm sát Nhân dân tối cao cũng ghi:” xác định việc bà Linh tố cáo bà Nga không có dấu hiệu phạm tội hình sự, chỉ là tranh chấp dân sự” (và sau này cả tổng cục an ninh 2 cũng trả lời như vậy). Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát tối cao không hiểu vì lý do gì đã vội vàng hình sự hóa vụ án dân sự bắt bà Nga bất chấp quy định của pháp luật (chỉ căn cứ vào các đơn tố cáo và lời khai của những người viết đơn, chưa gặp bà Nga lần nào đã bắt giam bà Nga) rồi bẻ cong hoàn toàn sự thật để cố tình khép tội lừa đảo cho bà Nga. Trong các bản cáo trạng cơ quan điều tra viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ yếu chỉ suy luận theo hướng bất lợi cho bà Nga đi ngược lại với chủ trương là suy luận có lợi cho bị cáo.(Không lẽ ông điều tra viên Đào trọng Phú lại giỏi hơn cả cơ quan điều tra tổng cục 6, C44, tổng cục an ninh 2 bộ công an và cả vụ 1 viện kiểm sát nhân dân tối cao.)

    Trong một vụ án kinh tế thì các điều khoản đã ký trong hợp đồng và các giấy tờ liên quan là những căn cứ không thể chối cãi cho bản chất sự việc. Các điều khoản này là sự ràng buộc giữa nghĩa vụ và quyền lợi của các bên phải tuân thủ. Không thể nói tôi không biết (Bút lục: Từ 9421 đến 9427 bà Linh trong nhiều điều khoản mà kiểm soát viên Hà Minh Khương hỏi đã trả lời là không biết, không để ý, không đọc, thậm trí trả lời về vấn đề bản ghi nhớ ngày 20/3/2008 ghi Vũ Lan chỉ nhận của bà Linh 1,5 triệu USD khi bà Linh khẳng định đến ngày 1/2/2008 đã đưa 3,1 triệu USD. bà Linh cho rằng không đọc bản ghi nhớ này mà nhờ ông Phổ đọc và ký) hoặc suy luận một cách vô căn cứ như kết luận điều tra và các bản cáo trạng. Ở đây các điều tra viên luôn cho rằng bà Linh là một người ngây thơ đến mức một hợp đồng trị giá đến 54 triệu USD mà các điều khoản của hợp đồng bà Linh không cần đọc kỹ thậm trí không đọc vì tin tưởng bà Nga.(Thực chất các bản ghi nhớ này lại do chính bà Linh soạn thảo. Tranh tụng tại tòa chính bà Linh nói ông Phổ đưa thẻ nhớ cho cô Vân kế toán của bà Nga xửa và in). Quá khôi hài nhưng các điều tra viên lại lấy những điều khôi hài này để kết tội bà Nga. Và đây là bằng chứng về sự “ngây thơ” của bà Linh: Trong vụ án lừa đảo ở công ty môi trường Sao Việt Vũng Tàu. Cũng với những thủ đoạn tương tự như vụ án này là lợi dụng những kẽ hở và khoảng trống của hợp đồng bà Dương mỹ Linh đã tự ghi thêm vào hợp đồng để lừa đảo chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Hồng Nhung ngụ tại 204/10 CMT8 Phường 5 Quận Tân Bình số tiền 2,5 tỷ đồng. Ngày 4/6/2013 TAND tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã đưa vụ án ra xét sự và trả lại sự công bằng cho bà Nhung (Xin tham khảo tại các báo: Báo bảo vệ pháp luật số 59 ngày 23/7/2013 và báo công luận số 3 ngày 23/1/2014 (Tôi có hồ sơ của vụ án này).

    Với những chứng cứ cụ thể được sác thực bằng các điều khỏan trong các văn bản đã được ký kết giữa hai bên nêu trên chứng tỏ lẽ phải thuộc về bà Trương Thị Tuyết Nga. Bà Dương Mỹ Linh chỉ lèo lái gian dối bằng các lời khai trước sau bất nhất (không ngoại trừ có sự hỗ trợ của điều tra viên) vì các lời khai của bà Linh chỉ được thay đổi khi bên bị cáo đưa ra những chứng cứ không thể chối cãi. Ngay sau khi những bằng chứng này đưa ra bà Linh lập tức khai lại giống hệt như các bằng chứng mới được cung cấp (Như lần trả 500.000 USD đầu tiên). Tại sao bà Linh biết được những chứng cứ này trong quá trình điều tra thì chỉ điều tra viên mới trả lời được. Đặc biệt ngay tại phiên tòa phúc thẩm khi luật sư của bị cáo Nga đưa ra những chứng cứ mới. Ông Đào trọng Phú điều tra viên chính của vụ án đã nhắn tin chỉ đạo bà Linh và bà Linh đã nhắn tin trả lời ông Phú (Thẩm phán có nhắc nhở bà Linh nhắn tin trong phiên tòa). Tôi phát hiện vụ việc và đã đề nghị thẩm phán Lê Trọng Văn thu giữ hai điện thoại của ông Phú và bà Linh để làm bằng chứng về sự cấu kết giữa bà Linh và ông Phú điều tra viên. Nhưng ông thẩm phán không đồng ý. Tôi lại đứng lên nói rất rõ vào micro: Nếu ông Đào Trọng Phú và bà Dương Mỹ Linh thấy tôi tố cáo không đúng, đề nghị các vị đứng lên tố cáo tôi tội vu khống ngay tại đây. Nhưng 2 vị này chỉ biết xấu hổ cúi gằm mặt không dám nói lời nào) và chỉ với những lời khai bất nhất này, nhưng lại được viện KSND tối cao và các cấp tòa chấp nhận để khép tội bà Trương Thị Tuyết Nga. Việc trọng cung hơn trọng chứng là hoàn toàn sai pháp luật. Vì vậy không thể khép tội bà Nga lừa đảo bán dự án cho bà Linh như cáo trạng và bản án sơ thẩm, phúc thẩm đã tuyên.

    Ngay tại biên bản họp liên ngành ngày 08/07/2013 cũng xác định tranh chấp giữa bà Nga và bà Linh là tranh chấp dân sự, nếu kết với vụ kiện của ông Mười thì mới là hình sự.Thế nhưng tại bản án sơ thẩm chủ tọa phiên tòa đã tuyên giao dịch giữa ông Mười và bà Nga là giao dịch dân sự. Vậy không lẽ hai cái giao dịch dân sự cộng lại lại thành lừa đảo?

    III/ VỀ SỐ TIỀN LIÊN QUAN ĐẾN VỤ ÁN

    Trong cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên buộc bà Nga trả cho bà Linh 3.1 triệu USD là không đúng. Ở đây cơ quan điều tra viện kiểm sát tối cao và hội đồng xét xử lại một lần nữa chỉ căn cứ vào lời khai của bà Linh mà không căn cứ vào những chứng cứ có trên các văn bản kí kết giữa hai bên và các đơn từ bà linh đã từng gửi trước đây cụ thể như sau:

    -Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 24/12/2007 tại điều 2: phương thức thanh toán có ghi:

    +Lần 1: 500.000 USD (năm trăm nghìn đô la mĩ)

    + Lần 2: sau khi bà Trương Thị Tuyết Nga đi công tác về trả tiếp 500.000 USD (năm trăm nghìn đô la mĩ).

    -Trong bản phụ kiện số 01(hợp đồng số 01 ngày 24/12/2007) kí ngày 30/1/2008 có ghi: ” bà Trương Thị Tuyết Nga có nhận tiền bà Dương Mỹ Linh số tiền 100.000 USD tương đương 1.600.000.000 đồng. Tổng số tiền được giao là 1.100.000 USD tương đương 17.600.000.000 đồng. Đây là phụ kiện không thể tách rời hợp đồng số 01 kí ngày 24/12 /2007”. Như vậy đến ngày 30/1/2008 bà Nga chỉ thực nhận của bà Linh tổng số tiền là 1.100.000 USD qua 3 lần: lần 1 cô Nguyễn Khánh Vân nhận 110.000 USD và bà Nga nhận 390.000 USD (cả hai bên đã thống nhất lời khai). Lần 2: từ 24/12/2007 đến ngày 30/1/2008 bà Nga tiếp tục nhận của bà Linh số tiền là 500.000 USD được chia làm nhiều lần. Trong đó có 2 lần bà Nga nhận trực tiếp từ công ty FAIRWAY. sau đó chiều ngày 30/1/2008 nhận thêm 100.000 USD. Điều này được thể hiện rõ trong bản thỏa thuẩn chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư ngày 22/1/2008 có ghi trong điều 3 phần 2.1:” vào ngày kí kết hợp đồng này bên nhận chuyển nhượng đặt cọc lần 1 cho bên chuyển nhượng số tiền tương đương 1.000.000 USD.” Có nghĩa là số tiền bà Linh phải trả cho bà Nga đặt cọc lần 1 tổng số tiền là 1.000.000 USD. Do đó ngày 30/1/2008 bà Nga vì cần thêm tiền nên bà Nga có yêu cầu bà Linh trả thêm (theo lời khai của 2 bên) nên bà Linh có trả thêm cho bà Nga 100.000 USD và hai bên ký bản phụ kiện số 01 ghi bà Nga nhận tổng số tiền là 1.100.000 USD. Như vậy cho đến ngày 30/1/2008 bà Nga mới chỉ nhận của bà Linh tổng số tiền là 1.100.000 USD chứ không đúng như cáo trạng và bà Linh đã khai là trong ngày 30/1/2008 bà Linh đưa cho bà Nga 1.100.000 USD.Việc này ngay cả luật sư của Bà Linh khi tranh tụng tại tòa cũng đã gian dối khi trích dẫn bằng chứng có đọc “ tổng số tiền được giao trong ngày là 1.100.000 usd” ông ta đã thêm chữ “trong ngày” để cố ý lừa hội đồng xét xử và mọi người dự án.Việc này đã bị tôi phát hiện và phản ứng ngay tại phiên tòa nhưng thẩm phán không cho phát biếu thêm và cũng không có ý kiến gì về vấn đề này.

    Việc đến ngày 30/1/2008 bà Nga mới chỉ nhận của bà Linh 1.100.000 USD là đúng với những chứng cứ pháp lí đã được kí kết giữa hai bên.Trong bản thỏa thuận ngày 22/1/2008 số tiền đặt cọc lần 1 chỉ là 1.000.000 USD thì không có lí do nào đến ngày 30/1/2008 bà Linh lại chuyển cho bà Nga tổng số tiền là 1.600.000 usd như cáo trạng và hội đòng xét xử đã tuyên.

    Trong chứng cứ mới bổ sung thể hiện rất rõ: Trong thời gian từ 24/12/2007 đến 30/1/2008 bà Nga nhận của bà Linh và nhận trực tiếp từ công ty FAIRWAY nhiều lần với tổng số tiền là 1.000.000 USD. Nếu bà Linh cho rằng ngày 30/1/2008 bà Linh đưa cho bà Nga 1.100.000 USD thì tổng cộng đến ngày 30/1/2008 bà Linh đã đưa cho bà Nga phải là 2.100.000 USD. Điều này sai hoàn toàn với những gì cơ quan điều tra và các thẩm phán đã tuyên. Có lẽ vì không thể lý giải được những chứng cứ mới này mà bà kiểm sát viên và ông chủ tọa phiên tòa coi như không có, bỏ qua một bên. Trong bản án phúc thẩm không có một từ nào nhắc đến những chứng cứ mới này.

    Trong bản ghi nhớ về chuyển nhượng quyền sử dụng đất ghi ngày 10/1/2008 (thực chất kí ngày 1/2/2008) số tiền đặt cọc (thanh toán đợt 1) được điều chỉnh lên 1.500.000 USD.Tức là sau 1 ngày kí bản phụ kiện số 01(30/1/2008) (từ 1.000.000 USD của bản thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất kí ngày 22/1/2008) được tăng lên thành 1.500.000 USD. Bản ghi nhớ này bà Linh soạn thảo và đưa cho cô Vân kế toán sửa nhiều lần trong ngày 1/2/2008 và trong ngày 1/2/2008 bà Nga có nhận của bà Linh số tiền 400.000 USD để đến ngày này bà Nga đã nhận của bà Linh tổng số tiền là 1.500.000 USD chứ hoàn toàn không đúng như cáo trạng và bản án đã tuyên là ngày 1/2 /2008 bà Nga nhận của bà Linh 1.500.000 USD. Điều này được khảng định ở tất cả các văn bản kí sau này giữa bà Nga và bà Linh. Cụ thể tại bản PHỤ LỤC 2:CHUYỂN NHƯỢNG VỐN ĐIỀU LỆ ngày 17/3/2008 (có đại diện nước ngoài của bà Linh là ông Haim Dor) tại điều 1.a ghi rất rõ “ Vũ Lan xác nhận và đồng ý nhận 1.500.000 USD đã được thanh toán theo lần thanh toán đầu tiên.”và tại bản GHI NHỚ VỀ CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ngày 20/3/2008(đây là văn bản cuối cùng được kí kết giữa hai bên) cũng ghi rất rõ tại diều 2 khoản 2.1.a: “Vũ Lan xác nhận và đồng ý nhận 1.500.000 USD đã thanh toán theo đợt thanh toán đầu tiên (đợt thanh toán thứ nhất) tiền cọc để mua thửa đất 3 ha. Như vậy cho đến tận ngày 20/3/2008 bà Linh mới chỉ giao cho bà Nga (Vũ Lan) tổng số tiền là 1.500.000 USD (Tại các bút lục: 9421 đến 9427 bà Linh khai do không đọc bản ghi nhớ này nên không biết là ghi 1,5 triệu USD. Một lời khai không ai có thể chấp nhận được thỉ cơ quan điều tra và tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm lại cho rằng đúng). Đây là bản chất thực của vụ án vì bà Linh và đối tác nước ngoài không thể bỏ qua số tiền 1.600.000 USD mà không ghi vào các văn bản này. (Chúng tôi có đủ chứng cứ số tiền 1,5 triệu USD này là của công ty FAIRWAY do ông SHU HSIN HUNG làm tổng giám đốc. Các chứng cứ này cũng đã được luật sư cung cấp cho thẩm phán Lê Thành Văn tại phiên tòa.) Đồng thời trong tất cả các đơn tố cáo bà Linh gửi cục cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội bộ công an ngày 30/11/2010 đều ghi “tôi đã thực hiện thanh toán lần 1 cho bà Tuyết Nga số tiền 1.500.000 USD (gồm các ngày 24/12/2007 và 1/2/2008)”. Như vậy ngay chính bà Linh cũng xác nhận với cơ quan điều tra bộ công an trong 2 ngày 24/12/2007 và ngày 1/2/2008 bà Linh chỉ đưa cho bà Nga tổng cộng số tiền là 1.500.000 USD. Ngay trong vụ án li hôn giữa bà Nga và tôi. Bà Linh có tham gia với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan thì trong tất cả các văn bản mà bà Linh yêu cầu bà Nga phải trả cũng chỉ là 1.500.000 USD. Ngay cả các đơn gửi Tổng cục An ninh 2, C44 Bộ Công an và cả đơn gửi ông Nguyễn Hòa Bình nguyên viện trưởng viện KSND tối cao thì số tiền cũng chỉ là 1,5 triệu USD (Vì lá đơn gửi ông Nguyễn Hòa Bình này mà bà Nga bị bắt). Việc bà Linh khai do không tin các cơ quan điều tra nên không ghi đủ số tiền 3,1 triệu USD mà chỉ ghi 1,5 triệu USD chỉ là ngụy biện khi cả đơn gửi ông Nguyễn Hòa Bình viện trưởng cũng chỉ là 1,5 triệu USD (sau lá đơn gửi ông Bình bà Nga đã bị bắt mà không hề được thẩm vấn). Việc bà Linh lợi dụng sơ hở câu chữ của bà Nga trong việc kí nhận tiền để lừa đảo tăng số tiền từ 1.500.000 USD lên 3.100.000 USDchỉ xảy ra ở cơ quan điểu tra viện kiểm sát tối cao và sau khi bà Nga đã bị bắt. (Việc bà Linh lợi dụng sơ hở trong câu chữ và chỗ trống trong văn bản ký kết để lừa đảo đã từng xẩy ra trong vụ án bà Linh lừa bà Nguyễn Thị Hồng Nhung như đã nêu ở trên. Thủ đoạn của bà Linh tương tự như vụ án này, nhưng bà Linh đã bị tòa án nhân dân Vũng Tàu vạch mặt). Đây có phải là sự cấu kết giữa bà Linh và điều tra viên nhằm chiếm đoạt của bà Nga 1.600.000 USD.

    Để chứng minh sự gian dối xảo quyệt của bà Linh trong các lời khai. Tôi xin dẫn chứng một số bút lục lời khai của bà Linh:

    1-Bút lục: 417,418 ngày 12/3/2013 xác nhận: - Đơn gửi ông viện trưởng viện KS tối cao là 1,5 triệu USD. Sau đó khai đưa 2 triệu gồm: ngày 24/12/2007 là 500.000 USD và ngày 10/1/2018 là 1,5 triệu USD. Lý do: trong đơn gửi viện KS chưa đề cập tới số tiền 500.000 USD. Nhưng ở đơn tố cáo bà Nga gửi bộ công an bà Linh ghi: Đã thanh toán lần 1 cho bà Nga 1,5 triệu USD vào 2 ngày 24/12/20071/2/2008. Như vậy bà Linh đã thể hiện âm mưu gian dối nhằm chiếm đoạt tiền của bà Nga từ lúc này. (Tất cả các đơn tố cáo đều là 1,5 triệu USD. Trong đó ngày 24/12/2007 đã là 500.000 USD). Với âm mưu chiếm đoạt tiền của bà Nga nên bà Linh đã đổi ngày thanh toán lần 2 từ 1/2/2008 sang ngày 10/1/2008.

    2- Bút lục: 9421-9426 ngày 19/5/2014 bà linh khẳng định ngày 24/12/2007 đưa cho bà Nga 500.000 USD bằng 5 cọc mỗi cọc 100.000 USD bà Linh còn “ Nhớ” rất rõ là buộc tiền bằng dây thung đựng trong 1 túi xách có dây kéo. Lần 2 ngày 10/1/2008 giao 1,5 triệu USD bằng 15 cọc mỗi cọc 100.000 USD. Lần 3: 1,1 triệu bằng 10 cọc, mỗi cọc 100000 USD. Nhưng thực tế ngày 24/12/2007 chỉ giao 110.000 USD. Vậy cái nhớ này của bà Linh là thật hay giả. Bà ta muốn khẳng định là rất nhớ nên mỗi lần chuyển tiền là bao nhiêu cọc, đựng túi gì, ai xách để tạo niềm tin lừa mọi người.

    3- Bút lục: 9714 ngày 22/5/2015 sau khi cô Vân kế toán giao cơ quan điều tra cuốn sổ thu chi ghi rõ số tiền nhận ngày 24/12/2007 và các bản tường trình của cô Vân ghi chi tiết các lần nhận tiền thì bà Linh lại khai ngày 24/12/2007 chỉ còn giao 110.000 USD. Còn các lần sau là tiền việt quy đổi ra USD đúng như những gì cô Vân khai. Những lần khai trước là do quên. Quên mà khai chi tiết từng cọc tiền bao nhiêu tờ, mấy cọc, đựng bằng cái gì, ai xách và đưa cho ai. Lời khai ban đầu của bà Linh tồn tại cho đến tận ngày 22/5/2015 sau cáo trạng lần thứ nhất và bị trả hồ cả gần một năm rồi đột nhiên bà Linh nhớ ra mình đã khai sai sự thật chỉ sau khi cô Vân đưa ra bằng chứng về lời khai man của mình.Thật khôi hài.Tại sao bà Linh lại biết có những bằng chứng chính xác chống lại lời khai man của mình để thay đổi lời khai đúng như những gì người đưa ra bằng chứng khai. Liệu có sự trợ giúp của ai đó để giúp bà Linh cướp không của bà Nga 1.6 triệu USD.

    - Bà Linh cho rằng toàn bộ số tiền giao cho bà Nga là tiền của mình là sai vì có đủ chứng cứ 1,5 triệu USD là của ông Shu Hsin Hung công ty cổ phần bất động sản FAIRWAY.

    - Khi bị hỏi trong đơn tố cáo gửi bộ công an chỉ ghi 1,5 triệu USD giờ lại là 3,1 triệu USD. Bà Linh cho rằng: luật sư nói chỉ lên tập trung vào hợp đồng 1,5 triệu USD ngày 10/1/2008 còn hợp đồng ngày 24/12/2007 sơ sài nên không đưa vào là sai vì chính trong đơn gửi Bộ Công an bà Linh ghi rất rõ: Đã thanh toán lần 1 cho bà Nga 1,5 triệu USD vào 2 ngày: 24/12/2007 và ngày 1/2/2008.

    4- Bút lục 9428 ngày 21/5/2014 bà linh lại khai là đưa 2 triệu USD cũng trong 2 ngày 24/12/2007 và ngày 1/2/2008 và sau đó thì lại tăng lên 3,1 triệu USD. Có lẽ khai gian dối quá nhiều lên bà Linh không thể nhớ để mà khai cho phù hợp.

    - Bà linh cho rằng ngày 12/3/2013 khai chỉ giao cho bà Nga 2 triệu USD vì cơ quan điều tra chỉ hỏi số tiền Nga chiếm đoạt ngày 24/12/2007 và ngày 10/1/2008. Lời khai này cũng không đúng vì tại bút lục 417 ngày 12/3/2013 ông Lại Viết Quang cục phó hỏi rất rõ:” Đề nghị chị trình bày cho cơ quan điều tra viện KSND tối cao biết kỹ từng việc về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà TTTNga. Không có việc chỉ hỏi số tiền trong 2 ngày. Bà Linh khai gian dối để phù hợp với mục đích chiếm đoạt của bà Nga 1,6 triệu USD.

    5- Tại BL 9716 ngày 22/5/2015 bà Linh đã thừa nhận bản ghi nhớ đề ngày 10/1/2008 nhưng thực chất ký ngày 1/2/2008.(Trước đây bà linh rất nhiều lần khẳng định nhớ rõ và chắc chắn là ký và giao 1,5 triệu USD vào ngày 10/1/2008. Nhưng cũng chỉ sau các bản khai của cô Vân kế toán của bà Nga, bà Linh mới “ lại nhớ lại” là ký vào ngày 1/2/2008. Như vậy mới ngày 30/1/2008 bà Linh giao 1,1 triệu USD ngay ngày hôm sau lại giao 1,5 triệu USD khi không có bất cứ giàng buộc và yêu cầu thỏa thuận nào của bà Nga. Liệu bà Linh có rộng rãi như thế không (Tất cả các loại văn bản ký kết bà Nga chỉ yêu cầu số tiền đặt cọc thanh toán lần 1 là 1,5 triệu USD).

    6- Tại BL 9718 ngày 22/5/2015. Khi điều tra viên hỏi: tại bản ghi nhớ ngày 20/3/2008 mục 2.1 có nội dung: Vũ Lan xác nhận và đồng ý nhận 1,5 triệu USD (Đợt thanh toán thứ nhất) tiền cọc để mua thửa đất 3ha. Chị đã đồng ý ký nhận việc này. Như vậy đến ngày 20/3/2008 chị mới chuyển cho Nga 1,5 triệu USD. Lời khai này phù hợp với lời khai của TTTNga chỉ nhận của chị 1,5 triệu USD. Thì bà Linh biện hộ là nhờ ông Phổ phó giám đốc đọc hộ toàn bộ bản ghi nhớ thấy có khoản tiền cọc là 1,5 triệu USD lại tưởng là chỉ số tiền của ngày 10/1/2008 nên bà Linh không đọc và ký. Còn những câu chữ trên bản ghi nhớ mà điều tra viên hỏi bà Linh không để ý. Thật khôi hài khi một bản ghi nhớ với tổng số tiền lên đến 54 triệu USD và số tiền đã trả theo bà Linh là 3,1 triệu USD mà bà Linh không cần đọc vẫn ký. Lời khai này của bà Linh có lẽ không ai có thể chấp nhận được ngoài các ông ở Viện Kiểm sát tối cao và các quan tòa. Bà Linh còn cho rằng mình rất ngây thơ, không hiểu biết và không có kinh nghiệm trong việc ký kết hợp đồng nên không để ý cụ thể nội dung lên bà Nga ghi vào để lừa. Thì đây là sự “ ngây thơ của bà Linh”. trong một vụ án tương tự tại công ty cổ phần Sao Mai ở Vũng Tàu. Bà Linh đã lợi dụng sơ hở của người ký hợp đồng để viết thêm chữ vào hợp đồng nhằm cướp không của đối tác 2,5 tỷ đồng. Bà ta đã lừa được cả công ty, cả Sở Kế Hoạch và Đầu Tư nhưng đã bị tòa án Vũng Tàu vạch mặt. Thế nhưng sự” ngây thơ “này lại được các cục, vụ của viện kiểm sát tối cao và cả tòa sơ thẩm, phúc thẩm chấp nhận để khép tội bà Nga mà bỏ qua những chứng cứ rất rõ ràng đã được ký kết giữa hai bên.

    7- Tại BL 9415 ngày 22/5/2014 bà Nga khai đã đưa cho bà Linh công văn 10098 của sở Tài Nguyên Môi Trường và bị bà Linh ép ký hợp đồng kể cả là ngày noen vì bà Linh đã nhận tiền của đối tác nước ngoài là đúng vì có đầy đủ chứng cứ bà Linh ngày 24/12/2007 nhận của công ty FAIRWAY 150.000 USD để trả cho bà Nga.

    - Việc bà Linh khai ngày 30/1/2008 sáng đưa cho bà Nga 1 triệu USD là bịa đặt. Vì để có đủ số tiền đặt cọc 1 triệu USD theo hợp đồng ngày 24/12/2007 bà Linh đã phải trả cho bà Nga nhiều lần kể cả có lần bà Nga phải ra tận ngân hàng nhận tiền từ đối tác nước ngoài của bà Linh. (Ngày 28/1/2008 bà Nga nhận 200.000 USD tại ngân hàng BIDV do công ty FAIRWAY chuyển).

    - Bà Linh chỉ là người môi giới cho công ty FAIRWAY. Công ty FAIRWAY mới chỉ đưa cho bà Linh tổng cộng 1,5 triệu USD để trả cho bà Nga theo thỏa thuận. Bên bà Nga cũng chỉ yêu cầu đặt cọc(TRả tiền lần 1) là 1,5 triệu USD và đã nhận đủ 1,5 triệu USD này.Vậy thì lý do gì để bà Linh đưa cho bà Nga thêm 1,6 triệu USD, và 1,6 triệu USD này không thể hiện trên bất cứ chứng từ nào đã được ký giữa hai bên mà hoàn toàn chỉ do sự suy luận của bà Linh. Điều này chỉ có ông điều tra viên Đào trọng Phú và bà Linh trả lời được.

    Với những chứng cứ cụ thể, rõ ràng như trên. Việc tòa án sơ thẩm và phúc thẩm tuyên buộc bà Nga phải trả cho bà Linh số tiền 3.100.000 USD chỉ căn cứ vào các lời khai biện hộ vô lý, gian dối của bà Linh mà bỏ qua chứng cứ cụ thể là không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án và vi phạm nghiêm trọng pháp luật.

    Tôi xin đề nghị giao cho bộ công an điều tra ngược vụ án này để làm rõ sự cấu kết giữa điều tra viên và bà Dương mỹ Linh. Cố tình bắt gian bà Nga để nhằm mục đích ép buộc cướp không của bà Nga 1,6 triệu USD. Vụ cướp này còn nguy hiểm gấp hàng trăm lần một vụ cướp tài sản trên đường phố. Bởi nó có sự liên kết giữa nhiều người có chức có quyền.

    IV/VỀ VIỆC BÀ NGA KHÔNG TRẢ CHO BÀ LINH SỐ TIỀN 1,5 triệu USD.

    Về việc này bà Nga cho rằng lỗi là do phía bà Linh đã không thực hiện đúng như các điều khỏa mà hai bên đã cam kết. Do đó bà Linh phải bị mất số tiền đã đặt cọc và bà Nga không có nghĩa vụ phải trả cho bà Linh là đúng. Điều này cũng được thể hiện rất rõ trong các văn bản đã ký giữa bà Nga và bà Linh. Cụ thể như sau:

    - Trong bản hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 24/12/2007 tại điều 2 có ghi: “Trường hợp bên B đổi ý không mua thì sẽ mất số tiền đặt cọc”.

    - Tại bản thoả thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án ký ngày 22/1/2008 tại điều 4 khoản 2 có ghi: “Sau khi đã đặt tiền cọc và thanh toán của mỗi đợt thanh toán, vì bất cứ lý do gì, nếu bên nhận chuyển nhượng từ chối không mua hoặc thực hiện các yêu cầu tại điều 4 trễ quá 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu từ bên chuyển nhượng thì bên nhận chuyển nhượng sẽ mất cọc và mọi quyền lợi của bên nhận chuyển nhượng liên quan đến quyền sử dụng đất sẽ bị chấm dứt”.

    - Trong bản ghi nhớ về chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 20/3/2008 (Văn bản cuối cùng được ký giữa hai bên) tại điều 2 khoản 2.1.b có ghi: Đợt thanh toán thứ 2 của giá chuyển nhượng vốn là năm triệu đô la mỹ (5.000.000 USD) do bên nhận chuyển nhượng trả cho Vũ Lan trong vòng 2 ngày làm việc kể từ ngày ký thỏa thuận này. Nhưng sau đó bà Linh vẫn không trả thêm cho bà Nga đồng nào. Tại điều 3 có ghi: “Qua thời gian thỏa thuận trên, nếu bà Dương Mỹ Linh không thực hiện được, phải thông báo bằng văn bản chính thức cho bà Trương Thị Tuyết Nga trong vòng 7 ngày để thanh lý hợp đồng mua bán này”. Nhưng quá thời gian trên bà Linh hoàn toàn không có bất cứ văn bản nào yêu cầu hoặc trả lời cho bà Nga. Thậm chí đến tận tháng 9/2008 bà Linh vẫn sử dụng những văn bản đã ký kết này để chào cho đối tác nước ngoài là công ty Kenmore (chúng tôi có đầy đủ chứng cứ khẳng định bà Linh là người chủ động soạn thảo các văn bản và tiền đặt cọc 1.500.000 USD là của đối tác nước ngoài). Bà Linh không có đồng nào mà chỉ là cò môi giới như đã nêu ở trên. Như vậy việc bà Nga cho rằng bà Linh đã vi phạm các cam kết đã được ký kết giữa hai bên và lỗi thuộc về phía bà Linh là hoàn toàn có cơ sở.

    V/ VỀ VIỆC CƠ QUAN ĐIỀU TRA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO LẤY 26,8 TỶ ĐỒNG CỦA BÀ NGA TRẢ CHO BÀ LINH.

    Vụ việc này cơ quan điều tra viện kiểm sát NDTC đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật. Trong bản cáo trạng ngày: 16/6/2014 của Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao tại trang 7 dòng thứ 6 từ trên xuống có ghi “ Đến ngày 25/3/2014, bị can Trương Thị Tuyết Nga đã có đơn đề nghị cơ quan điếu tra để khắc phục hậu quả, cụ thể chuyển số tiền 26,8 tỷ đồng từ công ty cổ phần đầu tư tài chính Sài gòn-Á châu (Là tiền của Nga đặt mua 69 % vốn cổ phần của công ty này) cho bị hại là bà Dương Mỹ Linh. Công ty cổ phần đầu tư tài chính Sài gòn-Á châu đã chuyển số tiền trên cho bà Dương Mỹ Linh theo giấy ủy nhiệm chi không số ngày 20/2/2014 (BL 758-759,770,3449). Như vậy cơ quan điều tra đã lấy tiền của bà Nga để trả cho bà Linh từ ngày 20/2/2014 và cho đến ngày 25/3/2014 tức là sau 1 tháng 5 ngày cơ quan điều tra mới bằng mọi thủ đoạn ép bà Nga phải viết đơn trả tiền cho bà Linh (Khi tôi được gặp mặt bà Nga ở trại 771 Ba vì, bà Nga có nói ông điều tra viên Đào Trọng Phú trong những lần hỏi cung liên tục chửi rủa nhục mạ bà Nga không khác gì một con chó. Đe dọa sẽ giam bà Nga chung với những phạm nhân bị sida, đưa lên biên giới... Ông ta tuyên bố: Tao sẽ cho mày ở tù rục xương nếu mày không trả tiền cho bà Linh và dụ dỗ bà Nga nếu trả tiền sẽ được tha… bà Nga buộc phải viết đơn vì không chịu nổi sự nhục mạ này và cũng mong muốn trả tiền sẽ được tha.Theo bà Nga khai, đơn này trực tiếp ông Đào Trọng Phú đọc cho bà Nga viết. Đây là sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng và hết sức trắng trợn của cơ quan điều tra. Họ bất chấp pháp luật miễn sao lấy được tiền của bà Nga.

    - Một sai phạm nghiêm trọng của cơ quan điều tra viện KSND tối cao nữa là: Trong công văn gửi Công ty Cổ phần Tài Chính Á Châu do ông Lại Viết Quang ký ngày 18/2/2014 có nói rõ số tiền 26,8 tỷ đồng bà Nga mua cổ phần của công ty là tài sản chung của hai vợ chồng tôi và là tài sản do lừa đảo mà có. Khi làm công văn bắt Công ty Cổ phần Tài Chính Sài Gòn Á Châu lấy số tiền này trả thẳng cho bà Linh. Cơ quan điều tra viện KSND tối cao có 2 sai phạm nghiêm trọng:

    1/ tài sản chung của hai vợ chồng nhưng cơ quan điều tra không hề hỏi ý kiến tôi. Nhất là chúng tôi đang trong tình trạng ly hôn và tranh chấp về tài sản và quan điểm của tôi là tôi không đồng ý dùng số tiền này trả cho bà Linh khi vụ án chưa có bản án của tòa. Vì vậy cơ quan điều tra viện KSND tối cao phải hoàn trả lại cho tôi 13,4 tỷ đồng là 50% tổng số tiền mà cơ quan này đã lấy trả cho bà Linh. Đồng thời việc ông Lại Viết Quang cho rằng đây là số tiền lừa đảo mà có là sự vu khống trắng trợn. Sự vu khống này nhằm đe dọa công ty cổ phần Tài Chính Á Châu sợ mà phải lấy tiền của bà Nga trả thẳng cho bà Linh.

