Thế nào là thể chế tổng thống, thể chế đại nghị, thể chế bán - tổng thống?

  • Bởi Admin
    13/06/2017
    9 phản hồi

    Ngô Linh Sơn


    Ông Nguyễn Sĩ Dũng.

    Ngày 10/4/2017, ông tiến sĩ Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội đã cho đăng bài “Đổi mới 2.0” trên Tạp chí Tia Sáng là báo của Nhà nước, thuộc Bộ Khoa học công nghệ Việt Nam.

    Ngày 19/4/2017, trên Tạp chí Tia Sáng, ông Dũng cho đăng bài “Nhất thể hóa: tính chất cấp thiết của vấn đề“. Bài này có đoạn: Nhất thể hóa giửa Đảng và Nhà nước có thể là cải cách quan trọng nhất của công cuộc đổi mới 2.0.

    Ngày 17/5/2017, cũng trên Tạp chí Tia Sáng, ông Dũng cho đăng bài “Nhất thể hóa: phân tích để lựa chọn mô hình“. Trong bài này ông Dũng viết: Nếu nhất thể hóa là việc Đảng hóa thân vào Nhà nước thì lựa chọn mô hình để nhất thể hóa là điều đầu tiên quan trọng nhất chúng ta phải làm. Ông Dũng đưa ra 3 mô hình để lựa chọn: mô hình thể chế Tổng thống, mô hình thể chế Đại nghị và mô hình lai là thể chế Tổng thống lưỡng tính. Cuối bài ông Dũng nhấn mạnh vào 2 thể chế là thể chế Đại nghị và thể chế Tổng thống lưỡng tính.

    Ngày 27/5/2017, vẫn trên Tạp chí Tia Sáng, ông Nguyễn Sĩ Dũng cho đăng tiếp bài “Vận hành nhất thể hóa theo mô hình Đại nghị“, trong đó có đoạn: Nhất thể hóa là việc Đảng hóa thân vào Nhà nước chứ không phải việc Đảng kiêm nhiệm các chức danh của Nhà nước.

    Khi còn đương chức, ông Nguyễn Sĩ Dũng là người làm công tác nghiên cứu cho Quốc hội, thường viết về các vấn đề cơ chế, chính sách nên những bài ông viết vào những ngày 10/4, 19/4, 17/5 và 27/5/2017 được rất nhiều độc giả quan tâm. Nhà báo Phạm Chí Dũng cho rằng có thể đây là những tín hiệu mới, vì thời gian ông Dũng cho đăng những bài này trùng với thời gian ĐCSVN họp hội nghi trung ương 5.

    Cho đến nay, các thể chế mà ông Nguyễn Sĩ Dũng nói tới đều rất xa lạ với người Việt Nam. Rất ít người biết nội dung từng thể chế đó ra sao, có điểm nào là mạnh, là yếu trong lý luận và thực tiễn kiến tạo và quản trị quốc gia. Nhưng hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có chính phủ vận hành theo 1 trong 3 thể chế mà ông Dũng đã nêu ra để lựa chọn.

    Tạp chí Nghiên cứu quốc tế và Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đã có bài giới thiệu và phân tích so sánh chế độ tổng thống và chế độ đại nghị. Nội dung các bài này bổ sung lẫn nhau cho dễ hiểu hơn.

    Bách khoa toàn thư mở Wikipedia có các bài “Thế nào là thể chế tổng thống?, “Thế nào là thể chế đại nghị?”, “Nền cộng hòa đại nghị là gì?“ và “Thế nào là chế độ bán - tổng thống?”.

    Tạp chí Nghiên cứu quốc tế, số ra ngày 08/12/2013 có bài “So sánh chế độ tổng thống và chế độ đại nghị“ (http://nghiencuuquocte.net/2013/12/08/93-so-sanh-che-do-tong-thong-voi-che-do-dai-nghi/) , của Josept W. Robbin, Vũ Thị Hương Giang biên dịch và hiệu đính.

    Theo Josept W. Robbin thì một đất nước áp dụng chế độ tổng thống hay chế độ đại nghị là khác biệt vô cùng có ý nghĩa. Cả 2 chế độ Tổng thống và Đại nghị đều có những ưu điểm và những hạn chế, do đó khi lựa chọn thể chế thì cần hiểu những khác biệt giữa các thể chế ấy, nhằm giảm thiểu những hậu quả tiêu cực tiềm ẩn đối với một đất nước nhất định. Phải biết sự khác biệt giữa các thể chế đó về cách thức bầu cử, lập ra đơn vị hành pháp và đơn vị lập pháp chính, cách 2 nhánh này tương tác với nhau và cách hình thành chính phủ, sau đó xác định sự liên quan, để hiểu những chủ đề như hoạch định chính sách, đại diện và tồn vong của nền dân chủ Josept W. Robbin nhắc nhở: Việc lựa chọn hình thức thể chế là quan trọng nhưng cần lưu ý rằng chính các điều kiện vốn có hoặc những đặc điểm nền tảng mới gây nguy hiểm cho sự ổn định nền dân chủ. Ví dụ, kinh nghiệm của nhiều nước Mỹ La tinh đã trải qua cho thấy sự có mặt một chế độ độc tài quân sự nguy hiểm hơn bất cứ việc chọn một thể chế nào.

    Dưới đây là tóm tắt sơ lược nội dung những bài báo đó, giúp các bạn chưa có thời gian xem trực tiếp trên Tạp chí nghiên cứu quốc tế và Bách khoa toàn thư Wikipedia cùng tham khảo.

    Nội dung tóm tắt gồm:

    1 - Thế nào là thể chế tổng thống?

    2 - Thế nào là thể chế đại nghị và nền cộng hòa nghị viện là gì?

    3 - Những khác biệt chính giữa thể chế tổng thống và thể chế đại nghị là gì?

    4 - Thế nào là thể chế bán - tổng thống?

    ***

    1 - Thế nào là thể chế tổng thống?

    Thể chế tổng thống tiếng Anh là Presidential System, còn gọi là Tổng thống chế hoặc Hệ thống tổng thống.

    Đó là một hệ thống có những đặc điểm sau:

    1 - Về cơ bản, có 1 Tổng thống duy nhất do dân bầu trực tiếp, làm đại diện ủy quyền cho cả nước, không phụ thuộc vào Quốc hội có ủng hộ hay không.

    Riêng ở Hoa kỳ, việc bầu Tổng thống không phải là trực tiếp, cũng không phải là gián tiếp mà bầu thông qua 1 đại cử tri đoàn.

    Lưu ý về danh xưng Tổng thống: có trường hợp 1 kẻ độc tài không được dân bầu chính thức vẫn tự xưng là Tổng thống. Tổng thống này không là đại diện ủy quyền của dân chúng cả nước như trong thể chế tổng thống.

    2 - Nguyên lý trung tâm của hệ thống tổng thống là ngành lập pháp và ngành hành pháp phải phân lập. Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa đứng đầu ngành hành pháp. Tổng thống không có quyền bãi nhiệm và ra lệnh cho các quan tòa.

    3 - Tổng thống không đề nghị các đạo luật nhưng có quyền phủ quyết các đạo luật của ngành lập pháp. Ngành lập pháp có thể vô hiệu hóa sự phủ quyết của Tổng thống bằng một đa số phiếu.

    4 - Nhiệm kỳ phục vụ của Tổng thống là cố định. Trong nhiệm kỳ, Tổng thống không thể bị đưa ra bỏ phiếu bất

    tín nhiệm. Có ngoại lệ: ở một số quốc gia theo thể chế tổng thống, Tổng thống có thể bị luận tội và bị phế truất nếu bị xét xử là phạm luật (ví dụ ở Nam Hàn)

    Thể chế tổng thống có những ưu điểm và những hạn chế nào?

    Theo ý kiến những người ủng hộ thì thể chế tổng thống có 4 ưu điểm:

    1 - Tổng thống được dân bầu trực tiếp, thể hiện tính đại diện cho toàn thể dân chúng cả nước.

    Trước khi đi bỏ lá phiếu cuối cùng, cử tri đã được cho biết chương trình hành động của Tổng thống, cử tri có thể xác định ai sẽ là Tổng thống của họ, ai sẽ là người dẫn dắt chính phủ.

    2 - Có sự phân lập quyền lực giữa Tổng thống đứng đầu ngành hành pháp và Quốc hội thuộc ngành lập pháp thành 2 cơ cấu song song, tạo ra sự kiểm soát và cân bằng đặc thù, còn gọi là kiềm chế và đối trọng trong chính phủ, để hạn chế sự lạm quyền. Tuy nhiên 1 số học giả lại cho rằng chính cách phân lập quyền lực như thế có thể dẫn đến sự bế tắc chính trị, kéo theo sự sụp đổ nền dân chủ, nếu Tổng thống và đa số thành viên Quốc hội thuộc về 2 đảng khác nhau, đối lập nhau, tranh giành đặc quyền đặc lợi cho đảng mình. Tình trạng này đã từng xảy ra ở một số quốc gia theo thể chế tổng thống, như Brasil, Chile... Năm 2013, hệ thống của Hoa Kỳ đã bị tê liệt vì nguyên nhân này.

    3 - Tổng thống có quyền lực lớn nên có thể thực thi nhanh chóng những thay đổi. Nhưng 1 số học giả cho rằng chính điều này có thể dẫn đến độc tài.

    4 - Tổng thống có nhiệm kỳ phục vụ cố định nên có thể tạo ra sự ổn định cho chính phủ trong nhiệm kỳ đó.

    Nhưng 1 số học giả lại cho rằng điều này gây khó khăn cho sự thay đổi lãnh đạo khi Tổng thống đã mất sự tín nhiệm của dân chúng nhưng chưa hết nhiệm kỳ, vì vậy có thể dẫn đến bế tắc và nguy cơ xảy ra đảo chính quân sự như đã từng xảy ra ở Mỹ La tinh.

    2 - Thế nào là thể chế đại nghị?

    Thể chế đại nghị (còn gọi là Đại nghị chế) có đặc điểm là nhánh hành pháp của chính phủ phụ thuộc vào sự hậu thuẫn (trực tiếp hoặc gián tiếp) của Quốc hội là nhánh lập pháp.

    Từ đó dẫn đến những ưu điểm và những hạn chế của thể chế đại nghị là:

    1 - Không có sự phân biệt rạch ròi trách nhiệm giữa nhánh hành pháp và nhánh lập pháp, đưa đến tình trạng thiếu sự giám sát và cân bằng quyền lực trong chính phủ. Đây là điều khác với thể chế tổng thống.

    2 - Do hiếm xảy ra đối đầu giữa nhánh hành pháp và nhánh lập pháp, việc thông qua các dự luật có nhiều thuận lợi.

    3 - Có tính linh hoạt và nhanh nhạy trước những phản ứng của công luận

    4 - Mặc dù chính phủ được quy định thời hạn nhiệm kỳ (4 hoặc 5 năm) nhưng thể chế đại nghị có khả năng tạo ra được những cuộc tranh luận nghiêm túc, cho phép sự chuyển đổi quyền lực mà không cần tổ chức bầu cử và không giới hạn việc tổ chức bầu cử theo những thời hạn cố định như ở thể chế tổng thống. Điều này giúp hạn chế những biến động chính trị có thể dẫn đến sụp đổ chế độ cầm quyền.

    Bằng chứng là sau thế chiến thứ 2, hai phần ba (2/3) các quốc gia thuộc thế giới thứ 3 theo thể chế đại nghị đã chuyển đổi thành công sang nền dân chủ. Trong khi đó không quốc gia nào thuộc thế giới thứ 3 theo thể chế tổng thống đã chuyển đổi thành công sang nền dân chủ mà không trải qua đảo chính hay thay đổi Hiến pháp. Theo thống kê của Bruce Ackerman thì đã có 30 quốc gia theo chế độ tổng thống phải trải qua tình trạng bế tắc và khó khăn này.

    5 - Phân biệt rõ ràng chức danh đứng đầu Nhà nước (thường là một nhân vật được bổ nhiệm, có thể là một quân vương, như ở Nhật Bản, Anh, Thụy Điển, Nepal) và chức danh đứng đầu chính phủ là Thủ tướng. Đây cũng là điều khác với thể chế tổng thống.

    Trường hợp riêng biệt:

    - Một số quốc gia theo thể chế đại nghị có chức vụ Tổng thống do dân bầu là người đứng đầu Nhà nước, có một số thẩm quyền, nhằm duy trì thế cân bằng quyền lực cho hệ thống chính trị.

    6 - Theo ngân hàng thế giới các quốc gia theo thể chế đại nghị đã làm được tốt việc kiềm chế nạn tham nhũng.

    Sự lựa chọn loại hình chính phủ và hệ thống bầu cử của các quốc gia theo thể chế đại nghị:

    Từ một cuộc bầu cử ban đầu, các cử tri quyết định phân bổ bao nhiêu ghế trong Quốc hội cho các chính đảng khác nhau đã tham gia tranh cử. Các đại diện được bầu sẽ được giao trách nhiệm hình thành chính phủ. Họ phải tổ chức cả nhánh hành pháp và nhánh lập pháp. Các quan chức lập pháp xác định ai là Thủ tướng đứng đầu chính phủ. Trong tình huống không có chính đảng nào chiếm đa số thì đảng nào chiếm nhiều ghế nhất chịu trách nhiệm xây dựng một Liên minh cầm quyền. Các đảng tham gia liên minh sẽ xác định Thủ tướng.

    Khi Thủ tướng không còn sự ủng hộ của nhánh lập pháp (thể hiện qua việc bỏ phiếu bất tín nhiệm ở Quốc hội) thì phải tổ chức cuộc bầu cử mới.

    - Phần lớn các quốc gia theo thể chế đại nghị ở Châu Âu được cai trị bởi 1 liên minh cầm quyền, cấu thành bởi nhiều chính đảng, được bầu theo hệ thống bầu đại diện theo tỷ lệ (proportional réprésentation, viết tắt là PR). Theo cách bầu cử PR thường không có chính đảng nào giành được thế đa số nên các chính phủ đại nghị thường dẫn đến sự hợp tác, hình thành liên minh cầm quyền. Ở thể chế này sự hợp tác giữa các chính trị gia rất quan trọng. Nếu thiếu sự hợp tác giữa các đảng thì chính phủ liên minh có thể sụp đổ.

    Thể chế đại nghị với Liên minh cầm quyền đặc biệt hấp dẫn với những xã hội bị phân rẽ cao vì các nguyên nhân về chủng tộc, màu da, ý thức hệ vì nó có nhiều khả năng đại diện cho các lợi ích khác nhau trong xã hội.

    - Một số quốc gia (Liên hiệp Vương quốc Anh, Bắc Ireland, Canada, Australia, Ấn Độ thuộc mô hình Westminter) theo thể chế đại nghị, dùng hệ thống bầu cử đa số chọn một đại biểu cho mỗi đơn vị bầu cử (single member district, viết tắt là SMD). Cách bầu cử SMD thường dẫn đến chính phủ được thành lập bởi một chính đảng (ví dụ ở Anh, đảng Lao động và đảng Bảo thủ thường thay nhau cầm quyền).

    Nền Cộng hòa nghị viện là gì?

    Cộng hòa nghị viện (hoặc Cộng hòa đại nghị) là một hình thức cộng hòa mà nguyên thủ quốc gia được dân bầu ra và quốc gia đó có một Nghị viện mạnh. Các thành viên chính của nhánh hành pháp được chọn từ Nghị viện này. Tổng thống là nguyên thủ quốc gia không có quyền hành pháp rộng. Nhiều quyền hành pháp được trao cho Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ.

    Ngoại lệ:

    - Ở một số quốc gia cộng hòa nghị viện như Phần Lan, Ireland, Tổng thống có quyền hành pháp để điều hành công việc thường ngày của chính phủ, nhưng trên thực tế Tổng thống không dùng những quyền này.

    Một số yếu tố lịch sử của nền cộng hòa nghị viện:

    - Những quốc gia có nền Cộng hòa nghị viện thường là những quốc gia trước đây theo chế độ quân chủ lập hiến (có Vua đứng đầu nhà nước) , chẳng hạn Malta, Phần Lan, Nepal...

    - Một số quốc gia có nền Cộng hòa nghị viện trước đây là những quốc gia cộng sản ở Đông Âu và Liên bang Xô Viết, như Cộng hòa Czech, Bosnia, Albania, Estonia …

    3 – Có 5 khác biệt chính giữa chế độ Tổng thống và chế độ Đại nghị

    1 - Trong một hệ thống tổng thống, nguyên lý trung tâm là 2 ngành lập pháp và hành pháp phải phân lập.

    Từ đó dẫn đến:

    - Các cuộc bầu cử Tổng thống được tổ chức riêng. Tổng thống được bầu để phục vụ 1 nhiệm kỳ cố định, không phụ thuộc Quốc hội có ủng hộ hay không. Tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa đứng đầu chính phủ, tức là đứng đầu ngành hành pháp.

    - Tổng thống chỉ bị phế truất khi bị luận tội và bị kết án là có tội.

    - Tổng thống không cần chọn thành viên nội các để nhận được sự ủng hộ của Quốc hội.

    Trong hệ thống đại nghị thì ngược lại: ngành hành pháp được dẫn dắt bởi 1 Hội đồng bộ trưởng do 1 Thủ tướng đứng đầu. Hội đồng bộ trưởng này chịu trách nhiệm trực tiếp trước Quốc hội.

    2 - Trong hệ thống Tổng thống, ngành lập pháp cũng có nhiệm kỳ cố định và không thể bị giải tán trước thời hạn. Trong hệ thống đại nghị thì ngược lại: ngành lập pháp có thể bị nguyên thủ quốc gia giải tán trước thời hạn, theo lời đề nghị của Thủ tướng và nội các hoặc của nội các.

    3 - Trong hệ thống tổng thống, Tổng thống có quyền lực đặc biệt trong việc thông qua các đạo luật chính yếu, dựa vào quyền phủ quyết đối với các đạo luật. Tuy nhiên, trong 1 số trường hợp, quyền phủ quyết của Tổng thống bị áp lực từ ngành lập pháp, dùng số phiếu biểu quyết đa số, có thể đánh bại quyền phủ quyết cuả Tổng thống. Trong hệ thống đại nghị không có vấn đề này.

    4 - Trong hệ thống tổng thống, Tổng thống có thể được trao một số lớn quyền lực hiến định để thực thi chức vụ Tổng tư lệnh.

    5 - Trong hệ thống tổng thống thường có ít đảng phái tư tưởng hơn so với hệ thống đại nghị. Trong hệ thống đại nghị, những cuộc đua bầu cử dựa trên hệ thống bỏ phiếu bầu đại diện theo tỷ lệ (PR) kích thích hệ thống đa đảng.

    Những nhân tố ngược nhau giữa thể chế Tổng thống và thể chế Đại nghị

    - Trong hệ thống tổng thống, ngành lập pháp có thể có quyền lực xem xét sự bổ nhiệm và đôi khi có thể ngăn chặn sự bổ nhiệm quan chức cao cấp của ngành hành pháp. Tại Hoa Kỳ, nhiều quan chức được đề cử vào những vị trí cao trong ngành hành pháp phải được Thượng nghị viện xác nhận trước khi nhận chức.

    - Trong hệ thống đại nghị thì ngược lại: Nội các có thể lợi dụng các viên chức tổ chức đảng trong Quốc hội, buộc đảng viên thuộc đảng đó bỏ phiếu theo ý của đảng, để kiểm soát và chi phối Quốc hội, làm giảm khả năng Quốc hội kiểm soát chính phủ.

    Sự ra đời của thể chế lai

    Theo thống kê công bố trên Bách khoa toàn thư Wikipedia, hiện nay có khoảng 40 nước cộng hòa có chính phủ theo thể chế tổng thống, trong đó có Hoa Kỳ, Brasil, Venezuela, Indonesia, Philippine, Hàn Quốc, Kazakhstan (trước đây thuộc Liên Xô). Nhưng tính trên toàn thế giới thì số lượng các quốc gia theo thể chế đại nghị nhiều vượt xa số lượng các quốc gia theo thể chế tổng thống.

    Thể chế Tổng thống và thể chế Đại nghị đều có những khía cạnh hấp dẫn và những hạn chế, do đó một số quốc gia, trong đó có Pháp (kể từ nền cộng hòa thứ năm) và một số nhà nước trước kia là nhà nước cộng sản, như Ba Lan, Croatia, Ukraina, Lithuania... từ năm 1991 đã áp dụng thể chế lai là thể chế bán - tổng thống, có người gọi là thể chế tổng thống lưỡng tính. Thể chế lai này không còn nguyên dạng thể chế tổng thống và thể chế đại nghị nữa, nhằm tận dụng những ưu điểm và giảm thiểu những hạn chế của cả 2 thể chế Tổng thống và Đại nghị.

    4 - Thế nào là thể chế bán - tổng thống?

    Thể chế bán - tổng thống (tiếng Anh là semi - presidential system, tiếng Pháp là régime semi - présidentiel) là một hệ thống chính phủ, trong đó có 1 Tổng thống và 1 Thủ tướng. Cả 2 đều tham dự vào việc điều hành chính sự quốc gia thường ngày. Điểm này khác với thể chế tổng thống và thể chế đại nghị.

    Thể chế lai này có đặc điểm là bị giới hạn bởi quyền lực của Quốc hội.

    Hiến pháp nước Pháp liệt kê rõ những vấn đề mà Quốc hội được phép làm luật và chỉ cho phép Quốc hội có số Ủy ban không quá 8, để giảm bớt sức tải công việc lên Quốc hội. Điều này khác so với các Quốc hội theo thể chế tổng thống, số lượng Ủy ban của Quốc hội có thể rất lớn.

    Ở thể chế bán - tổng thống, cách phân chia quyền lực giữa Tổng thống và Thủ tướng có thể rất khác nhau, không giống như cách phân chia quyền lực trong thể chế tổng thống. Điều này khác với hệ thống cộng hòa nghị viện ở chỗ Tổng thống (như ở Đức) được dân bầu là nguyên thủ quốc gia nhưng chỉ là nguyên thủ biểu tượng nghi thức. Điều này cũng khác với hệ thống tổng thống ở chỗ nội các trong thể chế bán - tổng thống được Tổng thống bổ nhiệm nhưng phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội và Quốc hội có thể buộc nội các từ chức thông qua 1 cuộc biểu quyết bất tín nhiệm.

    “Chính phủ đồng sinh” trong thể chế bán - tổng thống

    Khi Tổng thống và Thủ tướng thuộc các đảng phái chính trị khác nhau và đối lập nhau thì Chính phủ được gọi là “Chính phủ đồng sinh “ (cohabitation) , có nghĩa là cùng chung sống. Tình trạng đồng sinh có thể tạo ra 1 hệ thống hữu hiệu về kiểm soát và cân bằng quyền lực, nhưng cũng có thể tạo ra 1 thời kỳ căng thẳng, tùy thuộc thái độ của Tổng thống và Thủ tướng, vào tư tưởng các đảng của họ hoặc từ đòi hỏi của các cử tri. /.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    9 phản hồi

    Phản hồi của các bạn NGT , Phong Uyên , Nguyễn Thị Từ Huy có nhiều ý rất xác đáng . Xin giới thiệu với các bạn : Hôm nay 16/6/2017 , Blog Dân Quyền ( Dân Quyền Blogspot.com ) vừa mở chủ đề " Tìm hiểu các thể chế " , có mời các bạn từ nước ngoài tham gia viết bài . Các bạn tham gia thì tốt quá . Gửi bài cho Dân Quyền theo e-mail của Dân Quyền ghi tại Blog

    Có lẽ bác Trần Thị Ngự đoán đúng . Tôi cho rằng Ngô Linh Sơn viết bài này chỉ nhằm cung cấp thông tin về các thiết chế cho Dân khỏi bị mắc lừa các nhà chính trị làm ảo thuật " thay áo " , chứ chưa nói đến làm thế nào có nền dân chủ tự do thực sự . Tôi nghĩ các bác NGT , Phong Uyên , Trần Thị Ngự muốn nói điều này mà chưa nói : Ở VN hiện nay , muốn có nền dân chủ thực sự thì phải thay đổi thể chế để có một thể chế chính trị dân chủ song song với việc thiết lập lại một nghị viện dân chủ , nếu vẫn tự nguyện để " đảng cử dân bầu " lên những Nghị gật thì không bao giờ người dân có nền dân chủ tự do thực sự .

    Sao chậm hiểu vậy ?
    Thắc mắc của các bác NGT , Phong Uyên , Trần Thị Ngự đã được Phạm Chí Dũng giải đáp trên bài " Nhất thể hóa , Tổng bí thư kiêm thủ tướng " đăng trên VOA ngày 29/3/2017 . Các bác nên vui lòng tìm xem lại bài đó .

    Việc áp dụng thể chế nào đi nữa, nếu muốn có dân chủ mở rộng thật sự, thì phải có :
    -đa nguyên (tư do tư tưởng, ngôn luận)
    -đa đảng (ứng cử, bầu cử tự do)
    -có tiếng nói phản biện tự nhiên và sự canh tranh của các quan điểm khác biệt (tự do báo chí, các công đoàn, các NGO, các liên minh đối lập trong quốc hội, ...).

    Bác Phong Uyên hỏi : "Đảng hoá thân vào Nhà nước" là cái quái gì?

    Ví dụ : Nếu chỉ có 1 ứng cử viên duy nhất là CT/TBT đảng cs được phép ra ứng cử chức chủ tịch nước/ tổng thống, và bắt dân phải đi bầu cho nó, thì đó chỉ là một thằng hề mất dạy mà thôi

    1) Tôi vẫn không thấy ai hỏi ông Nguyễn Sĩ Dũng : "Đảng hoá thân vào Nhà nước" là cái quái gì? Là Đảng tự biến mất chỉ còn Nhà nước hay Đảng là Nhà nước, chả khác gì vua Louis Thập tứ, Nhà nước là Ta ! Chỉ đặt vấn đề lựa chọn thể chế khi Đảng tự biến mất, có đa nguyên đa đảng, chứ một khi Đảng và Nhà nước là một, như tôi hiểu khi đọc những bài viết của ông NSD, thì thể chế như là một cái áo, Đảng muốn mặc cái áo quái nào mà chả được!
    2) Trong thể chế đại nghị, cần phải hiểu không phải là đảng nào được đa số (đại biểu) so với các đảng khác ( đa số tương đối) được QH cử nắm quyền, mà là đảng nào tập hợp được đa số tuyệt đối (50+1). Bởi vậy có những trường hợp một đảng có ít đại biểu hơn các đảng khác, nhưng tập hợp được các đảng nhỏ hơn để có thể thành lập được một liên minh đạt được đa số tuyệt đối và đi dần tới chế độ Lưỡng đảng (thật ra là lưỡng liên minh).
    Cần phải nói toạt móng heo là ý kiến của ông NSD chỉ phản ánh sự tranh chấp giữa 2 phái trong ĐCSVN. Tương lai sẽ cho biết biến chuyển chính trị ở VN chỉ có 2 con đường : Con đường "Giả tổng thống chế" của Tàu và Nga, với một chủ tịch nước có khả năng dẹp bỏ được 2 phái trong ĐCSVN để biến Đảng thành công cụ cầm quyền của mình. Con đường "Giả đại nghị" với 2 phái trong Đảng biến thành 2 đảng luân phiên nhau cầm quyền.

    Ngô Linh Sơn viết:
    Tổng thống không đề nghị các đạo luật nhưng có quyền phủ quyết các đạo luật của ngành lập pháp. Ngành lập pháp có thể vô hiệu hóa sự phủ quyết của Tổng thống bằng một đa số phiếu.

    Ở Hoa Kỳ, ai cũng có quyền đề nghị các đạo luật (tức là dự luật), kể cả hành pháp (do tổng thống đại diện). Dự luật được đề nạp tại hạ viện, được các uỷ ban chuyên môn xem xét giá trị (merits) và quyết định việc đưa ra bàn thảo tại khoáng đại (floor debates/discussions) trước khi biểu quyết.

    Ngô Linh Sơn viết:
    Không có sự phân biệt rạch ròi trách nhiệm giữa nhánh hành pháp và nhánh lập pháp, đưa đến tình trạng thiếu sự giám sát và cân bằng quyền lực trong chính phủ. Đây là điều khác với thể chế tổng thống.

    Điều này không chính xác. Mặc dù thủ tướng là lãnh đạo của đảng chiếm đa số trong quốc hội, điều đó không có nghĩa là việc giám sát hành pháp của quốc hội bị suy giảm bởi trong quốc hội còn có phe thiểu số đối nghịch. Ngoài ra, thủ tướng không phải chỉ phục vụ cho quyền lợi của đảng mà cho cả toàn dân trong đó có phe đối nghịch, cho nên chính những người trong đảng cầm quyền cũng giám sát thủ tướng để xem thủ tướng có thực thi đướng lối của đảng hay không. Cứ xem các buổi tranh luận trong Điện Westminster để thấy thủ tướng bị "quay" như thế nào.

    Bài viết có mục đích cung cấp thông tin để hiểu biết về các thiết chế chính trị. Tuy nhiên, việc áp dụng các thiết chế không nhất thiết sẽ mang lại dân chủ. Cái làm nên dân chủ là đa nguyên, là có nhiều tiếng nói phản biện và sự cạnh tranh của các nhóm với cac quan điểm đối nghịch hay khac biệt.
    Trong trường hợp VN, Với mô hình "nhât thể hoá" cùng sự lãnh đạo của Đảng CSVN như trong bài viết của Nguyễn Sĩ Dũng thì dù áp dụng thể chế nào cũng vẩn chỉ là VŨ NHƯ CẨN vì không có đa nguyên, không có tiếng nói phản biện và sự canh tranh của các quan điểm khác biệt.

    Trong phần thể chế đại nghị tác giả đã không nêu ra hai cơ cấu rất quan trọng. Đó là đảng / liên minh đối lập (official opposition) và nội các "mờ" (shadow cabinet).

    Không chiếm được đa số ghế ở Quốc hội (thắng cử, cầm quyền), nhưng hội đủ số ghế theo luật định một đảng hay một liên minh sẽ nắm giữ vai trò đối lập.

    Tương đương với Thủ tướng và Nôi các cầm quyền, đảng đối lập có "lãnh tụ" và các Bộ trưởng trong Nội các "mờ".

    cabinet.jpg

    Sự hiểu biết, năng lực làm việc của các thành viên Nội các cầm quyền và Nội các "mờ" hầu như ngang nhau. Luật cũng quy định Thủ tướng phải chia sẻ thông tin về các vấn đề hệ trọng của quốc gia với lãnh tụ phe đối lập (để ý Tổng thống Mỹ thăm Canada hay Anh Quốc, làm việc với Thủ tướng hôm trước thì hôm sau làm việc với lãnh tụ đối lập) . Hiểu biết, năng lực ngang nhau, đồng thời được chia sẻ thông tin về mọi vấn đề của quốc gia, Nội các đối lập kiểm soát Nội các cầm quyền rất hiệu quả. Không những kiểm soát tham nhũng mà còn kiểm soát và ngăn chận những chính sách, những quyết định sai lầm.

    Một yếu tố quan trọng nữa trong cơ chế đối lập là nó bảo đảm một sự chuyển tiếp chính quyền êm thấm. Vì có một số ghế tưong đối lớn ở Quốc hội, sau một cuộc tuyển cử, đảng cầm quyền thường bị thay thế bỡi đảng đối lập. Hiểu biết và năng lực ngang nhau, đồng thời không xa lạ với những vần đề của quốc gia, chính quyền mới sẽ không gặp khó khăn trong việc tiếp tục quản trị đất nước.

    880dde82-3bf3-4b87-b253-0d4dd3b8faf3_thumbnail_600_600.jpg
    Trong phòng họp Quốc hội (Canada) Thủ tướng và lãnh tụ đối lập ngồi ở vị trí tương đương và đối mặt nhau, các Bộ trưởng cũng có vị trí tương tự.

    Trích :
    " Thể chế đại nghị với Liên minh cầm quyền đặc biệt hấp dẫn với những xã hội bị phân rẽ cao vì các nguyên nhân về chủng tộc, màu da, ý thức hệ vì nó có nhiều khả năng đại diện cho các lợi ích khác nhau trong xã hội. "

    Tôi nghĩ thể chế đại nghị với Liên minh cầm quyền, giảm được độc tài cá nhân, sùng bái cá nhân, so với tổng thống chế.
    Cái khó là thời gian các đảng thương thuyết để tạo ra một liên minh, sau khi bầu cử, đôi khi kéo dài nhiều tháng.

    Khi liên minh, chính sách hứa hẹn của một đảng sẽ phải thay đổi, sao cho phù hợp với thỏa thuận của liên minh. Điều này có thể làm các cử tri của đảng thất vọng, nhưng tránh được phần nào cực đoan, độc tài chuyên chính

    Vấn đề là người dân thích lựa chọn cá nhân nổi bật để bầu, hơn là chú ý đến chương trình, và nhất là chương trình thay đổi qua liên minh, nằm ngoài lá phiếu của họ