Tố giác thân chủ

  • Bởi Admin
    01/06/2017
    4 phản hồi

    Bùi Phú Châu (Nhân viên ngân hàng)

    Nếu anh cho rằng thân chủ của mình có dấu hiệu phạm tội, là luật sư, anh có tố cáo không?

    Đó là câu hỏi cốt lõi cho nhiều cuộc tranh luận tại Quốc hội, trên truyền thông và trong giới luật những ngày này. Rất nhiều lập luận phức tạp, nhưng chỉ xoay quanh một câu hỏi.

    Câu trả lời của tôi, là không. Chắc chắn là không.

    Tôi muốn bắt đầu câu trả lời từ những nguyên tắc lập quốc cơ bản. Nhà nước được nhân dân dựng nên, được nhân dân trao cho phối hợp thực hiện các quyền, trong đó có quyền tư pháp - hiểu đơn giản quyền công tố, là đưa công dân ra xét xử. Cùng với đó, Hiến pháp được Quốc hội, đại diện cho nhân dân soạn ra để giới hạn quyền lực của bộ máy nhà nước, không để nhà nước vượt quá quyền hạn, xâm phạm vào những quyền con người cơ bản của công dân. Và như thế - một hệ thống quan hệ nhà nước - nhân dân ra đời, hoạt động với một mục đích đơn giản nhất: phục vụ nhân dân - những người đã dựng nên nhà nước.

    Nhưng trong thực tế, bất chấp các quyền hiến định, trước quyền lực to lớn của nhà nước, nếu bị nhà nước thực hiện quyền công tố, mỗi cá nhân không hề có cách gì kháng cự. Và vì thế, chế định luật sư ra đời.

    Về bản chất, luật sư phải được đặt ở vị trí đối trọng với quyền công tố của nhà nước. Nếu luật sư đứng cùng phía với nhà nước trong quá trình công tố thì trước hết luật sư không cần phải tồn tại làm gì. Và quan trọng hơn, nguyên tắc lập quốc cơ bản cũng đã bị phá bỏ, tính cân bằng nhà nước - nhân dân không còn.

    Những quan điểm ủng hộ luật sư tố cáo thân chủ đã dựa trên một khái niệm rất cao cả: “Nghĩa vụ công dân”.

    "Công dân” là để chỉ trạng thái tồn tại của cá nhân trong quan hệ nhà nước - nhân dân. "Nghĩa vụ công dân” tức là nghĩa vụ làm đúng vai trò của mình trong quan hệ đó. Đối với công dân nói chung, nghĩa vụ đó có thể là bầu cử - lập ra nhà nước của mình; giám sát nhà nước của mình hoạt động. Còn với tư cách luật sư, làm đúng “nghĩa vụ công dân” là phải luôn luôn giữ mình đúng với vai trò luật sư, luôn luôn ở thế đối trọng với quyền công tố của nhà nước, bảo vệ khách hàng của mình. Nếu đứng về phía nhà nước trong quá trình công tố thì chính luật sư đang vi phạm nghĩa vụ của họ.

    “Thân chủ của tôi vô tội” luôn luôn là kết luận và tâm niệm của một luật sư chân chính. Bởi vì chỉ một khoảnh khắc luật sư buộc tội thân chủ, thì có nghĩa anh đã không còn là luật sư nữa rồi. Nếu luật sư không còn là luật sư, thì nền tư pháp sẽ đi theo một chiều duy nhất: công tố - kết tội - thi hành án.

    Trong thực tế hoạt động, những gì luật sư biết ngoài hồ sơ phần lớn là từ lời khai của thân chủ. Sẽ là ấu trĩ khi chỉ từ những lời khai đó mà bắt luật sư phải tư duy để kết tội thân chủ. Đó là lối tư duy “trọng cung hơn trọng chứng” - thứ đã hơn một lần làm tư pháp của chúng ta mắc sai lầm. Những lời nói, không đủ là cơ sở kết tội bất kỳ ai, đặc biệt là khi trước mặt anh ta là một luật sư - người buộc phải đề cao nguyên tắc suy đoán vô tội. Một nền tư pháp coi trọng bằng chứng, thậm chí sẽ không dễ dàng chấp nhận cả những lời thú tội, chưa bàn đến các suy đoán.

    “An ninh quốc gia” là một khái niệm nữa mà những người tranh luận nhắc tới. Cảm giác nguy hại mà nó tạo ra là rất lớn. Và như thế, thật dễ dàng để buộc tội luật sư nếu: “vì luật sư không tố cáo thân chủ mà an ninh quốc gia bị xâm phạm”.

    Tôi tin rằng, để bảo vệ "an ninh quốc gia", để "an ninh quốc gia" không bao giờ có thể bị xâm phạm, trước hết, nhà nước bao gồm toàn bộ bộ máy của mình phải làm đúng với nguyên tắc lập quốc cơ bản: Phục vụ nhân dân. Lúc đó sẽ không có kẽ hở nào cho những kẻ có ý đồ xấu lợi dụng, và quan trọng hơn, lúc đó chính nhân dân với sức mạnh to lớn của mình, sẽ đứng lên bảo vệ nhà nước.

    Bùi Phú Châu

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    NGT viết:
    Tôi có thắc mắc, là nếu trong quá trình tiếp xúc với thân chủ, luật sư khám phá ra thân chủ có liên quan đến một số sự kiện facts, hoặc nhóm người khác, mà luật sư hoặc người thân có thể xếp vào dạng nạn nhân, dạng nạn nhân đòi bồi thường, dạng nhân chứng, thì lúc đó luật sư có thể rút lui, không làm luật sư cho thân chủ nữa và sau đó có thể chuyển qua dạng nạn nhân đòi bồi thường đối với thân chủ cũ, ... hay không ?

    Bác NGT,

    Trường hợp bác nêu ở trên thuộc về vấn đề mâu thuẫn về quyền lợi (conflict of interests) trong nghề nghiệp. Luật sư (gồm cả công tố, tức là luật sư đại diện cho chính quyền) và các thẩm phán cũng như các bồi thẩm đoàn (jurors) khi gặp trường hợp như vậy thì phải rút lui khỏi vụ việc. Làm như vậy để tránh thiên kiến gây ra do quyền lợi hay tình cảm cá nhân.

    Nhân đây cũng xin nói thêm về vai trò của luật sư. Hồi mới vào học ở Trường Luật Saigon (trước 1975), nhiều sinh viên đã đặt câu hỏi "có phải luật sư là người đổi trắng thay đen, cãi cho những người có tội thành vô tội?"

    Lúc đó, các giáo sư giải thích rằng luật sư là những người đi tìm công lý cho thân chủ của mình, xem xét thật kỹ các yếu tố pháp lý để xem thân chủ mình có thật sự vi phạm luật pháp hay không và nếu có vi phạm thì vi phạm đến mức nào.

    Điều quan trọng là một người chỉ bị kết án theo luật pháp. Do đó, sự kiên luật pháp (legal facts) có thể không phải là sự kiện thực tế (actual facts). Thí dụ, ông A thực sự đã đâm chết một ông B (actual fact). Nếu luât sư của ông A đã thành công trong việc phản bác mọi bằng chừng do công tố đưa ra, hay là công tố đã không đưa ra được bằng cớ theo luật pháp (legal facts) để kết tội thì ông A không thể bị coi là có tội giết người theo luật pháp. Trường hợp này dân gian thường gọi là "đổi trắng thay đen," nhưng đó chính là việc luật sư bảo vệ thân chủ theo luật pháp.

    Bùi Phú Châu viết:
    " Nhà nước được nhân dân dựng nên, được nhân dân trao cho phối hợp thực hiện các quyền, trong đó có quyền tư pháp - hiểu đơn giản quyền công tố, là đưa công dân ra xét xử.

    Đồng ý nhà nước được nhân dân dựng nên, Như còm sĩ Ngự đã phân tích rất rõ và mạch lạc, trong xã hội tự do dân chủ với ba ngành độc lập Hành pháp Tư pháp và Lập pháp. Tư pháp là toà án, là quan toà xét xữ và giãi thích theo đúng luật định đã được phê chuẩn bởi Lập pháp. Công tố là một vị trí độc lập thuộc ngành Hành pháp, mục đích là truy cứu và thi hành hình phạt theo luật ấn đinh.

    Cái sai của tg Bùi Phú Châu là "trong đó có quyền tư pháp - hiểu đơn giản quyền công tố", cái hiểu này của tg nó chỉ đúng trong nhà nước xhcn VN như còm sĩ Ngự đã phân tích.

    Bác Ngự và các bác,

    - Tôi có thắc mắc, là nếu trong quá trình tiếp xúc với thân chủ, luật sư khám phá ra thân chủ có liên quan đến một số sự kiện facts, hoặc nhóm người khác, mà luật sư hoặc người thân có thể xếp vào dạng nạn nhân, dạng nạn nhân đòi bồi thường, dạng nhân chứng, thì lúc đó luật sư có thể rút lui, không làm luật sư cho thân chủ nữa và sau đó có thể chuyển qua dạng nạn nhân đòi bồi thường đối với thân chủ cũ, ... hay không ?

    Dénonciation des faits
    https://fr.wikipedia.org/wiki/D%C3%A9nonciation

    -Luật sư là một luật gia, người cố vấn, đại diện cho thân chủ (người, công ty), bảo vệ quyền lợi, trình bày quan điểm của thân chủ trước tòa. Luật sư tôn trọng bí mật nghề nghiệp của mình.

    -Bùi Phú Châu viết :
    " Nhà nước được nhân dân dựng nên, được nhân dân trao cho phối hợp thực hiện các quyền, trong đó có quyền tư pháp - hiểu đơn giản quyền công tố, là đưa công dân ra xét xử. "

    Theo tôi hiểu, viện công tố có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi chung xã hội trước tòa án và thực thi pháp luật.
    Thông thường, viện công tố có thể truy tố ra tòa án để xét xử các công dân (dân thường, quan chức chính phủ, thẩm phán), các công ty (sản xuất, thương mại, đảng phái, hội đoàn), các cơ quan nhà nước, nếu có các sự kiện vi phạm xảy ra.

    Bùi Phú Châu viết:
    Nếu anh cho rằng thân chủ của mình có dấu hiệu phạm tội, là luật sư, anh có tố cáo không?
    . . .
    Nhà nước được nhân dân dựng nên, được nhân dân trao cho phối hợp thực hiện các quyền, trong đó có quyền tư pháp - hiểu đơn giản quyền công tố, là đưa công dân ra xét xử.

    Có lẽ vì tác giả là nhân viên ngân hàng (tự nhận ở đầu bài viết) nên tác giả giải thích vấn đề luật pháp khá . . . linh tinh. Về câu hỏi mà tác giả đặt ra thì câu trả lời ngắn gọn và dể hiểu nhất là: "tố cáo là công việc của công tố, không phải của luật sư." Đòi luật sư phải tố cáo thân chủ chỉ có ở những kẻ mắc bệnh tâm thần.

    Trong phần giải thích bên dưới, tác giả có vẻ như chưa hiểu rõ chức năng công tố (chính quyền) và xét xử (tư pháp hay toà án). Đó có thể là do tác giả sống ở VN, quen với thực tế "tam quyền nhập một" nên chưa có ý thức rõ ràng về sự phân biệt giữa hành pháp và tư pháp. Bài này đăng ở VNExpress sẽ giúp . . . củng cố sự lầm lẫn giữa tư pháp và hành pháp trong dân chúng.