Sự xa lạ của những khái niệm nhân bản trong nền giáo dục của chúng ta

  • Bởi Admin
    25/06/2017
    1 phản hồi

    Vương Trí Nhàn

    Mấy hôm nay, đọc trên mạng cuộc trao đổi về đề thi môn văn kết thúc trung học phổ thông 2017.

    Theo chỗ tôi đọc được cuộc trao đổi dừng lại khá kỹ mấy chữ “THẤU CẢM” “TRẮC ẨN”. Và dù chưa chắc đã đi đến đâu, đó là việc cần thiết.

    Nhưng ở góc độ của mình, tôi chỉ nghĩ sở dĩ câu chuyện xảy ra như vậy, mọi thứ được mang ra trao đổi như vậy vì đối với chúng ta hôm nay nhất là đối với lớp trẻ nó, cái sự THẤU CẢM với lại TRẮC ẨN ấy là cái gì xa lạ quá.

    Giá lúc này đây trước mặt tôi là một học sinh chuyên văn. Tôi sẽ hỏi em những bài văn nào trong nhà trường đã dạy cho em về lòng trắc ẩn khiến em sẽ nhớ trong suốt cuộc đời.

    Không, hoặc khiêm tốn mà nói là rất lờ mờ rất ít, có phải không em?

    Nói quá lên hẳn em sẽ bảo số lần em nghe nhắc tới chữ ấy chắc chưa đầy mười đầu ngón tay!

    Trong các sinh hoạt trường lớp đội đoàn cũng vậy, chả bao giờ người ta muốn đưa mấy chữ ấy vào trong tâm trí em cả.

    Thế đấy, vậy mà bây giờ người ta nêu ra cho các em đi thi.

    Lỗi không ở người đã nêu vấn đề này trên mặt báo.

    Dù những người ra đề này có lỗi nữa thì cũng không phải là một điều quá trầm trọng. Trong cơn bí và với mục đích thân thiện là muốn cho nhà trường gần với xã hội, họ đã cố gắng.

    Cái lỗi to lớn hơn sâu xa nằm ở toàn bộ ngành giáo dục và suy cho cùng nữa là lỗi của cả xã hội, cái định hướng phát triển con người trong xã hội chúng ta.

    Ta hay nghĩ – và giáo dục lớp trẻ -- theo lối nghĩ trong xã hội mình là ai cũng hiểu ai ai cũng thương ai, rồi từ đó cho phép cái “con người tuyên huấn” trong mình tự do đấu tranh với những ai không công nhận cái chân lý tối thiểu đó.

    Ta ngại nói đến những gì lờ mờ non yếu trong tâm trí con người. Ta không hề quan niệm mỗi cá nhân là một cái gì phức tạp bởi -- như trong thời của bọn tôi càng rõ - sự phức tạp sẽ ngăn cản mỗi cá nhân trở thành người chiến sĩ “đi bất cứ nơi đâu làm bất cứ việc gì xã hội cần tới”

    Trong một xã hội “đồng phục” kiểu “Lôi Phong hóa”, sự hiểu biết lẫn nhau sự đặt mình vào địa vị kẻ khác không cần được đặt ra.

    Bởi thế, trong đời sống hàng ngày, ta chỉ hay nói đấu tranh phấn đấu vạch trần khuyết điểm tiêu diệt đến cùng sửa chữa phê phán quyết liệt. Mấy thế hệ liền coi những biện pháp mạnh đó là cách duy nhất và tốt nhất giúp cho tính người nẩy nở... Hỏi làm sao con người ngày nay không lúng túng khi bàn đến những chuyện tinh tế mà sâu sắc, dù nó là những phạm trù hết sức quen thuộc với con người Việt Nam trước 1945 - những ai từng đọc nhiều thơ văn cũ hẳn chứng giám cho cái ý này của tôi.

    Nhân đây, xin phép nhắc lại một chi tiết từ một bài báo nước ngoài.

    Báo Pháp Khoa học & đời sống từng viết về Tám hiểm họa môi sinh của thế kỷ XXI, một bạn trên Tia sáng số 9-98 đã dịch lại như sau :

    1/ Nhiệt độ tăng 2/ Đất thoái hóa 3/ Nước hết 4/ Hóa chất làm ô nhiễm 5/ Vùng biển bị khai thác quá mức 6/ Phá rừng gây nên dịch bệnh mới…

    Sáu cái đó tôi đã nghe ở một vài chỗ khác.

    Nhưng có hai khía cạnh mà tôi thấy mới, nó thuộc về hiểm họa xã hội:

    7/ Mất cân đối dân số, nam nhiều hơn nữ, khoảng cách giàu nghèo ngày càng rõ rệt và

    8/ Đô thị hỗn loạn.

    Người ta giải thích thêm điểm cuối: nay là thời của những THỊ DÂN HUNG DỮ; cuộc sống vô cùng hỗn độn bởi một số dân quá đông cùng sống trong một diện tích quá chật chội.

    Người ta kết luận “Trong một lô cốt không có pháp luật, luật rừng sẽ thay thế luật pháp”.

    Bài báo này gợi ra cho tôi một sự so sánh

    -- trong khi theo đuổi một đường lối giáo dục nhân bản và nói chung là xây dựng cho được một xã hội thân thiện với con người, thì những nền giáo dục ở các nước phát triển cũng không quên thăm dò những mạch ngầm nằm trong cách cư xử của họ, lấy đó làm điều cần nhắc nhở để giúp họ ngày một hoàn thiện

    -- trong cái sự kém cỏi chung của ngành nghiên cứu con người

    -- tức bao gồm cả giáo dục --, thì ở ta các ngành nhân học này lại có xu hướng là xếp xó những vấn đề đang nảy sinh hàng ngày, hơn thế nữa lại còn cố tình chiều nịnh con người, ngăn cản họ tự nhận thức là cái yêu cầu bức thiết bậc nhất.

    Điểm lưu ý cuối cùng: trong bài này tôi tập trung nói tới giáo dục. Quay trở lại với cái nghề của mình là nghề viết văn viết báo, tôi thấy chúng tôi cũng chẳng có gì khác. Không cần kiểm ra chắc các đồng nghiệp của tôi và các bạn từng yêu mến văn chương hẳn đều nhận ngay là cái chủ đề THẤU CẢM TRẮC ẨN với cách diễn giải như trên cũng xa lạ với chúng tôi bao nhiêu. chẳng cần suy diễn cũng có thể bảo rằng cái lỗi của giới cầm bút viết văn là một phần làm nên cái lỗi của các nhà giáo hiện nay.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Tên tác giả viết:
    Điểm lưu ý cuối cùng: trong bài này tôi tập trung nói tới giáo dục. Quay trở lại với cái nghề của mình là nghề viết văn viết báo, tôi thấy chúng tôi cũng chẳng có gì khác. Không cần kiểm ra chắc các đồng nghiệp của tôi và các bạn từng yêu mến văn chương hẳn đều nhận ngay là cái chủ đề THẤU CẢM TRẮC ẨN với cách diễn giải như trên cũng xa lạ với chúng tôi bao nhiêu. chẳng cần suy diễn cũng có thể bảo rằng cái lỗi của giới cầm bút viết văn là một phần làm nên cái lỗi của các nhà giáo hiện nay.

    Tg đã can đảm khi thú nhận thiếu xót, sai lầm của hệ thống với hậu quả thiếu xót bản thân.

    Tg đã có một bài viết về nền Gd thời VNCH.

    http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-hoc-ung-dung/van-hoa-giao-duc-khoa-hoc/2686-vuong-tri-nhan-may-cam-nhan-ve-su-khac-biet-giua-gi

    http://phamthang-hue.weebly.com/--2182012/nn-gio-dc-ca-ch-vit-nam-cng-ha

    http://trankytrung.com/read.php?788

    http://www.bbc.com/vietnamese/forum/2014/04/140424_giao_duc_mien_nam

    boxitvn. blog viết:
    Đến năm 1955, sau khi thiết lập chế độ Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) dưới quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm (1901-1963), các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò tự chủ của mình. Họ đã đồng tâm nỗ lực xây dựng một chế độ giáo dục thực sự nhằm thiết lập nên một hệ thống trường, viện của quốc gia khả dĩ đáp ứng được cho nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội-văn hóa của xứ sở. Họ cũng đã tiếp thu những thành tựu của nền giáo dục thời Đông Pháp (Đông Dương thuộc Pháp) và dựa theo mô hình giáo dục cùng với kinh nghiệm của nước Pháp chính quốc, để xây dựng nên nền Quốc gia Giáo dục của người Việt Nam. Nó chọn lọc và kế thừa truyền thống tích cực của cả ba nền giáo dục: Nho học (cựu học), Tân học (giáo dục thực dân) và Tây học (giáo dục Pháp quốc).

    Giai đoạn này, tức trong khoảng 1955-1963, mặc dù có chịu sự chi phối của người Mỹ về phương diện chính trị, nền Quốc gia Giáo dục mới của miền Nam Việt Nam vẫn được toàn quyền tự chủ từ cấp Tiểu học lên đến Đại học, và hầu như không có bất kỳ sự lèo lái bất lợi nào từ phía nước ngoài, nếu không muốn nói Hoa Kỳ cùng một số nước đồng minh khác của Việt Nam Cộng hòa còn giúp đỡ rất nhiều phương tiện vật chất cho nền giáo dục quốc dân. Nhờ vậy, ngay từ những ngày đầu hình thành nền Đệ nhất Cộng hòa, các giới hữu trách giáo dục ở miền Nam đã nỗ lực xây dựng được nền tảng quan trọng cho nền giáo dục quốc gia, tìm ra câu giải đáp cho những vấn đề cốt lõi của giáo dục, như: triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chương trình học, tài liệu giáo khoa và phương tiện học tập, vai trò của nhà giáo, cơ sở vật chất và trang thiết bị trường học, việc thi cử đánh giá kết quả học tập, và việc tổ chức quản trị.
    .....
    Về phương diện sư phạm, có 7 nguyên tắc về dạy trẻ trong nhà trường mới: (1) Nhà trường đào tạo những con người tự do chứ không đào tạo những con người nô lệ hèn mạt; (2) Nhà trường thúc giục trí óc trẻ con làm việc luôn luôn; (3) Nhà trường nhìn nhận rằng: cá nhân con người được tạo nên phần lớn là do các tình cảm chân thật bên trong (nội giới) chứ không do những điệu bộ, nét mặt bên ngoài; (4) Nhà trường dạy trẻ con không phải tùy ngẫu hứng…, mà phải theo đúng những nguyên tắc căn bản, kết quả của sự kinh nghiệm lâu đời và của khoa tâm lý học; (5) Nhà trường dạy ít nhưng dạy kỹ; (6) Nhà trường vừa khiêm tốn vừa có cao vọng (biết tự hạn chế chương trình dạy dỗ với các môn học được ấn định rõ rệt sao cho vừa với tuổi tác và trình độ hiểu biết của trẻ; một số môn đã dạy hy vọng sẽ giúp được trẻ tự học để tiến bộ về sau…); (7) Nhà trường mở cửa rộng cho tất cả con em bất luận là thuộc giai cấp, đảng phái hay tôn giáo nào trong xã hội (xem Trần Văn Quế, “Các nguyên tắc căn bản của trường sơ tiểu”, Sư phạm lý thuyết, Bộ Giáo dục-Trung tâm Học liệu, Sài Gòn, 1968, tr. 41-44).

    Đại hội Giáo dục Quốc gia lần I năm 1958, dưới thời Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục Trần Hữu Thế, quy tụ nhiều phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện quân đội, chính quyền và các tổ chức quần chúng, đại diện ngành văn hóa và giáo dục các cấp từ tiểu học đến đại học, từ phổ thông đến kỹ thuật..., đã chính thức đưa ra ba nguyên tắc “nhân bản”, “dân tộc”, và “khai phóng”. Ba nguyên tắc này dùng làm nền tảng cho triết lý giáo dục Việt Nam Cộng hòa đã được ghi cụ thể trong tập tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959, và sau đó có lặp lại trong phần đầu quyển Chương trình Trung học do Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản năm 1960, về “Nguyên tắc căn bản của nền giáo dục Việt Nam” (tr. 11). Theo đó:

    - Nền giáo dục Việt Nam phải là một nền giáo dục nhân bản, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người, lấy chính con người làm cứu cánh, và như vậy, nhằm mục đích phát triển toàn diện con người.

    - Nền giáo dục Việt Nam phải là một nền giáo dục dân tộc, tôn trọng giá trị truyền thống, mật thiết liên quan với những cảnh huống sinh hoạt như gia

    đình, nghề nghiệp, đất nước và đảm bảo hữu hiệu cho sự sinh tồn, phát triển của quốc gia dân tộc.

    -Nền giáo dục Việt Nam phải có tính cách khai phóng, tôn trọng tinh thần khoa học, phát huy tinh thần dân chủ và xã hội, thâu thái tinh hoa các nền văn hóa thế giới.

    Đại hội Giáo dục Quốc gia lần II năm 1964 (gọi là Đại hội Giáo dục Toàn quốc 1964) tiếp tục tái xác nhận ba nguyên tắc định hướng căn bản nhưng sửa lại thành: nhân bản, dân tộc, khoa học, và sau đó được ghi rõ ở Điều 11 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967: “Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản”.

    https://boxitvn.blogspot.de/2014/12/giao-duc-mien-nam-viet-nam-1954-1975.html..

    Nguyễn Jung

    Thật tình mà nói chữ "thấu cảm" tôi mới nghe, đọc lần đầu.
    Tôi biết chữ thông cảm, cảm thông= hiểu (lý trí) và chia xẻ (cảm giác).
    Chữ trắc ẩn = thương xót nhưng không đồng nghĩa với thương hại.

    Có vài trang viết về giáo dục của VNCH- lại VNCH.
    Đọc để biết, suy nghĩ rồi so sánh. Có viết về "triết lý giáo dục".

    http://mttuyet.fr/2014/12/chuong-trinh-giao-duc-va-sach-giao-khoa-thoi-viet-nam-cong-hoa/

    https://tuxtini.com/2013/12/01/nhin-lai-nen-giao-duc-vnch-su-tiec-nuoi-vo-bo-ben/

    Nguyễn Jung