Đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm vụ án Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh

  • Bởi Admin
    05/05/2017
    0 phản hồi

    Lê Thị Minh Hà

    Dân Luận: Nhân dịp kỷ niệm 3 năm ngày nhà báo Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm) bị bắt cùng với đồng sự Nguyễn Thị Minh Thuý, Dân Luận nhận được bản kiến nghị giám đốc thẩm từ bà Lê Thị Minh Hà, vợ ông Vinh.

    Giám đốc thẩm là thủ tục xem xét lại bản án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có sai phạm nghiêm trọng trong quá trình xử lý vụ án. Cụ thể, bà Lê Thị Minh Hà đề nghị ông Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao và ông Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao kháng nghị bản án phúc thẩm vụ án Anh Ba Sàm lên Hội đồng Thẩm phán, TANDTC.

    Bà Lê Thị Minh Hà cho Dân Luận biết, bà sẽ theo đuổi vụ việc này đến cùng và sẵn sàng gửi kiến nghị này hàng nghìn lần nếu cần thiết. "Tôi sẽ gửi kiến nghị này cho đến khi nào có câu trả lời thoả đáng và chồng tôi được giải oan", bà Hà nói.

    Chúng tôi đăng toàn văn bản kiến nghị đã được bà Hà gửi cho ông Nguyễn Hoà Bình, Chánh án TANDTC.

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
    ---&---

    Hà Nội, ngày 16 tháng 02 năm 2017.

    ĐƠN ĐỀ NGHỊ KHÁNG NGHỊ GIÁM ĐỐC THẨM

    Vụ án: Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thuý

    Kính gửi: Ông Nguyễn Hoà Bình – Chánh án Toà án Nhân dân Tối cao.

    Tôi là Lê Thị Minh Hà, vợ của anh Nguyễn Hữu Vinh, cựu đại tá an ninh, người bị Toà án Nhân dân TP. Hà Nội kết án sơ thẩm 5 năm tù theo Điều 258, Bộ luật Hình sự vào ngày 23/3/2016 và Toà án Cấp cao TP. Hà Nội tuyên y án sơ thẩm ngày 22/9/2016.

    Anh Nguyễn Hữu Vinh, chị Nguyễn Thị Minh Thuý và tôi luôn tôn trọng thẩm quyền xét xử của hệ thống toà án Việt Nam, và đã theo đuổi tiến trình tố tụng ngay từ khi họ bị bắt ngày 5/5/2014.

    Tôi cho rằng, tinh thần thượng tôn pháp luật và sự độc lập của các cơ quan tư pháp là nền tảng căn bản của mọi chính thể và xã hội văn minh. Đảm bảo công lý cho mọi người dân là trách nhiệm thiêng liêng của hệ thống toà án, mà Toà án Nhân dân Tối cao là đại diện cao nhất.

    Với tất cả sự tôn trọng đó, tôi viết đơn này để thuyết phục ông xem xét lại vụ án Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thuý, đồng thời tiến hành thủ tục kháng nghị giám đốc thẩm vụ án này lên Hội đồng Thẩm phán, Toà án Nhân dân Tối cao.

    Tôi hoàn toàn hiểu vụ án này liên quan đến những vấn đề nhạy cảm, nhưng dù nhạy cảm đến đâu, một vụ án vẫn cần phải được tiến hành theo những thủ tục luật định. Việc đó sẽ đảm bảo rằng nếu ông Vinh và bà Thuý có thực sự vi phạm pháp luật thì hành vi của họ cũng được xét xử một cách công bằng.

    Tuy nhiên, những thủ tục tố tụng trong vụ án này đã không được các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử cấp dưới thực thi nghiêm túc và dẫn đến nhiều sai phạm nghiêm trọng. Tôi đính kèm theo đơn này danh sách những vi phạm tố tụng xảy ra trong suốt quá trình tố tụng gần 03 năm qua để ông cân nhắc.

    Thưa ông Chánh án,

    Trong vài năm trở lại đây, các ban ngành tư pháp đã có những nỗ lực đáng ghi nhận trong việc xem xét lại các vụ án có dấu hiệu oan sai. Việc đó thể hiện rõ nét trong việc minh oan và trả tự do cho các ông Nguyễn Thanh Chấn, Huỳnh Văn Nén và Hàn Đức Long.

    Việc minh oan này được Hội đồng Thẩm phán, TAND Tối cao tiến hành, sau đơn kháng nghị của Chánh án TAND Tối cao và Viện trưởng VKSND Tối cao.