    2/ Việc Công ty Cổ phần Tài Chính Sài gòn Á châu dùng ủy nhiệm chi không số để lấy tiền của bà Nga trả cho bà Linh mà không có chữ ký của bà Nga là hành vi vi phạm pháp luật.Vì đây là tiền của bà Nga và chỉ có bà Nga mới có quyền ký sử dụng số tiền này.

    3/ Thực chất trong 26,8 tỷ đồng này, có 25 tỷ của công ty cổ phần bất động sản Đại An. Ngày 30/7/2013 công ty cổ phần bất động sản Đại An đã có công văn gửi công ty cổ phần tài chính Á Châu xác nhận số tiền của công ty đưa bà Nga để góp vốn cùng đầu tư. Và đề nghị sẽ cùng các cơ quan chức năng cùng giải quyết số tiền này. Nhưng công ty cổ phần tài chính Sài gòn Á Châu dùng toàn bộ số tiền này trả thẳng cho bà Linh ngày 20/2/2014 mà ko hề thông báo cho công ty Đại An cũng là một sai phạm.

    Tại sao cơ quan điều tra viện kiểm sát NDTC lại rất sốt sắng với việc lấy tiền của bà Nga trả cho bà Linh: tại bút lục số: 490,491 chiều ngày 17/2/2014 bà Linh làm tường trình trong đó có đưa số tài khoản của bà Linh thì ngay ngày hôm sau 18/2/2014 ông Lại Viết Quang đã ký văn bản gửi công ty CP Tài Chính Á Châu yêu cầu chuyển tiền cho bà Linh tại bút lục 123. Và ngày 20/2/2014 công ty Sài Gòn Á Châu đã trả tiền thẳng cho bà Linh. Cái không hợp lý thứ 2 là tại sao chỉ cách nhau 1 ngày mà hai bút lục lại cách nhau xa như vậy: 490,491 và 123.

    Với những chứng cứ rất rõ ràng như trên thể hiện cơ quan điều tra Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao chỉ với mục đích sau khi đã bắt giam bà Nga là lấy được tiền của bà Nga để trả cho bà Linh. Vì vậy mà từ số tiền đặt cọc ban đầu là 1,5 triệu USD trong cả quãng thời gian dài từ 2008 đến 2013 ở tất cả các đơn từ kiện cáo và hợp đồng đều thể hiện rõ là 1,5 triệu USD. Nhất là trong đơn tố cáo bà Linh gửi cơ quan điều tra Bộ Công an bà Linh còn khẳng địng ngày bà Linh giao tổng số tiền là 1,5 triệu USD (Tôi đã thực hiện thanh toán lần 1 cho bà tuyết Nga, số tiền 1.500.000USD (Một triệu năm trăm ngàn đôla mỹ) gồm các ngày 24/12/2007 và ngày 01/02/2008... Chỉ khi đến cơ quan điều tra Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao tháng 4/2013 thì bà Linh mới cho rằng ngày 1/2/2008 bà Linh đã đưa cho bà Nga 1,5 triệu USD và như vậy số tiền mà bà Linh đã trả cho bà Nga tăng vọt lên 3,1 triệu USD. Một sự lừa dối của bà Linh rõ ràng như vậy nhưng cơ quan điều tra cố tình phớt lờ để ép bà Nga phải nhận đã nhận 3,1 triệu USD của bà Linh. Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm hội đồng xét xử chỉ trọng cung là những lời khai gian dối của bà Linh mà không xem xét đến những bằng chứng cụ thể như tôi đã nêu ở trên.

    VI/ PHIÊN TÒA PHÚC THẨM VI PHẠM NGHIÊM TRỌNG TỐ TỤNG.

    Tại phiên tòa này thẩm phán Lê Thành Văn đã vi phạm nghiêm trọng tố tụng như sau:

    1-Không gửi giấy triệu tập cho: 1/ Luật sư Nam Anh là luật sư bào chữa chính cho bị cáo Trương Thị Tuyết Nga. 2/ Ông Vũ Văn Hải là người có đơn kháng cáo và là người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan.3/ Bà Nguyễn Khánh Vân là nhân chứng quan trọng nhất của vụ án. Như vậy ông thẩm phán đã vi phạm về tố tụng.

    2-Luật sư của bị cáo Trương Thị Tuyết Nga đã cung cấp cho thẩm phán Lê thành Văn hai chứng cứ mới tại phiên tòa(Có giấy biên nhận của thư ký tòa)

    1/ chứng cứ được lập vi bằng dày khoảng 2cm. Những chứng cứ này khẳng định bà Nga vô tội. Tất cả các lời khai của bà Dương mỹ Linh là gian dối. Bà Linh là kẻ lợi dụng sự thật thà, kém hiểu biết của bà Nga để lợi dụng lừa đối tác nước ngoài. Bà Linh là người chủ động trong tất cả các cuộc đàm phán. Bà Linh biết rất rõ tình trạng khu đất ngay từ đầu.

    2/ Những chứng cứ thể hiện số tiền 1,5 triệu USD là của đối tác nước ngoài (Công ty FAIRWAY). Bà Linh chỉ là người môi giới. Vì vậy người bị hại (Nếu có) là đối tác nước ngoài chứ không phải bà Dương Mỹ Linh. Những chứng cứ mới này thẩm phán không thèm đọc, đại diện Viện kiểm sát không tranh tụng, coi như không có. Khi tuyên án thẩm phán Lê Thành Văn cũng không có một từ nào nhắc đến hai chứng cứ mới này. Việc làm này của thẩm phán đã vi phạm nghiêm trọng tố tụng khi không dừng phiên tòa để nghiên cứu chứng cứ mới, không mời đối tác nước ngoài với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ có liên quan là vi phạm nghiêm trọng tố tụng.

    3-Việc thẩm phán Lê Thành Văn không thu giữ vật chứng khi bị phát hiện tại tòa để làm rõ bản chất vụ án là không bình thường. Nếu thu giữ vật chứng là 2 chiếc điện thoại của ông Đào Trọng Phú điều tra viên và bà Dương Mỹ Linh sẽ làm rõ sự cấu kết giữa bà Dương mỹ Linh và điều tra viên Đào Trọng Phú và từ đó cũng làm rõ được bản chất của vụ án oan này.

    VII/ KHÔNG CHO BỊ CAN TRƯƠNG THỊ TUYẾT NGA ĐI GIÁM ĐỊNH TÂM THẦN.

    Luật Giám định tư pháp 2012 tại khoản 2 Điều 2 quy định “Người trưng cầu giám định bao gồm cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng". Đối với cơ quan tiến hành tố tụng hình sự, trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định theo điểm b, khoản 3 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự khi “Tình trạng tâm thần của bị can, bị cáo trong trường hợp có sự nghi ngờ về năng lực trách nhiệm hình sự của họ”. Kể cả khi bà Nga phạm tội vào thời điểm có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng khi bị khởi tố, bắt tạm giam, bà Nga hoảng loạn hoặc tại phiên tòa có biểu hiện tâm thần không bình thường thì khi xét xử mà có yêu cầu (gia đình bị cáo, luật sư), Thẩm phán, HĐXX phải xem xét. Việc xem xét này căn cứ vào khoản 1 Điều 311 Bộ luật Tố tụng hình sự, quy định “Khi có căn cứ cho rằng người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội không có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 13 của Bộ luật Hình sự thì tùy theo giai đoạn tố tụng, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án phải trưng cầu giám định pháp y.” Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bà Nga đã có dấu hiệu của bệnh tâm thần phân liệt rất rõ: Không trả lời vào câu hỏi của tòa, nói năng linh tinh không có định hướng, nói trước quên sau, tinh thần mệt mỏi, miệng méo, chỉ cần có người nói to là bà Nga đã co dúm người lại. Những biểu hiện này tất cả mọi người dự phiên tòa trong đó có nhiều nhà báo và bác sỹ đều nhận thấy. Đã có hàng chục tờ báo đã đăng về vấn đề này, có 3 bác sỹ cũng đã viết đơn đề nghị giám định tâm thần cho bà Nga gửi tòa án cấp cao tại thành phố Hồ chí Minh. Vì vậy mà tại hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm bà Nga hoàn toàn không thể nhớ để tự biện hộ cho mình.

    Gia đình cũng đã làm đơn xin cho bị cáo Nga đi giám định tâm thần từ trước phiên tòa sơ thẩm và cũng gửi đơn đến tận Quốc Hội, Chủ Tịch Nước để kêu cứu về vấn đề này. Việc giám định tâm thần để chữa trị trước khi ra tòa là đảm bảo sự công bằng cho bà Nga. Việc hai cấp tòa kiên quyết không cho bà Nga giám định tâm thần mà cứ đè một người có biểu hiện tâm thần rất rõ ra xét xử là việc làm vô nhân đạo. Tại hai cấp tòa này bị cáo Nga gần như không thể tự biện hộ cho mình một chút nào. Hầu như không trả lời được chọn vẹn một câu hỏi nào, thậm trí tòa hỏi một đằng bà Nga trả lời một nẻo. Và đây có phải là ý đồ của các thẩm phán để dễ dàng ghép cho bà Nga những tội mà bà Nga không hề có.

    Việc gia đình và luật sư đã có đơn đề nghị cho bị cáo Trương Thị Tuyết Nga đi giám định tâm thần gửi cả hai cấp tòa sơ thẩm và tòa cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh mà không được chấp thuận là vi phạm tố tụng.

    Trên đây là 7 vấn đề mà tôi là người có nghĩa vụ và quyền lợi có liên quan trong vụ án mà vợ tôi là bà Trương Thị Tuyết Nga đã bị tòa án cấp cao tại thành phố Hồ chí Minh tuyên y án 15 năm tù về tội lừa đảo và phải bồi thường cho bà Dương Mỹ Linh tổng số tiền là 3,1 triệu USD.

    Căn cứ vào điều 273 chương XXX bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và xét sử vụ án này. Cơ quan điều tra viện kiểm sát nhân dân tối cao và hội đồng xét sử sơ thẩm, phúc thẩm đã vi phạm cả 4 căn cứ để xét sử giám đốc thẩm:

    1/ Việc điều tra xét hỏi tại phiên tòa phiến diện hoặc không đầy đủ.

    2/ Kết luận trong bản án hoặc quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án.

    3/ Có sự vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong khi điều tra, truy tố hoặc xét xử.

    4/ Có những sai lầm nghiên trong trong việc áp dụng bộ luật hình sự.

    Cùng với 4 căn cứ trên. Trong phiên tòa phúc thẩm, việc nghị án chỉ diễn ra trong vòng 14 phút (Từ 14giờ 18 phút đến 14 giờ 32 phút kể cả thời gian đứng lên ngồi xuống và đi lại). Bản án được ông thẩm phán Văn đọc trong vòng 15 phút (Từ 14 giờ 33 phút đến 14 giờ 48 phút). Như vậy phiên tòa này bản án đã được viết sẵn, mức án dành cho bị can đã được định sẵn. Cho nên hội đồng xét xử mới bỏ qua những chứng cứ mới đủ để khẳng định bị cáo vô tội và số tiền bị cáo nhận chỉ là 1.5 triệu USD.

    Với những căn cứ nêu trên. Tôi làm đơn này Kính đề nghị các cấp lãnh đạo có ý kiến chỉ đạo cho giám đốc thẩm vụ án oan này để trả lại sự công bằng cho vợ tôi là Trương Thị Tuyết Nga và quyền lợi chính đáng của tôi. Xin trân trọng cám ơn.

    Ngày 16 tháng 11 năm 2017
    NGƯỜI LÀM ĐƠN
    Vũ Văn Hải

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi