Đối Thoại: Nhận Thức Và “Rào Cản”

  • Bởi Admin
    28/06/2017
    5 phản hồi

    Nguyễn Trọng Bình

    1. Độc quyền tư tưởng, độc quyền chân lý và hệ lụy tất yếu

    1.1 Từ khi ra đời đến nay, “Đảng ta” vốn chỉ sùng bái và tôn thờ duy nhất chủ nghĩa Mác-Lênin. Nói cho cùng, đây là chuyện hết sức bình thường vì đó là quyền tự do tư tưởng của Đảng (chính xác hơn là của những người trong Đảng, theo Đảng). Tuy vậy, điều không bình thường là Đảng ta hiện nay (ước khoảng 4 triệu người) lại buộc cả dân tộc với hơn 90 triệu dân còn lại phải tôn thờ và sùng bái giống như mình. Người xưa bảo: “Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác”. Ấy vậy mà Đảng ta đã dùng sức mạnh của toàn hệ thống chính trị áp đặt lên toàn thể dân chúng (“Điều 4” của Hiến pháp năm 2013) để mình độc quyền lãnh đạo dân tộc và đất nước. Đây rõ ràng là sự xâm phạm thô bạo quyền tự do tư tưởng của 90 triệu dân chúng ngoài Đảng; là nguyên nhân cốt tử nhất làm cho con người Việt Nam tụt hậu và trì trệ trước hết là về tư duy và nhận thức so với các dân tộc, quốc gia tiến bộ khác trên thế giới. Bởi lẽ, tri thức nhân loại ngoài học thuyết Mác-Lê, còn biết bao chủ thuyết khác, điều hay khác; Đảng si mê Mác-Lê là quyền của Đảng cớ sao lại bắt ép người khác cũng si mê như mình?

    Thật ra, cũng không ai phủ nhận cái lý tưởng cùng mục tiêu “Dân giàu nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh” của Đảng đối với đất nước. Nhưng rõ ràng để cụ thể hóa mục tiêu ấy, Đảng phải để cho mỗi người dân tự do lựa chọn con đường “mưu cầu hạnh phúc” của riêng họ. Càng nhiều sự lựa chọn càng tốt, có như thế mới góp vào sự thành công chung trong sự đa dạng. Hoặc như nếu người này thất bại thì vẫn còn nhiều người khác với con đường khác. Nhưng không, mấy mươi năm qua Đảng tự huyễn hoặc, tự cho rằng chỉ có mình mới “tài tình”, “sáng suốt”. Thế là Đảng kiên quyết chặn hết mọi ngã đường, lùa tất 90 triệu dân để tất cả cùng chen chúc nhau trên một con đường mà đích đến là một sự mơ hồ không biết sẽ về đâu. Năm này qua tháng khác, Đảng tự nhét vào mồm dân chúng câu “ý đảng lòng dân” hay “tuyệt đại đa số nhân dân tin tưởng, ủng hộ” thế nhưng chưa một lần Đảng dám “trưng cầu dân ý” để xem thực tế có đúng như vậy không?

    1.2 Việt Nam đến hôm nay nữa đã là bốn mươi hai năm kể từ sau ngày kết thúc chiến tranh thống nhất đất nước. Nếu nói đời người bất quá chỉ 60 năm, thì “Đảng ta” đã lấy hơn “nửa đời người” của mấy chục triệu dân để tiến hành công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước. Thế nhưng kết quả thu về là như thế nào? Nếu ai đó không đủ dũng khí để thừa nhận một thất bại thì có lẽ cũng không nên huênh hoang nói rằng Đảng ta gặt hái rất “nhiều thành tựu vượt bậc” gì đó…!

    Hãy nhìn xem, về kinh tế, tuy không phủ nhận đất nước có sự thay da đổi thịt, đời sống người dân trên đại thể có nâng cao hơn trước nhưng rõ ràng sự thay đổi này vẫn không tương xứng với tiềm năng vốn có của đất nước và dân tộc (vị trí địa lý, tài nguyên, con người…) nếu so với một số quốc gia khác. Trong mắt bạn bè thế giới, Việt Nam hôm nay là một đất nước “kỳ lạ” đến nỗi họ phải ngạc nhiên và cảm thán giùm: tại sao lũ Việt Nam chúng nó có đầy đủ điều kiện và niềm năng để phát triển nhưng lại “không chịu phát triển”? Đây là một sự thật đã được chính Đảng thừa nhận.

    Ngoài ra, nếu quan sát kỹ sẽ thấy động lực cho sự phát triển kinh tế mấy mươi năm qua của đất nước chủ yếu đến từ…“bản năng sinh tồn” của cả dân tộc (trong hoàn cảnh đói nghèo, cùng cực buộc mỗi cá nhân phải tìm mọi cách để bươn chảy, mưu sinh) hơn là được dẫn dắt bởi những chủ trương, quyết sách mang tầm nhìn xa và sự chủ động của Đảng. Ví như năm 1986, Đảng bảo mình “tài tình”, “sáng suốt” khi đã quyết liệt “đổi mới” và “cởi trói” nhưng ngẫm kỹ lại (theo nhiều chuyên gia đã phân tích) chẳng qua chỉ là sửa chữa sai lầm mà thôi. Vì lẽ, trước năm 1975, kinh tế thị trường đã có ở miền Nam, sau khi “giải phóng” Đảng đã xóa bỏ; còn ở miền Bắc, có lẽ không nói thì mọi người cũng biết. Trong hoàn cảnh kiệt quệ về mọi mặt như thế, người dân cả hai miền vì bản năng sinh tồn, để có miếng bỏ vào mồm nên buộc phải “xé rào” làm “khoán chui”, “khoán 10”… Và may mắn thay, đó lại chính là động lực để Đảng quyết liệt “đổi mới” chuyển sang mô hình “kinh tế thị trường định hướng XHCN” như hiện nay. Nhưng mà “kinh tế thị trường định hướng XHCN” là gì? Đến nay, nhìn chung về mặt lý luận nó là một đống bùng nhùng, bum xum, đến nỗi ngay một cựu lãnh đạo cấp cao của Đảng năm nào – Bộ trưởng Bộ Kế hoạc Đầu tư và phát triển Bùi Quang Vinh đã có lần công khai thừa nhận: làm gì có cái đó mà tìm! Còn trên thực tiễn thì không thể nào chua chát và khốn nạn hơn. Cái tham vọng làm những “quả đấm thép” bằng mô hình Tập đoàn kinh tế Nhà nước giờ đây đã tự chứng minh rằng: các quan chức Nhà nước không thể/ không biết làm kinh tế mà quan trọng hơn nó chính là “cái ổ” cho lãng phí và tham nhũng (từ cấp cao đến cấp thấp), gây mất niềm tin và bức xúc trong nhân dân!

    Về phương diện văn hóa – xã hội, có thể nói không ngoa rằng, dưới sự dẫn dắt của Đảng, “con người mới XHCN” hôm nay đang ở trong tình cảnh “hoang tàn không nhận ra”. Hãy nhìn xem, các quan chức, lãnh đạo chính quyền không hiểu sao càng “học tập Bác” càng suy đồi, tha hóa; càng chấn chỉnh càng hư đốn; Bác liêm khiết, giản dị bao nhiêu thì các quan chức hôm nay lại xa hoa, phù phiếm, giả trá bấy nhiêu; ngày xưa Bác ở “nhà sàn đơn sơ vách nứa” thì các quan chức hôm nay tuy lương công chức “ba cọc, ba đồng” nhưng toàn ở biệt phủ, ngai vàng… Về phía dân chúng, xét trên mặt bằng chung vẫn là một sự trì trệ, mù quáng và không tự “trưởng thành”. Thậm chí có một bộ phận đã và đang bị bào mòn, thui chột thiên lương, thiện tính; đôi khi chỉ một chuyện vặt vảnh, một “cái nhìn đểu” không đâu cũng sẵn sàng lao vào ẩu đả và đoạt mạng nhau… Thảm trạng đau lòng này, không phải ai khác mà là chính miệng ông Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thừa nhận trong kỳ họp Quốc hội những ngày qua…

    Có người lý giải nguyên nhân của “thảm trạng” này trước hết là do cái “căn tính” của dân tộc Việt. Điều này không sai, nhưng cái “căn tính” này lẽ ra vẫn có thể từng bước cải tạo được bằng con đường giáo dục hoặc các hoạt động văn hóa nghệ thuật đa dạng, lành mạnh... Thế nhưng, do sự độc quyền tư tưởng, độc quyền chân lý nên tất cả mọi hoạt động văn hóa, giáo dục, nghệ thuật,… đều bị Đảng “chính trị hóa”; cùng với đó là dựng lên hàng loạt những rào cản, cơ chế kiểm duyệt gắt gao và xuẩn ngốc. Thay vì khơi thông, chấp nhận sự đa dạng nhằm từng bước khai sáng cho dân chúng thì Đảng ta lại biến họ thành những cái máy, những con rối còn hơn cả “chính sách ngu dân” thời Pháp thuộc trước đây.

    2. “Sợ hay không sợ” - đó không phải là vấn đề

    Ngày 18/5/2017 tại hội nghị trực tuyến toàn quốc sơ kết một năm triển khai thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, ông Võ Văn Thưởng – Trưởng Ban Tuyên giáo Trung Ương có nói rằng: “Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận, bởi vì sự phát triển của mỗi lý luận và học thuyết cách mạng nào rồi cũng phải dựa trên sự cọ xát và tranh luận. Và cũng chính sự tranh luận đó tạo ra cơ sở để hình thành chân lý”.

    Phát biểu trên của ông Thưởng thật ra cũng không có gì mới mẽ hay đặc sắc nhưng lại là đề tài làm dấy lên cuộc bàn luận sôi nổi trong xã hội ngay sau đó. Chỉ với điều này thôi đã cho thấy, chỉ ở những quốc gia mà đời sống tinh thần của con người bị uy hiếp, đe dọa, bị dồn nén, bị “căng cứng” với nhiều ẩn ức, bức bối nên người dân mới có những phản ứng như thế. Nói cách khác, “đối thoại” và “tranh luận” về một vấn đề nào vốn là lẽ tự nhiên, thường tình trong cuộc sống con người; là biểu hiện bình thường của một xã hội dân chủ, văn minh nhưng ở Việt Nam thì cần phải xin phép và được sự đồng ý của Đảng và Chính quyền.

    Tuy vậy, trong cái nhìn tích cực và chân thành nhất, phát biểu trên của ông Thưởng ít nhiều cũng cho thấy có một sự chuyển biến trong nhận thức (ít nhất là trong tư cách cá nhân của một lãnh đạo cấp cao) của Đảng. Nó cho phép chúng ta suy luận một cách có cơ sở rằng, trong bối cảnh và tình hình phức tạp của đất nước hiện nay Đảng đã không còn “bưng tai giả điếc” như trước đây nữa.

    Ngoài ra, ở cương vị của một cấp dưới, ông Thưởng đã nhận ra vấn đề thì tin chắc chắc ở vị trí và tầm cỡ như TBT Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí cấp cao khác của ông cũng không “lú lẫn” như dân gian vẫn hay kêu ca, đồn thổi. Một số chỉ dấu trong quá khứ như trường hợp cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt, hay gần và cụ thể nhất là hàng loạt bài viết (với tinh thần thừa nhận những bất cập về nhận thức lâu nay của Đảng) của ông Vũ Ngọc Hoàng (người cũng giữ cương vị tương đương ông Thưởng hiện tại)… ít nhiều cho chúng ta nhìn rõ hơn vấn đề này.

    Nếu những suy luận trên đây là đúng thì phải chăng vấn đề quan trọng nhất ở đây không phải Đảng ta không nhận ra những sai lầm của mình mà là trong hàng ngũ của Đảng hiện nay chưa có một cá nhân nào thực sự có đủ quyền hành và dũng khí để đường đường chính chính, công khai thừa nhận trước toàn thể quốc dân đồng bào; vẫn chưa xuất hiện một chính khách thực thụ dám vượt qua nỗi sợ hãi của những bè phái, lợi ích nhóm và nhất là vượt ra khỏi tư tưởng bảo thủ giáo điều để quyết liệt thay đổi tận gốc? Câu nói:“Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận…” của ông Thưởng thực ra cho thấy Đảng đang rất… sợ. Vì sao? Ở góc độ tâm lý, câu nói trên chính là biểu hiện của chứng “tự kỷ” (sự tự kỷ này thể hiện rõ nhất qua cuộc “vận động học tập và làm theo tâm gương đạo đức Hồ Chí Minh” rầm rộ lâu nay và “chống suy thoái”, “chống tự diễn biến” cho những người trong Đảng thời gian gần đây); ít nhiều cho thấy Đảng không còn ảo tưởng về sức mạnh của mình như trước đây nữa dù rằng về cơ bản vẫn Đảng vẫn đang kiểm soát mọi thứ. Nói cách khác, lâu nay sức mạnh của Đảng một phần là do sự chuyên quyền, độc đoán; phần còn lại do sự mê muội, hèn kém của dân chúng cộng lại tạo nên. Nhưng trong thời đại công nghệ hôm nay cả hai nguồn sức mạnh ấy đã không còn vững chắc nữa. Mọi chuyện đều có thể xảy ra vì bằng nhiều nguồn khác nhau, giờ đây dân chúng đã có thể tự khai sáng cho mình nên những chiêu trò tuyên truyền, tô hồng thành tựu vĩ đại của Đảng có khi lại phản tác dụng bởi niềm tin của người dân đã không còn. Thế nên, sợ hay không sợ thực ra không phải là vấn đề. Mà vấn đề là trong bất cứ cảnh huống nào nếu thực sự “vì dân, vì nước” thì Đảng cũng không được phép đặt mình ngang hàng hay thậm chí đặt trên cả lợi ích của Dân tộc, Quốc gia. Sứ mạng lịch sử của Đảng trong quá khứ (thời kỳ chiến tranh) đúng là có những chuyện, những vấn đề không thể phủ nhận nhưng khi đất nước hòa bình, thống nhất và nhất là trong tình hình hiện tại và tương lai nhất định cần phải trung thực nhìn nhận và xem xét lại một cách toàn diện, thấu đáo. Hàng loạt những bài học về sự nổi giận của nhân dân vẫn còn nguyên đó và cũng không vô cơ mà bùng phát ra như: vụ giàn khoan HD 981 của Trung Quốc năm nào; vụ tiếng súng của Đoàn Văn Vươn (Hải Phòng), Đặng Ngọc Viết (Thái Bình); vụ “Formosa thất thủ” và vụ Đồng Tâm bắt người mới đây...

    Tóm lại, về phát biểu của ông Thưởng, mỗi người, tùy vị trí, góc nhìn có thể tin hoặc không tin (dù là trong tư cách cá nhân ông ta hay đại diện, thừa lệnh của Đảng) nhưng chắc chắn một điều nếu cứ mãi duy trì hiện trạng như nay (của Đảng tiếp tục “độc thoại”, “độc diễn” và bất chấp thực tiễn về sự thất vọng và mất niềm tin trong nhân dân) thì tương lai của dân tộc và đất nước này sẽ còn mù mịt, đừng mong gì một sự khởi sắc.

    3. Đối thoại để hòa giải, hòa hợp dân tộc, tránh “nồi da xáo thịt”

    Trong nhiều bài viết của mình, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Dy cho rằng, trong hoàn cảnh và tình hình hiện nay, Việt Nam muốn phát triển, muốn “hóa rồng” không còn cách nào khác là phải đổi mới thể chế cả về chính trị lẫn kinh tế. Theo ông, đây chính là “mệnh lệnh” của cuộc sộng nhằm tạo “động lực” mới cho đất nước. Quan điểm này là xác đáng nhưng có lẽ đây chỉ mới là điều kiện cần. Điều kiện đủ là cả dân tộc phải thật sự đoàn kết và chung sức chung lòng; lợi ích quốc gia dân tộc phải được đặt lên trên hết mọi tư tưởng của bè phái, phe nhóm. Từ đây, nếu phải nói mục tiêu lớn nhất của vấn đề đối thoại chính là, một mặt phải “tạo điều kiện” cho Đảng tự “cởi trói” (thông qua việc đổi mới thể chế); mặt khác phải hướng đến sự hòa giải, hòa hợp dân tộc một cách chân thành và trọn vẹn nhất; đối thoại để dân tộc không phải rơi vao cảnh “nồi da xáo thịt” thêm một lần nào nữa. Đất nước đã có hơn 40 năm thống nhất rồi nên không có lý do gì lại để cho cả dân tộc sống trong cảnh một ly tán, đồng sàng dị mộng; hay ý Đảng lòng dân thực chất chỉ là hai đường thẳng song song chẳng bao giờ gặp nhau; Đảng nhìn dân bằng cặp mắt nghi ngờ, cảnh giác; dân từ chỗ xem Đảng là niềm tin, là khát vọng thì giờ đây lại coi thường, khinh khi ra mặt.

    Trong một bài viết năm 2015, liên quan đến vấn đề này, người viết cho rằng về mặt nhận thức chung, trước hết Đảng, Nhà nước Việt Nam phải dũng cảm đối mặt với hai vấn đề. Một là, phải nghiêm túc tự kiểm điểm vì sao đã hơn 40 năm rồi nhưng chuyện “hóa giải hận thù” giữa “bên thắng cuộc”“không thắng cuộc” vẫn không có tiến triển gì đáng kể? Hai là, tại sao giờ đây lòng dân ngày một thêm bức bối, bất mãn, “không yên”? Tất cả sự kiểm điểm này phải trên nền tảng của sự chân thành và chủ động đối thoại với mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước chứ không phải “độc thoại” một chiều như thời gian qua. Và để có cơ sở pháp lý vững chắc cho vấn đề này, Đảng, Nhà nước Việt Nam cần nhanh chóng ra một bản Nghị quyết mới cho vấn đề “hòa hợp, hòa giải dân tộc” phù hợp với điều kiện và tình hình mới hiện nay. Phải xem đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu của đất nước và dân tộc trong một vài năm tới.

    Như vậy, nếu phải nói về điều kiện hay sự chuẩn bị gì đó để những cuộc “đối thoại” đạt được kết quả có lẽ phải nói rằng, tất cả các bên phải tự đối thoại với bản thân mình trước; các bên hãy cho nhau một niềm tin, một cơ hội để dân tộc có một sự hòa giải, hòa hợp thật sự.

    Có thể thấy, quan điểm và cách nói về “đổi mới thể chế” của nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Dy thì mọi vấn đề vẫn do Đảng chủ động. Phải chăng nếu làm được điều này cũng có nghĩa là Đảng đang tự đối thoại với mình? Và với nhân dân đó là cách đối thoại gián tiếp thông qua hệ thống chính sách, pháp luật minh bạch, rõ ràng và nhất là không bị chi phối bởi các “nhóm lợi ích” nào đó.

    Nói cách khác, trong hoàn cảnh hiện nay, nếu Đảng vẫn chưa thể chủ động thu xếp cho những cuộc đối thoại trực tiếp “ba mặt một lời” với bên bất đồng chính kiến thì những chủ trương chính sách nào của Đảng nào đi ngược với hiến pháp và ý nguyện của nhân dân cần phải nhanh chóng điều chỉnh và thay đổi. Vấn đề này, nói nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh là: “dù thế nào, nếu thật sự muốn lấy lại niềm tin trong nhân dân, để đất nước được ổn định phát triển lâu dài và thông suốt, tiêu chí của giá trị cải cách nhất định cũng phải được đánh giá dựa trên cái ngưỡng từ đó trông thấy rõ nỗ lực vượt lên mấy nút chặn nghiệt ngã bấy lâu nay, liên quan những nội dung/ vấn đề cốt lõi như quyền tự do ngôn luận-báo chí-xuất bản, quyền ứng cử, quyền biểu tình, quyền sở hữu ruộng đất (trên thực tế)…, chứ không thể chỉ dựa vào mấy câu chữ lưỡng nghĩa vốn đã được sửa đi sửa lại nhiều lần ghi trong các bản nghị quyết suốt mấy chục năm nay mà bản chất gần như không có gì đổi mới”.

    4. Vượt qua những rào cản

    Cũng theo nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Dy, rào cản lớn nhất cho vấn đề đối thoại hiện nay ở Việt Nam chính là tư tưởng cực đoan, bảo thủ của cả hai phía. Ông nói: “Muốn đối thoại phải tránh cực đoan. Những người chống cộng cực đoan cũng nguy hiểm không kém gì những người cộng sản cực đoan. Họ sẵn sàng chụp mũ cho những người không cùng quan điểm với họ là “việt cộng”, cũng như những người cộng sản cực đoan sẵn sàng chụp mũ cho những người không cùng quan điểm với họ là “phản động”. Thực ra, chính những người cực đoan của cả hai phía mới là “phản động”, vì họ làm cản trở cơ hội hòa giải và hòa hợp dân tộc để chung tay đổi mới và phát triển theo hướng dân chủ hóa”.

    Quả đúng như thế nhưng nói cho cùng đây là chuyện không thể tránh khỏi bởi cuộc sống là vậy, nhân loại sẽ không bao giờ hết những “phần tử IS” cực đoan. Vấn đề là làm sao để vượt qua rào cản trên. Bởi chẳng lẽ, chỉ vì một vài phần tử như thế lại làm cản đà tiến bước của cả dân tộc?

    Như đã nói, dù sao hiện nay Đảng vẫn đang nắm quyền kiểm soát mọi thứ. Thế nên, trong chuyện này, để vượt qua trở ngại trên thì sự chân thành và chủ động của Đảng vẫn đóng vai trò quyết định. Cụ thể, những người có tư tưởng cấp tiến trong Đảng phải dũng cảm và quyết liệt hơn để thuyết phục những người còn lại nếu tất cả thật sự vì tương lai của dân tộc và đất nước.

    Bên cạnh đó, Đảng và chính quyền phải hiểu rằng, nhân dân dân nói chung ngoài chuyện phải sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật thì việc phản biện hay thậm chí là chỉ trích những chủ trương chính sách của Đảng, chính quyền cũng là một nhiệm vụ cần được nghiêm túc nhìn nhận. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói, một chính quyền thật sự vì dân là một chính quyền phải tạo mọi điều kiện để nhân dân “mở miệng” nói ra tất cả những gì họ nghĩ, họ muốn. Vì thế, chính quyền phải xem những tiếng nói khác, thậm chí là những tiếng nói chỉ trích mình là chuyện hết sức bình thường. Sự chỉ trích của dân chúng, nghiêm túc mà nói chỉ giúp cho chính quyền tốt hơn thêm mà thôi. Bởi đó chính là cơ sở để chính quyền nhìn lại và điều chỉnh những chủ trương sai lầm của mình. Chính quyền phải lắng nghe dân nhưng cũng không nhất thiết phải làm theo tất cả những gì dân muốn bởi không phải sự phản biện, chỉ trích nào của dân cũng đúng và có cơ sở. Tuy vậy, tuyệt đối không vì thế mà chính quyền giở mọi thủ đoạn ra để trả thù dân khi bị chỉ trích. Vì dù sao chính quyền sống và tồn tại được là nhờ tiền thuế của dân. Một chính quyền mà lúc nào cũng muốn dân chúng ngợi ca mình như Thánh sống là một chính quyền xuẩn ngốc và hoang tưởng.

    Có thể thấy, ngay sau phát biểu của ông Thưởng về phía người dân có những ý kiến quan điểm khác nhau. Trong vai trò lãnh đạo, lẽ ra việc đầu tiên là Đảng, chính quyền phải ghi nhận tất cả những ý kiến ấy. Tuy nhiên, không biết có phải thừa lệnh của Đảng hay không, ngay lập tức trên một tờ báo nọ cũng xuất hiện một bài viết mà chỉ cần nhìn tiêu đề thôi đã cho thấy sự chuyên quyền, “độc đoán”. Đặc biệt hơn, tác giả bài viết thay vì tìm đến những bài viết nghiêm túc của những người bất đồng chính kiến để đối thoại và phản biện thì này lại tìm đến vô số những comment vô thưởng, vô phạt của vài các nhân cực đoan bảo thủ nào đó. Cách đặt vấn đề và lập luận như vậy, không những không thuyết phục mà vô hình chung là “cầm đèn chạy trước ô tô”; đi ngược lại đề xuất “đối thoại” của cấp trên mình.

    Nói khác đi, ở khía cạnh tích cực nhất, chủ trương và đề xuất đối thoại của ông Thưởng nếu được nhanh chóng thực hiện chắc chắn sẽ là một cú “hích” rất lớn đối với sự phát triển của dân tộc và đất nước. Nhưng chủ trương kia chưa kịp triển khai thì không ai khác chính những người trong Đảng (hoặc thay mặt Đảng) với tư tưởng bảo thủ và nhỏ nhen đã làm cho mọi thứ có nguy cơ đổ vỡ.

    Từ đây, có thể nói để có thể vượt qua rào cản về sự bảo thủ và cực đoan của cả hai phía, có hai vấn đề quan trọng cần phải giải quyết là:

    Thứ nhất, Đảng và chính quyền phải thể hiện sự chủ động, một mặt phải tự nâng mình lên để không rơi cực đoan và cay cú hơn thua với đám đông dân chúng; mặt khác phải chấp nhận và xem mọi sự phản biện chỉ trích của dân chúng như là cơ hội để mình tốt hơn.

    Thứ hai, phải từng bước mở rộng quyền tự do báo chí tiến đến tư nhân hóa hoạt động này; lấy báo chí làm cầu nối tạo điều kiện cho những cuộc trao đổi, tranh luận, đối thoại giữa hai phía diễn ra một cách công bằng, sòng phẳng giữa. Đó cũng là cách nhằm góp phần kiểm soát những phần tử có tư bảo thủ và cực đoan từ cả hai phía.

    5. Thay lời kết

    Để khép lại bài viết này, có lẽ không gì thú vị hơn là xin được dẫn lại và sắp xếp theo trình tự xuất hiện ba câu nói mà tin rằng mọi người hẳn đã từng nghe, từng biết. Chỉ dẫn lại thôi và không bình luận gì thêm nữa để tất cả mọi người cùng đối chiếu và suy ngẫm trên cơ sở hiện tình về đất nước, xã hội và con người Việt Nam hôm nay.

    Một là câu nói của đại văn hào, triết gia người Pháp – Voltaire: “Tôi không đồng ý điều anh nói, nhưng tôi thề sẽ chiến đấu đến chết để bảo vệ quyền được nói của anh”.

    Hai là câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dân chủ là để làm sao cho dân được mở miệng ra, đừng để dân sợ không dám mở miệng, nhưng điều đáng lo hơn nữa là khiến dân không thiết mở miệng” (Hồ Chí Minh)

    Ba là, phát biểu của nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan năm nào: “Nhà nước Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, biết kế thừa những tinh hoa dân chủ của các nhà nước pháp quyền trong lịch sử và đã, đang phát triển lên tầm cao mới, khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản.”

    ----------------

    Nguồn tham khảo:

    - Trần Văn Chánh – “Bang vô đạo”. http://www.viet-studies.net/kinhte/TranVanChanh_BangVoDao.htm

    - Nguyễn Quang Dy – “Văn hóa đối thoại và sự đồng thuận quốc gia”. http://www.viet-studies.net/kinhte/NQuangDy_VanHoaDoiThoai.htm

    - Tá Lâm – “Ông Võ Văn Thưởng: Không sợ đối thoại tranh luận”. http://plo.vn/thoi-su/ong-vo-van-thuong-khong-so-doi-thoai-tranh-luan-702827.html

    - Bắc Hà – “Không được lợi dụng đối thoại để chống phá”. http://www.qdnd.vn/chong-dien-bien-hoa-binh/khong-duoc-loi-dung-van-de-doi-thoai-de-chong-pha-508533

    CT, 27/6/2017

    Tác giả gởi cho viet-studies ngày 27-6-17

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    NJ viết: "Nhà nước CHXHCNVN và đảng CS hãy huỷ bỏ điều 4 HP, hãy ban hành luật biểu tình, lập hội, lập đảng và trên tất cả là tôn trọng, thực hiện những cam kết. Để từ những căn bản, nền tảng này, mới có thể đặt vấn đề đối thoại một cách nghiêm chỉnh với nhau!" Ý kiến này được đấy, đây là vấn đề mấu chốt để tạo tiền đề cho các ý kiến đối thoại khác. Thế nhưng Đảng ta lại bảo "bỏ điều 4 hiến pháp là Đảng ta tự sát", tức là chết mẹ nó Đảng ta rồi. Thế thì đối thoại làm sao được. Hồi bao cấp thì bao cấp về kinh tế dẫn đến bao cấp về tư tưởng, nhưng nay xóa bỏ bao cấp về kinh tế, vẫn còn bao cấp về tư tưởng, "để Đảng và nhà nước lo."
    Trong vấn đề dối thoại vẫn có những điều cấm kỵ, cấm nhắc đến mà cứ để Đảng quyết định cả, thì ngay trong Dân luận cũng thế thôi, có phải tất cả mọi còm đều được hiển thị cả đâu, vẫn có những còm trái với Dân luận và phải được kiểm duyệt đã, mặc dầu còm đó cũng chẳng mạt sát ai, xúc phạm ai mà chỉ nêu những vấn đề chung của đất nước. Tôi đã suy ngay những còm của tôi thì thấy.
    Đảng vẫn giữ nguyên truyền thống cấm những quan điểm trái ngược với Đảng, trước kia học giả Nguyễn Văn Bông ở Sài Gòn chỉ tuyên bố là chấp nhận các quan điểm đối lập thế là Đảng CS ta cho biệt động rình mò và ám sát vị học giả đấng kính này bằng được thì thôi.
    Đảng chưa chấp nhận đối thoại với Đảng thì có vấn đè nào cần đối thoại thì ta cứ đưa lên mạng lề dân cho mọi người biết và cùng bàn thảo với nhau.
    Có một chiến công vô cùng hiển hách của Đảng ta diễn ra từ ngày Đảng ta lên cầm quyền mà chẳng thấy ai nhắc tới, đó là từ khi Đảng ta lên cầm quyền thì ta bị kẻ thù (trước kia) là đế quốc Mỹ đánh, nay thì ta lại bị nước bạn láng giềng cũng đánh.
    Mỹ cũng đánh ta, Tàu cũng đánh ta, sao lại thế? Thế thì tại ta hay tại Mỹ, tại Tàu? Sao Mỹ và Tàu không đánh các nước khác mà cứ nhằm vào ta mà đánh? Tại ta ăn ở ra làm sao? Mỹ Tàu đánh Đảng ta, thì Đảng ta cứ dân mà đánh, đánh bằng roi, rồi đánh bằng thuế, đánh thuế mới chết cha con người ta chứ. Tận thu thuế làm cho người lao động nhẵn túi. Nhẵn túi thì hết cả đối thoại. Mọi chuyện êm ru. Công lao của Đảng ta vô cùng to.
    Chẳng biết còm này có được đăng hay là không? Cũng phải xem có phù hợp với quan điểm của Dân luận không đã chứ, có phải cứ mở rộng là chấp nhận mọi quan điểm cả đâu, cùng như Đảng của ta ấy, đối thoại nhưng phải xem có phù hợp với quan điểm của Đảng ta hay không dã chứ. Viết thế này thì khó mà được hiển thị.

    Mở đầu bài, tác gải viết: "Từ khi ra đời đến nay, “Đảng ta” vốn chỉ sùng bái và tôn thờ duy nhất chủ nghĩa Mác-Lênin. "
    Tôi đã nghe quá nhiều câu Đảng ta theo CN mác Lênin, và hiến pháp cũng ghi thế. Nhưng tôi đã hỏi nhiều người và nhiều lần, hỏi cả những ông GS TS: "Ta theo CN Mác Lênin là theo cái gì?" Thế nhưng chẳng ai thấy ai trả lời được là theo CN Mác Lênin là theo cái "con tự do" gì cả. Sao lại thế? Người mình chỉ quen nói mà không hề biết mình nói cái gì? Nếu họ biết thì họ dã giải thích cho mọi người biết. Lại có trường hợp người bị hỏi thì không trả lời được lại còn ác cảm với người hỏi, có khi lại chụp cho người hỏi là "Hỏi với động cơ không tốt" hoặc "phản đông".
    Ông tác giả bài này nếu nghiên cứu sâu sắc thì hãy giải thích cho người đọc biết là ta theo CN Mác Lê nin là theo cái gì" trước dã rồi hãy dài dòng lý luận.
    Bài này dài đòng quá, có nhiều chỗ phân tích cũng khá sâu và đúng cả thôi. Thế nhưng cứ dựa vào lời ông Thưởng nói là "“Chúng ta không sợ đối thoại, không sợ tranh luận…” thì nêu ra một vấn đề nào đó cần đối thoại thì đỡ mất thời gian và hợp ý người đọc hơn là chỉ nêu lý luận về đối thoại mà không hề nêu ra vấn đề cần đối thoại.
    Mặt khác bài này cũng giống nhiều bài khác là chỉ nêu ra những sai làm mà lại thiếu biện pháp khắc phục sai lầm.
    Trong bài viết: "Trong nhiều bài viết của mình, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Dy cho rằng, trong hoàn cảnh và tình hình hiện nay, Việt Nam muốn phát triển, muốn “hóa rồng” không còn cách nào khác là phải đổi mới thể chế cả về chính trị lẫn kinh tế. "
    Về kinh tế thì ta đã thay đổi nhiều rồi đấy chứ, trước kia thì 2 thành phàn kinh tế và không có kinh tế tư nhân nay nhiều thành phàn kinh tế và thừa nhận "kinh tế thị trường", tức kinh tế tư bản. Còn "đổi mới về chính trị" thì đổi mới thế nào? Thay chế độ này là CNXH bằng chế độ chính trị nào? Sao không nói rõ, cứ nói nửa vời "vừa đéo vừa run" chán bỏ mẹ.

    Tổng quát bài viết có giá trị và tg đã chân thành khi biểu lộ tư duy.

    Nhưng,

    tôi nghĩ là chẳng cần quay nhìn quá khứ "đảng ta" đã "đối thoại" với dân như thế nào!
    Chỉ cần nhìn hiện tại trước mặt, ngày hôm nay, với việc bắt giam Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và phiên toà xử cô, để đánh giá "lòng chân thành của đảng ta".

    Ông Hồ hay bà Doan và những hậu duệ khác như cựu TT Nguyễn Tấn Dũng.... đã và sẽ luôn có những lời " cất cánh", nhưng thực tế trong quá khứ, hiện tại và có thể là tương lai luôn chứng minh lời nói của cố TT VNCH Nguyễn Văn Thiệu đúng.
    Vì vậy dẫn chứng những lời nói của ông Hồ, bà Doan... luôn phản tác dụng, thay vào đó hãy là những đòi hỏi rõ ràng và cương quyết hơn như:

    Nhà nước CHXHCNVN và đảng CS hãy huỷ bỏ điều 4 HP, hãy ban hành luật biểu tình, lập hội, lập đảng và trên tất cả là tôn trọng, thực hiện những cam kết. Để từ những căn bản, nền tảng này, mới có thể đặt vấn đề đối thoại một cách nghiêm chỉnh với nhau!

    Còn không, tất cả chỉ là "nếu" và làm dáng với Quốc tế- mà họ chẳng còn tin nữa.

    Ngày nào những trí thức VN còn tin rằng những gì đã, đang xảy ra là do "trên bảo dưới không nghe" thì ngày đó đảng CS, nhà nước CHXHCNVN sẽ không bao giờ thay đổi thật sự. Tất cả những thay đổi, nếu có, chỉ là những vá víu tạm thời, và những phát biểu của những trí thức ủng hộ đảng CSVN, những đảng viên "nặng kí" của đảng CSVN cũng chỉ là để cứu đảng và tự cứu mình chứ không phát xuất từ ước muốn, đặt Quốc gia, Dân tộc lên trên quyền lợi đảng CS và cá nhân, gia đình.

    Nguyễn Jung

    Ps: Cá nhân tôi rất dị ứng khi nhìn, đọc chữ đảng được viết hoa giữa giòng, đảng không phải là danh từ riêng để được viết hoa giữ giòng.

    Việt cộng Thưởng muốn gì khi làm dáng "đối thoại"? E rằng rất là sai lầm nếu nghĩ rằng việt cộng Thưởng muốn làm dáng "đối thoại" với người dân, với những ai muốn đưa VN lên dân chủ tự do!

    Việt cộng Thưởng muốn gì khi làm dáng "đối thoại"? E rằng rất là sai lầm nếu nghĩ rằng việt cộng Thưởng muốn làm dáng "đối thoại" với người dân, với những ai muốn đưa VN lên dân chủ tự do!

    Cái "đối thoại" mà việt cộng THưởng đề cập đến, là "đối thoại" giữa bọn cộng sản cuồng hồ với nhau, giữa bọn cộng sản cuồng hồ bắc kỳ với bọn cộng sản cuồng hồ nam kỳ

    Bọn cộng sản cuồng hồ, nam kỳ hay bắc kỳ, thì cũng một duộc tàn ác đê tiện, hèn với giặc, ác với dân, phản quốc bán nước như nhau

    nguyễn phú trọng, hồ chí Minh, lê duẩn, nguyễn văn linh, nông đức mạnh..., với nguyễn tấn dũng, lê thanh hải, võ văn kiệt..., thì có khác gì nhau trong cái dáng cúi đầu xin làm gia nô cho giặc tàu ,

    cái túi tham, cái thuộc tính ăn cắp của công, trấn lột dân nghèo, của nguyễn phú trọng, lê khả phiêu..., và nguyễn tấn dũng, lê thanh hải..., thì có khác gì nhau

    Cái "đối thoại" mà việt cộng THưởng đề cập đến, là cái đối thoại giữa những tên việt cộng cuồng hồ đương chức đương quyền với những tên việt cộng cuồng hồ đối nghịch, muốn tranh chức tranh quyền với việt cộng Thưởng và đồng bọn đương chức đương quyền,

    Cái "đối thoại" mà việt cộng Thưởng đề cập đến, là, trước hết để, như thuờng lệ hồ chí minh, lường gạt đối phương mà chiếm trọn địa vị tay sai giặc tàu, chiếm trọn địa vị được giặc tàu chống lưng đỡ đầu, như giặc tafu đã chống lưng đỡ đầu hồ chí minh, cho được lâu dài làm đầu nậu VN, đối đế lắm thì "đối thoại" để cùng chia chác quyền lợi làm tay sai giặc tàuu, chứ đừng giết nhau như đã hạ thủ không chút nương tình "đồng chí" ở Yên bái

    Ngoại giả, "dân chủ tự do", chỉ là cái target để hồ chí minh và bọn việt cộng cuồng hồ thoả mãn những cơn cuồng nộ phát ra từ cái thuộc tính độc ác tàn bạo của cộng sản, chỉ là cái chiêu bài để hồ chí minh và bọn cuồng hồ diễn tuồng "trí thức mở miệng"

    Ngoại giả, nhân dân, trong con mắt việt cộng, từ khi hồ chí minh rước giặc tàu vào Thăng Long Hà Nội cắm lá cờ búa liềm tội ác lên miền bắc VN, đặt "cờ tổ quốc" xuống dưới đít cờ buá liềm, mở ra một thời kỳ bắc thuộc mới, chống lưng đỡ đầu việt cộng minh dựng nên nhà nước tổ quốc xã hội chủ nghĩa dân chủ cộng hoà bìm bịp sinh ra từ hiệp định giơ ne vơ 1954 ô nhục, vong bản ngoại lai tay sai giặc tàu ,

    thì nhân dân trong con mắt bọn việt cộng cuồng hồ chỉ là những tên nô lệ hèn kém, phuc vụ lòng tham cộng sản, mắc mớ gì mà bọn việt cộng cuồng hồ lại phải "đối thoại" với, chứ!