    Điểm chung lớn nhất của ba vụ án này là những vi phạm tố tụng, theo đó, quyền của bị can, bị cáo đã không được các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử tôn trọng và thực hiện nghiêm túc.

    Ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thuý cũng phải chịu đựng những vi phạm tố tụng tương tự.

    Tôi mong rằng, ông Chánh án cũng như ngành toà án sẽ tiếp tục xem xét lại các vụ án oan, sai, cải thiện chất lượng xét xử và đảm bảo tính công bằng của hoạt động tư pháp, mà việc cần ưu tiên là ra quyết định kháng nghị giám đốc thẩm vụ án Nguyễn Hữu Vinh và Nguyễn Thị Minh Thuý./.

    NGƯỜI LÀM ĐƠN
    Lê Thị Minh Hà

    * * *

    PHỤ LỤC: CÁC SAI PHẠM TỐ TỤNG TRONG VỤ ÁN NGUYỄN HỮU VINH – NGUYỄN THỊ MINH THUÝ

    1. TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRA

    a) Việc bắt khẩn cấp đối với ông Vinh, bà Thuý không nằm trong các trường hợp bắt khẩn cấp theo Điều 81, Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS).

    b) Việc thu thập chứng cứ điện tử khi bắt ông Vinh hoàn toàn vi phạm điều 5, Thông tư liên tịch số 10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTTTT-VKSNDTC-TANDTC.

    c) Cũng theo Điều 81, BLTTHS, trong trường hợp bắt khẩn cấp, Cơ quan điều tra - Bộ Công an phải báo ngay cho Viện Kiểm sát Nhân dân (VKSND) cùng cấp phê chuẩn, VKSND sau đó phải ra quyết định phê chuẩn hay không phê chuẩn trong vòng 12 tiếng. Tuy nhiên, quyết định phê chuẩn của VKSND trong vụ này đề ngày 14/5, trong khi ngày bắt là 5/5, chậm trễ tới 9 ngày.

    d) Ông Hoàng Kông Tư, lúc đó là Thủ trưởng cơ quan điều tra (A92) là người kí quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lại là người liên quan trong vụ án. Trong 24 bài viết (ghi trong cáo trạng đọc tại phiên toà) để buộc tội ông Vinh, bà Thuý có bài viết “Ông trời con Hoàng Kông Tư và BBC Việt ngữ”. Điều 42, BLTTHS nêu rõ người bị hại không được tiến hành tố tụng.

    e) Hai công ty cung cấp dịch vụ Internet là FPT và VDC đã bí mật theo dõi và lấy trộm dữ liệu Internet của ông Vinh, bà Thuý một cách trái pháp luật. Dữ liệu lấy trộm được Cơ quan điều tra dùng làm căn cứ khởi tố vụ án, như nêu rõ trong các bản kết luận điều tra.

    2. TRONG QUÁ TRÌNH TRUY TỐ

    a) Theo Khoản 2, Điều 121, BLTTHS, toà án hoặc viện kiểm sát chỉ được trả hồ sơ không quá 02 lần, nhưng trong vụ án này, toà án trả lại hồ sơ đến 03 lần.

    b) Lý do TAND TP. Hà Nội trả hồ sơ lần thứ 3 là “xác minh vấn đề đảng tịch”. Điều này vi phạm hoàn toàn nguyên tắc tố tụng “toà án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” và “mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.

    3. TRONG PHIÊN TOÀ SƠ THẨM VÀ PHÚC THẨM

    a) Phiên toà về lý thuyết là công khai (Điều 18, BLTTHS), nhưng thực tế thì rất kín. Ngoại trừ bà Lê Thị Minh Hà (vợ ông Nguyễn Hữu Vinh) và bà Nguyễn Thị Thuyên (mẹ của bà Nguyễn Thị Minh Thuý), không còn người thân nào khác của hai bị cáo được tham dự phiên sơ thẩm. Đến phiên phúc thẩm thì được thêm hai thân nhân nữa. Một số viên chức ngoại giao nước ngoài, bạn bè của ông Vinh, bà Thuý đều phải đứng ngoài.

    b) Luật sư của hai bị cáo không được mang máy tính và điện thoại vào phòng xử án trong phiên sơ thẩm mà không được thông báo trước, trong khi kiểm sát viên lại được sử dụng. Điều này gây khó khăn cho việc tác nghiệp của các luật sư.

    c) Một trong số các luật sư của ông Vinh là Trần Vũ Hải bị chủ toạ phiên toà phúc thẩm đuổi ra ngoài một cách vô căn cứ, khi ông Hải đang cố trình bày phần bào chữa của mình.

    d) Bản bào chữa viết tay của ông Vinh bị thu giữ trước phiên sơ thẩm.

    e) Các chứng cứ được Kiểm sát viên trình bày trước toà đều không có giá trị pháp lý do không được nêu trong kết luận điều tra và cáo trạng, hơn nữa lại được thu thập một cách bất hợp pháp. Tuy vậy, toà vẫn dựa trên những chứng cứ này để kết tội các bị cáo.

    f) Ông Vinh, bà Thuý bị truy tố vì đăng 24 bài viết lên Internet, nhưng khi 4 trong số các tác giả bài viết đó đề nghị được tham dự phiên toà với tư cách nhân chứng thì đều không được toà phúc đáp.

    g) Phía Viện kiểm sát không có bất kỳ phản ứng gì trước những câu hỏi của phía bị cáo và các luật sư. Tính chất tranh tụng của phiên toà là hoàn toàn không có.

    h) Chủ toạ phiên toà sơ thẩm Nguyễn Văn Phổ tỏ ra không hiểu biết gì về công nghệ thông tin trong phiên sơ thẩm, khi mà mọi chứng cứ đều liên quan đến máy vi tính và mạng Internet. Ông cũng liên tục ngắt lời và cản trở các luật sư trình bày luận điểm bào chữa.

    * * *

    SOCIALIST REPUBLIC OF VIETNAM
    Independence – Freedom – Happiness
    ---&---

    Hanoi, February 16, 2017

    PETITION FOR TRIAL OF CASSATION

    In re the matter of: Mr. Nguyen Huu Vinh’s and Ms. Nguyen Thi Minh Thuy

    To: The Honorable Nguyen Hoa Binh, Chief Justice of the Supreme People’s Court of Vietnam

    My name is Le Thi Minh Ha, and I am the wife of Mr. Nguyen Huu Vinh, a former colonel of the security police force, who was convicted under Article 258 of the Penal Code and sentenced to 5 years imprisonment by the People’s Court of Hanoi on March 23, 2016. His conviction and sentence were affirmed on September 22, 2016, by the High Court of Hanoi.

    Mr. Nguyen Huu Vinh, his colleague and co-defendant, Nguyen Thi Minh Thuy, and I have always shown the utmost respect for the judiciary system of Vietnam.

    I have also been assisting Mr. Nguyen and Ms. Nguyen since their arrest on May 5, 2014, as well as during all proceedings of both their trial and their appeal.

    We all believe that the respect for the rule of law - in which the independence of the judiciary system is an integral part - is the basis for a developed governance and civilized society. To ensure that the law shall be properly enforced and that all judicial activities are supervised are the most honorable responsibilities of the court system, in which the Supreme People’s Court of Vietnam remains its highest representative.

    Then with all due respect, I am petitioning you for your consideration to review the files of this matter and to initiate the trial of cassation for Mr. Nguyen Huu Vinh and Ms. Nguyen Thi Minh Thuy with the Judges Council of the Supreme People’s Court.

    I fully understand that the political sensitivity surrounding this matter. But it should not matter how sensitive this case is, it shall proceed with proper procedures. Only by following proper procedures, then Mr. Nguyen Huu Vinh and Ms. Nguyen Thi Minh Thuy would receive a fair trial.

    Nevertheless, the criminal procedures were not correctly followed by the lower courts and the prosecutorial bodies, leading to multiple misconducts in their case. I am attaching with this letter an exhaustive list, detailing the prosecutorial misconducts in this matter during the past 3 years for your consideration.

    The Honorable Chief Justice,

    In recent years, the judicial system have made tremendous efforts in reviewing potential wrongful conviction cases. Such efforts are demonstrated by the decisions to overturn the convictions of Mr. Nguyen Thanh Chan, Huynh Van Nen, and Han Duc Long, after the court declared their innocence.

    The overturning of those convictions was first proceeded by the Judges Council of the Supreme People’s Court, after the Chief Justice of the Supreme People’s Court and the Prosecutor General of the Supreme People’s Procuracy have made the request.

    The most important common issue of the above-mentioned three matters involves prosecutorial misconducts in violations of proper criminal procedures. Accordingly, the rights of the defendants in those cases were not respected by the investigating and prosecuting bodies, and they did not receive a fair trial.

    Mr. Nguyen Huu Vinh and Ms. Nguyen Thi Minh Thuy have also endured the very same violations mentioned above.

    I sincerely hope that your honor and the Supreme People’s Court would continue your efforts in reviewing wrongful convictions in Vietnam to improve the legal system and ensure that the law is properly carried out. In doing so, your office must make it a priority to issue the request for a trial of cassation in the matter of Mr. Nguyen Huu Vinh and Ms. Nguyen Thi Minh Thuy.

    Petitioner
    Le Thi Minh Ha

    * * *

    PROSECUTORIAL MISCONDUCTS AND VIOLATIONS OF CRIMINAL PROCEDURES IN THE MATTER OF MR. NGUYEN HUU VINH AND MS. NGUYEN THI MINH THUY

    1. DURING THE INVESTIGATION

    a) The emergency arrest of Mr. Vinh and Ms. Thuy were not among the situations provided for under Article 81 of the Penal Code.

    b) The collection of electronic evidence during the arrest of Mr. Vinh was in violation of Article 5 of the Intra-Department Circular No.10/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BTTTT-VKSNDTC-TANDTC.

    c) Further, also under Article 81 of the Penal Code, during an emergency arrest, the investigative body of the Public Safety Ministry shall immediately report such arrest to the according level of the Procuracy Office for approval, and the Procuracy Office must issue the decision on whether to approve the arrest within 12 hours. However, in this matter, the approval decision of the Procuracy Office was issued on May 14 where the arrest was made on May 5, a total of 9 day-delay

    d) Mr. Hoang Kong Tu, who was at the time the head of the investigative body – A92 – and he was also the person who authorized the decision to open the investigation and the indictment of the defendants in this matter. And yet, he was also involved as a person of interests in the case. Among the 24 articles which were used as evidence against Mr. Vinh and Ms. Thuy at trial includes the article entitles “The Son of Heaven Hoang Kong Tu and BBC Vietnamese.” Article 42 of the Penal Code provides in details, the alleged victim of a case may not be the person who initiated the criminal proceeding.

    e) Both of the internet providers, FPT and VDC, had secretly monitored and stole Internet data from Mr. Vinh and Ms. Thuy in violations of the law. Such stolen data were later used as the basis for the indictment of the matter as detailed in the investigative reports of the police.

    2. DURING THE PROSECUTION

    a) According to Section 2, Article 121 of the Criminal Procedures Code, the court may only return the case file to the Procuracy Office no more than 2 times. But in this case, the court has returned the file 3 times.

    b) The reason given by the People’s Court of Hanoi for the 3rd return of the case file was to “determine the status of the defendant’s communist party membership.” However, this is a clear violation of the principles that “the Court shall be independent and only conducts according to law” and “all citizens are equal before the law.”

    3. DURING THE TRIAL AND THE APPEAL

    a) The trial and appeal were supposed to be public (Article 18, Penal Code), but in reality, they were both extremely closed hearings. Except for Mrs. Le Thi Minh Ha, who is the wife of Mr. Nguyen Huu Vinh, and Mrs. Nguyen Thi Thuyen, who is the mother of Ms. Nguyen Thi Minh Thuy, no other family members of either defendant were allowed to attend. During the appeal, two more family members were allowed to participate.

    A few diplomats and friends of Mr. Vinh and Ms. Thuy were not allowed inside the courtroom and had to stand outside. Ms. Thuy were not allowed inside the courtroom and had to stand outside.

    b) The defense lawyers were not allowed to bring their laptops and cellphones inside the courtroom without any prior notice, and yet the prosecutors were allowed. This action by the court had interfered with the defense of the defendants.

    c) At the appeal hearing and during his presentation of the defense, one of the defense team, attorney Tran Vu Hai, were kicked out of the courtroom with apparently no reasons.

    d) The personal, handwritten statement of Mr. Vinh’s self-defense was confiscated right before the hearing.

    e) The evidence presented against the defendants at trial and during the appeal by the prosecution were not legally admissible because they were not part of the investigative reports nor named in the complaints. Further, they were collected illegally. The court still convicted the defendants using inadmissible evidence.

    f) Mr. Vinh and Ms. Thuy were found guilty because they have posted 24 articles on the Internet. However, when 4 of the authors of these items applied to be witnesses for the trial and appeal, the court refused such requests.

    g) The prosecution has offered no rebuttal to the defense. The prosecution has failed to prosecute this matter properly.

    h) The chief judge, Nguyen Van Pho, demonstrated that he lacks the necessary knowledge of the Internet and computer sciences involved in this matter. He also constantly interrupted the defense counsels during their presentation.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi