Việt Nam Cộng Hòa, bài học đắt giá

  • Bởi Admin
    10/04/2017
    11 phản hồi

    Bà Đầm Trẻ

    Năm nay là năm thứ 43 kể từ khi chính thể Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ. Kể từ đó cái tên này cũng bị xóa khỏi bản đồ thế giới. Cùng với sự lăng nhục của bên thắng cuộc, Đảng cộng sản Việt Nam. Nhưng cũng phải công nhận một điều rằng, dù bên thắng cuộc có nhục mạ như thế nào, có xúc phạm đến đâu thì những di sản của Việt Nam Cộng Hòa để lại không bao giờ bị lãng quên.

    Những di sản mà cả thế giới thời đó phải nghiêng mình nể phục. Thủ tướng Lý Quang Diệu đã từng ước rằng mong một ngày nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Sài Gòn, đủ thấy nền kinh tế Miền nam Việt Nam phát triển như thế nào. Về thể thao, thì Nhật Bản, đất nước hiện là nền thể thao phát triển bậc nhất châu Á, đặc biệt là bóng đá. Họ đã từng xin được đá giao hữu với Việt Nam để học hỏi kinh nghiệm. Về giáo dục đó là một nền giáo dục vượt bậc khi lấy ba yếu tố để hình thành nên con người, đó là Nhân bản – Khai phóng và Dân tộc. Cho đến nay những con người đã từng học tập dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa vẫn là những người thanh công trên toàn thế giới. Ví dụ như người phát minh ra máy ATM là ông Đỗ Đức Cường. Bà Dương Nguyệt Ánh, nhà khoa học quân sự nổi tiếng, người phát minh ra bom áp nhiệt, làm việc tại bộ quốc phòng Hoa Kỳ. Người phát minh ra xe lăn điều khiển bằng suy nghĩ Aviator Nguyễn Tấn Hùng v. v… Còn rất nhiều cái tên khác đã làm rạng danh người Việt. Về văn hóa, nền văn hóa Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa cũng rất phát triển, cho đến bây giờ vẫn còn đó những ca khúc được sáng tác mang đầy tính nhân văn. Khiến cho bên thắng cuộc cũng phải tỏ ra sợ hãi.

    Chỉ chừng đó thôi cũng đủ thấy sự tiến bộ của Miền Nam Việt Nam dưới thời Việt Nam Cộng Hòa như thế nào. So với hiện tại thì chế độ Xã hội chủ nghĩa thua kém rất nhiều. Tuy nhiên bên cạnh những thành công rực rỡ đó thì vẫn tồn tại những sai lầm. Đó là những sai lầm chí mạng dẫn đến kết cục thất bại sau cùng.

    Không đợi đến ngày 30 tháng 4, mọi người vẫn thường đem sự thất bại của Việt Nam Cộng Hòa ra để mổ xe và phân tích nguyên nhân. Nguyên nhân được đưa ra vẫn là do bị Mỹ bỏ rơi, địa hình thì bị vây hãm bởi khối cộng sản, cụ thể là Lào, Miên và họ lấy chiến tranh trên bán đảo Triều Tiên ra làm ví dụ.

    Trên thực tế. Những nguyên nhân đó không hẳn là sai, nhưng nếu nhìn nhận sâu xa hơn một chút, chúng ta sẽ thấy đó chỉ là những yếu tố nhỏ dẫn đến sự sụp đổ của VNCH.

    Lịch sử của VNCH được chia thành hai giai đoạn. Đệ nhất cộng hòa và Đệ nhị cộng hòa. Cả 2 thời kì đều đã để lại những dấu ấn riêng cả về sự thành công lẫn thất bại. Sự sụp đổ sau cùng vào năm 1975 không phải sai lầm của riêng ai mà nó là hệ quả của hàng loạt sai lầm của hai vị tổng thống đại diện cho hai nền cộng hòa trong 20 năm tồn tại.

    Về nền Đệ nhất cộng hòa. Cố tổng thống Ngô Đình Diệm đã làm rất tốt trong công cuộc tái thiết nền kinh tế do Pháp kiểm soát gần 100 năm. Các nguồn cung cấp khoáng sản tập trung chủ yếu ở miền bắc, khoa học kỹ thuật nghèo nàn do Pháp đã rút toàn bộ kỹ sư về nước. Ngoài ra các lĩnh vực như: cơ sở hạ tầng – giao thông vận tải, văn hóa, giáo dục v. v… cũng phát triển vượt bậc. Đó cũng chính là thời kỳ vàng son từ 1955 đến 1963 tổng sản phẩm nội địa (GDP) năm 1956 là 11.283, 1958 là 12.714, 1960 là 15.274 và 1963 là 16.422 tính theo đơn vị triệu USD. Những năm về sau thì dần dần giảm xuống. Nhìn chung TT Ngô Đình Diệm đã đặt được nền móng cho sự độc lập kinh tế của miền nam Việt Nam, mà từ đó vẫn có thể đứng vững nếu không có sự viện trợ từ phía Hoa Kỳ. Về quân sự. Ông đã thành công khi triệt phá tối đa chiến lược “chiến tranh nhân dân” của Cộng sản bắc Việt bằng “ấp chiến lược”. Tuy vậy do việc quản lý không triệt để khiến cho nạn tham nhũng hoành hành, các viên chức địa phương ăn bớt phần tiền từ chính phủ rót xuống, bắt dân góp công, góp của để xây dựng ấp, gây bất mãn và dễ làm tay trong cho cộng sản. Cộng thêm việc công tác dân vận của ông chưa được tốt khiến cho người dân dễ bị kích động bởi bộ máy tuyên truyền của cộng sản cho nên ngay sau khi ông bị ám sát, “ấp chiến lược” cũng bị phá sản. Yếu kém về công tác dân vận cũng là một điểm yếu chết người của ông, trong khi ông lại muốn xấy dựng một thể chế chính trị tập trung quyền lực vào tay chính phủ, cụ thể là vào chính gia đình ông. Điều này không những gây bất mãn trong nhân dân, mà còn tạo ra sự mâu thuẫn với các quan chức cũng như các tướng lãnh. Thêm nữa, ông không có kinh nghiệm về quân sự, đặc biệt là kinh nghiệm về kiểm soát quân đội. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Dưới áp lực của phe cộng sản thế giới, cần phải đưa ra chiến lược chống cộng cụ thể trên chiến trường, nhưng ông vốn là một nho sĩ, lại có phần độc đoán cho nên mọi quyết định đều bỏ qua sự góp ý của các tướng. Xin nhắc lại lúc này đang trong thời kỳ chiến tranh lạnh, hai phe đối đầu rất gay gắt cho nên khó có thể đàm phán hòa bình như đông Đức và tây Đức được. Mỗi thời đại có một đặc điểm riêng biệt, nếu như phía miền nam đồng lòng thống nhất trong hòa bình thì liệu phía miền bắc, dưới sự kiểm soát của Trung Quốc và Liên Xô thì liệu có được hòa bình công chính? Hay là phía cộng sản phải có một chút lợi ích nào?! Từ đó có thể thấy sự bất mãn của các tướng lãnh ngày một tăng lên là điều dễ hiểu. Cùng với đó là sự tác động của Hoa Kỳ, trong khi phía tổng thống Ngô Đình Diệm quá cứng rắn trong việc đưa quân đội Mỹ vào miền nam, thì từ đó Hoa Kỳ xem Ngô Đình Diệm là cái gai trong mắt và sau đó thì như chúng ta đã biết.

    Đệ nhất cộng hòa sụp đổ là hệ quả của những sai lầm vô cùng tai hại. Điều đó cho thấy để quản lý một quốc gia trong thời buổi căng thẳng và bất ổn leo thang là một việc không hề dễ. Cần có sự tỉnh táo, khôn ngoan và tầm nhìn xa để lèo lái một cách khéo léo.

    Tưởng chừng như sự sụp đổ của Đệ nhất cộng hòa sẽ là bài học đắt giá của nền Đệ nhị cộng hòa, nhưng thực sự thì người kế nhiệm, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lại bỏ đi những cái hay của Ngô Đình Diệm. Chính sách ngoại giao mềm mỏng hơn bằng việc bắt tay liên minh quân sự với Hoa Kỳ. Quân đội được xây dựng hùng hậu thuộc hàng bậc nhất. Nhưng ông Thiệu lại không xây dựng một nền kinh tế tự chủ như ông Diệm đã từng làm. Miền nam dưới thời ông Thiệu, kinh tế chủ yếu là nhờ vào sự viện trợ của Hoa Kỳ, dù cũng có tự chủ ở một số lĩnh vực, nhưng từng đó là chưa đủ để gồng gánh cả một miền nam đang dốc sức vào cuộc chiến. Vũ khí quân sự cũng được trang bị từ đầu đến cuối nhờ sự viện trợ của Hoa Kỳ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc giao số phận đất nước cho Hoa Kỳ định đoạt. Và sau năm 1973, Hoa Kỳ rút quân và cắt viện trợ VNCH khủng hoảng và thua cuộc. Nhưng có lẽ điều khiến VNCH thua cuộc đau đớn nhất là vì ông Thiệu đã quá chủ quan khi coi thường sức mạnh của quân đội cộng sản, mặt khác lại quá tin tưởng vào những gì Hoa Kỳ đã ký kết trong hiệp định. Ông chủ quan là vì trước đây quân cộng sản đã thua tan tác quá nhiều trước QLVNCH, nhưng thực tại phủ phàng: - “Không quan trọng bạn đã thắng tôi bao nhiêu trận, điều quan trọng tôi là người chiến thắng cuối cùng”. Chủ quan vì nghĩ rằng sau cuộc ném bom miền bắc của Hoa Kỳ thì cộng sản không thể nào tái thiết được quân đội, mà quên mất rằng sau họ vẫn có Liên Xô, Trung Quốc hậu thuẫn. Sự chủ quan chưa dừng lại ở đó khi ông ra lệnh bỏ Vùng chiến thuật I, khi quân cộng sản tiến vào miền nam. Trong khi đó vũ khí đạn dược vẫn còn 130 ngàn tấn, cùng với khí tài quân sự (sau khi bị công sản tịch thu), trị giá trên 5 tỷ USD. Như vậy không phải là do phía VNCH hết đạn mà là do ông Thiệu ra lệnh rút. Bỏ vùng chiến thuật I coi như của ngõ tiến lên Tây Nguyên mở toang, mà Tây Nguyên là vị trí chiến lược của cả vùng Đông Dương chứ không chỉ riêng Việt Nam. Ngày xưa khi vua Champa là Chế Mân cắt Châu Ô và Châu Lý cho nhà Trần (nay thuộc Thừa Thiên Huế - Đà Nẵng). Cũng từ đó Vương quốc Champa suy yếu và lụi tàn. Bài học từ đời xa xưa nay tái hiện một cách rõ ràng nhưng lại diễn biến một cách chống vánh. Chỉ sau 1 tháng quân cộng sản đã tiến thẳng vào Dinh Độc Lập. Như vậy chúng ta có thể thấy rõ nguyễn nhân chủ quan đó là do chỉ huy ra lệnh cho quân đội không đánh, dẫn đến sụp đổ. Nguyễn Văn Thiệu tuy là một tướng lãnh cấp cao, có kinh nghiệm trận mạc nhưng có lẽ đã quá chú tâm vào việc đấu đá nội bộ mà xao lãng việc rèn luyện binh thư, dẫn đến sự bại vong. Suy cho cùng ông Thiệu đã thua ngay từ lúc lên nắm quyền, khi trao số phận miền nam cho người Mỹ. Nếu cho rằng “vì người Mỹ bỏ rơi miền nam nên miền nam mới thua”. Cũng được, chẳng sao. Nhưng vì sao chúng ta lại bị họ bỏ rơi trong khi chúng ta có thể không cần họ? Nước Mỹ thực chất cũng chỉ là một quốc gia, không phải là đấng cứu thế. Việc họ làm trước sau gì cũng chỉ vì lợi ích quốc gia của họ mà thôi. Trong tình cảnh lịch sử lúc bấy giờ thì việc nhận viện trợ quân sự của Mỹ cũng là việc nên làm. Nhưng nếu miền nam dưới thời ông Thiệu vẫn tự lập về kinh tế, tự lực về quân sự bằng cách trao đổi kỹ thuật với Mỹ, để rồi có thể từ đó phát triển công nghiệp quân sự thì mọi việc đã khác. Đừng trách người Mỹ vì họ đã bỏ rơi miền nam, hãy tự trách mình vì đã bỏ rơi chính mình. Ông Ngô Đình Diệm biết tự lực để xây dựng nền tảng tự lực, tự cường nhưng lại không thuận theo thời thế. Ông Nguyễn Văn Thiệu thì biết thuân theo thời thế những không biết tự lực, tự cường, cho nên cả hai nền cộng hòa sụp đổ là điều khó tránh khỏi.

    Đó là những sai lầm từ những người đi trước để chúng ta nhìn vào mà không bước theo vết xe đổ của họ. Chúng ta có thể nhìn vào cách làm của Hàn Quốc, đến bây giờ cuộc chiến giữa họ với Bắc Hàn vẫn chưa hoàn toàn chấp dứt, nhưng nếu không còn được sự trợ giúp từ phía Mỹ thì có lẽ họ vẫn đứng vững trước sự tấn công của Bắc Hàn dù được hậu thuẫn bởi Trung Quốc. Bởi vì họ đã trải qua thời kỳ rất dài để xây dựng trở thành một quốc gia hùng mạnh. Cuộc chiến tranh Liên Triều nổ ra, họ biết một mình họ không thể chống lại khối cộng sản hùng mạnh và họ đã chấp nhận sự can thiệp của người Mỹ. Nhưng họ biết rằng người Mỹ làm gì cũng vì lợi ích cho quốc gia. Vì vậy họ đã phải tự phát triển để trở thành đối tác kinh tế lớn của cả thế giới. Để làm gì? Để một ngày nào đó người Mỹ vì lợi ích quốc gia mà không thể sát cánh bên họ được nữa thì họ vẫn đứng vững. “Kỳ tích song Hàn” là một minh chứng rõ ràng cho ý chí tự lực tự cường của họ. Bây giờ họ là một nền kinh tế lớn, cả về thương mại lẫn quân sự (Năm 2016 Hàn Quốc là nước xuất khẩu vũ khí số một châu Á với 1. 3 tỷ USD). Với tiềm lực như vậy người Mỹ có muốn bỏ rơi họ cũng khó.

    Còn về Việt Nam Cộng Hòa? Trước khi chúng ta là nạn nhân của người Mỹ thì chúng ta đã là nạn nhân của chính chúng ta. Việc đưa ra những sai lầm không phải là để chê trách hay hạ nhục chính thể Việt Nam Cộng Hòa, mà là để chúng ta có thể nhìn vào những sai lầm đó để không phải dẫm vào vết xe đổ của những người đi trước. Đó là bài học đắt giá cho thế hệ sau này trong việc lèo lái đất nước.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    11 phản hồi

    Đảng ta còn chơi chiến tranh du kích. Hic, thía chiến tranh du kích nà cái con ri? Là đánh lén, đánh úp. CBN. chiên chơi trò đánh lén, đánh úp, xé cam kết, hiệp định, hay ho rì mà vênh váo nhể.

    So sánh CT Nam-Bắc Hàn với Nam-Bắc Việt chứng tỏ tác giả cũng như những người bình luận mới chỉ nêu lên một phần lí do tại sao VNCH thất bại. Theo tôi nếu VN là chỉ một bán đảo như Triều Tiên thì VNDCCH sẽ khó có thể thắng được VNCH dù Mĩ không còn viện trợ cho VNCH nữa. Sở dĩ VNDCCH thắng chủ yếu là do họ biết rõ và thực sự đã khai thác được rất hiệu quả con đường thâm nhập VN qua Lào và Căm-pu-chia. Dù LX, TQ và khối XHCN có thể viện trợ bao nhiêu vũ khí đi chăng nữa, nếu không thể chuyển vũ khí và bộ đội vào miền Nam thì vũ khí đó cũng trở nên vô dụng khi LX, TQ và khối XHCN không trực tiếp tham gia cuộc chiến, không trực tiếp ném bom xuống miền Nam VN. Mĩ có thể rải chất Dioxin phá rừng tại VN nhưng họ lại không thể làm vậy trên đất Lào và Cam-pu-chia. Vậy nên khi đường Hồ Chí Minh trở nên nguy hiểm hơn cho việc chuyển quân và vũ khí, VNDCCH đã dùng các con đường trên đất Lào và Cam-pu-chia.
    Ngoài ra, việc Mĩ trực tiếp đưa 500,000 quân vào VN (tài liệu VNCH trưng bày tại dinh Độc Lập) đã là một lí do quan trọng để VNDCCH có thể tuyên truyền hiệu quả là Mĩ đang xâm lược Việt Nam, người dân VNDCCH cần phải chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để 'giải phóng miền Nam'. Với ý chí sắt đá này thì VNCH khó có thể chống đỡ lại sự tấn công từ VNDCCH với sự giúp đỡ của rất nhiều người dân VNCH.

    Tác giả viết:"Họ đă bị bao vây tứ phía tại Busan nhưng với tinh thần chiến đấu như vậy Liên hợp quốc đă phải vào cuộc. Điều đó cho thấy chí chiến đấu quan trọng đến mức nào nếu muốn có sự can thiệp của quốc tế."
    Thực ra, chiến tranh Triều Tiên là hệ quả của chiến tranh lạnh và là cuộc chiến tranh nóng đầu tiên của chiến tranh lạnh. Liên hợp quốc tham dự vào chiến tranh này chẳng qua là sự may mắn của Nam Hàn vì Nga vắng mặt trong buổi biểu quyết. Nếu Nga có mặt và dùng quyền phủ quyết thì liệu có nổi 21 nước tham dự cuộc chiến dưới lá cờ của Liên hợp quốc hay không?
    Tác giả viết:"Trong khi tổng viện trợ của khối cộng sản cho Bắc Việt năm 1974 là 657,4 triệu USD và 1975 là 240,9 triệu USD cả hai năm cộng lại cũng chưa bằng miền Nam năm 1975 khi vẫn còn 5 tỷ USD về đạn dược và khí tài quân sự"
    Cứ giả dụ dữ liệu tác giả đưa ra là đúng.Tôi biết được trong cuộc Việt Nam hóa chiến tranh, Mỹ đã để lại cho miền nam khá nhiều phương tiện chiến tranh sau khi họ rút theo đúng hiệp định Ba Lê đã ký.
    Một mặt, một số khí tài của Mỹ để lại chỉ có hiệu quả với tổ chức chiến tranh hậu cần kiểu Mỹ. Ví dụ, pháo 175 ly chỉ có hiệu quả khi được bảo về đầy đủ và việc bảo vệ cho pháo đội hoạt động an toàn rất tốn kém...Mặt khác, VNCH phải rải quân trên khắp lãnh thổ đề phòng thủ. Phương tiện bị xé nhỏ ra nhiều nơi,mỗi chỗ một ít, trên chiến trường vào những ngày cuối, đạn dược, xăng dầu hỗ trợ có nơi phải theo chỉ tiêu giới hạn thì sức mạnh suy giảm là điều tất yếu. Trong khi đó, VNDCCH+MTGPMN được lựa chọn chiến trường để tập trung tấn công.
    Qua tháng năm chiến tranh sau đó, phương tiện chiến tranh vẫn còn nhưng đạn dược, xăng dầu, bảo trì...thì teo tóp theo viện trợ cho VNCH và cuối cùng thì chấm dứt hẳn.  
    Trước khi rút, Mỹ có hứa với VNCH là Mỹ sẽ quay trở lại nếu VNDCCH không tuân thủ hiệp định.Nhưng họ quay lại đường khác, con đường giao thương hòa hoãn với ảo tưởng thay đổi được nước Tàu về với thế giới tự do dân chủ và bỏ hẳn VNCH.
    Cũng may mắn là VNCH sụp đổ nhanh chóng. Chẳng có vinh quang gì khi anh em trong một nhà tận lực giết nhau cho dù miền nam ở trong tư thế buộc phải tự vệ .

    Bà Đầm Trẻ viết:
    Nam Hàn đã bị dồn vào thế chân tường nhưng chống trả quyết liệt đến tấc đất cuối cùng khi họ chỉ còn trụ lại. Họ đã bị bao vây tứ phía tại Busan nhưng với tinh thần chiến đấu như vậy Liên hợp quốc đã phải vào cuộc.

    "Nam Hàn chống trả quyết liệt" ===> nhưng chỉ được hai tháng ("After the first two months of war, South Korean forces were on the point of defeat"). Ngoài ra Nam Hàn vẫn nhận đầy đủ chi viện từ Mỹ và được quân Đồng Minh UN yễm trợ. Trong khi Nam Việt bị Mỹ cúp chi viện hoàn toàn (không xăng dầu, không đạn dược) ngay từ đầu năm 1973 mà vẫn "đơn thân độc mã" (mã lại hết cỏ!) chiến đấu đến năm 1975 chưa kể phải chiến đấu với Trung Cộng đầu năm 1974.

    Bà Đầm Trẻ viết:
    Trước khi diễn ra chiến tranh liên triều Mỹ và đồng minh đã rút hoàn toàn khỏi nam Hàn.

    Điều nầy không đúng! Chiến tranh Triều Tiên (Korean War) 1950 - 1953. Đồng minh đã có mặt ở Nam Hàn năm 1950:

    The conflict escalated into open warfare when North Korean forces—supported by the Soviet Union and China—moved into the south on 25 June 1950.[41] On that day, the United Nations Security Council recognized this North Korean act as invasion and called for an immediate ceasefire.[42] On 27 June, the Security Council adopted S/RES/83: Complaint of aggression upon the Republic of Korea and decided the formation and dispatch of the UN Forces in Kiorea. Twenty-one countries of the United Nations eventually contributed to the UN force, with the United States providing 88% of the UN's military personnel.

    After the first two months of war, South Korean forces were on the point of defeat, forced back to the Pusan Perimeter. In September 1950, an amphibious UN counter-offensive was launched at Inchon, and cut off many North Korean troops."

    https://en.m.wikipedia.org/wiki/Korean_War

    Bà Đầm Trẻ viết:
    Việc nói 2 bên hoàn toàn không có chiến sự là hơi chủ quan. Bởi sau 1953 phía bắc Hàn vẫn quấy nhiễu biên giới cộng với việc gián điệp hoành hành ở miền nam Triều Tiên (khủng bố, ám sát tổng thống Park Chung Hee).

    Nên phân biệt "quấy nhiễu" với chiến tranh. Sau 1953 Bắc Hàn quấy nhiễu Nam Hàn nhưng không có chiến tranh cho đến tận ngày nay. Trong khi đó Bắc Việt tiến hành chiến tranh (để xâm chiếm) Nam Việt từ năm 1957:

    1957

    October 1957 - Viet Minh guerrillas begin a widespread campaign of terror in South Vietnam including bombings and assassinations. By year's end, over 400 South Vietnamese officials are killed.

    1958

    June 1958 - A coordinated command structure is formed by Communists in the Mekong Delta where 37 armed companies are being organized.

    1959

    March 1959 - The armed revolution begins as Ho Chi Minh declares a People's War to unite all of Vietnam under his leadership. His Politburo now orders a changeover to an all-out military struggle. Thus begins the Second Indochina War.

    May 1959 - North Vietnamese establish the Central Office of South Vietnam (COSVN) to oversee the coming war in the South. Construction of the Ho Chi Minh trail now begins.

    The trail will eventually expand into a 1500 mile-long network of jungle and mountain passes extending from North Vietnam's coast along Vietnam's western border through Laos, parts of Cambodia, funneling a constant stream of soldiers and supplies into the highlands of South Vietnam. In 1959, it takes six months to make the journey, by 1968 it will take only six weeks due to road improvements by North Vietnamese laborers, many of whom are women. In the 1970s a parallel fuel pipeline will be added.

    July 1959 - 4000 Viet Minh guerrillas, originally born in the South, are sent from North Vietnam to infiltrate South Vietnam.

    http://www.historyplace.com/unitedstates/vietnam/index-1945.html

    Timeline: North Korea – key events since the end of the Korean War

    https://www.theguardian.com/world/2010/nov/23/timeline-north-korea-south-korea

    Bà đầm trẻ viết:
    Điều đó cho thấy ý chí chiến đấu quan trọng đến mức nào nếu muốn có sự can thiệp của quốc tế.

    Điều này đúng. Hiệp định Paris là một thất bại cho VNDCCH, nhưng VNDCCH đã cương quyết cưỡng chiếm miền Nam nên đã xé Hiệp Định này, vứt vào thùng rác, dồn tất cả lực lượng để Nam tiến và Tg- đại diện là Mỹ, vì một chiến lược, chiến thuật khác chống lại phe Cộng sản, nên đã phủi tay, sau khi ký Hiệp định Paris.

    Nguyễn Jung

    Tôi (em) rất tâm đắc với 2 bình luận của NJ và TQ.
    Đầu tiên tôi xin nói về ý của NJ.
    Bắc Hàn và Nam Hàn thời kỳ chiến tranh liên triều cũng là các quân cờ của 2 khối tư bản và cộng sản. Không thể nói Bắc Hàn không nhận viện trợ tối đa được. Trong khi thời điểm đó Stalin không đứng không ngồi vì nếu mất nam Hàn cũng như là mất quyền kiểm soát châu Á Thái Bình Dương. Ông đã cho tăng viên trang bị đến tận kẽ răng cho binh lính Bắc Hàn và ra lệnh cho Trung Quốc gửi "Chí Nguyện Quân" gần 300.000 lính. Nam Hàn đã bị dồn vào thế chân tường nhưng chống trả quyết liệt đến tấc đất cuối cùng khi họ chỉ còn trụ lại. Họ đã bị bao vây tứ phía tại Busan nhưng với tinh thần chiến đấu như vậy Liên hợp quốc đã phải vào cuộc. Điều đó cho thấy ý chí chiến đấu quan trọng đến mức nào nếu muốn có sự can thiệp của quốc tế. Còn miền Nam VN thì khác. Trong khi tổng viện trợ của khối cộng sản cho Bắc Việt năm 1974 là 657,4 triệu USD và 1975 là 240,9 triệu USD cả hai năm cộng lại cũng chưa bằng miền Nam năm 1975 khi vẫn còn 5 tỷ USD về đạn dược và khí tài quân sự. Chưa kể nắm chắc địa thế. Lúc bấy giờ chiến lược quân sự vẫn dựa vào chiến lược hành quân và quân số. Cho nên việc nắm chắc địa thế chiến lược vẫn rất là quan trọng. Miền Nam ngoài việc sở hữu vũ khí hiện đại ra còn nắm được tây nguyên. Nắm được tây nguyên cũng là nắm được đông dương. Bởi vì nó có thể kiểm soát toàn bộ tình hình. Đó là lý do tại sao bắc Việt trước 75 thất bại sau những cuộc phản công của VNCH. Nhưng năm 1975 TT Thiệu đã quyết định bỏ vùng chiến thuật 1 coi như đã mất lợi thế rất nhiều. Trong khi mất miền Trung tây nguyên là điều xảy ra lúc TT Thiệu vẫn tại vị. Trong việc dùng binh, việc nắm trong tay địa thế chiến lược tương đương việc 1 lính có thể chống lại được 100 lính. Địa thế của tây nguyên dễ thủ khó công. Ngoài ra có thể khống chế được tất cả mọi con đường tiếp viện cho VC (MTGPMNVN). Cho nên không thể nói việc để cho quân cộng sản tràn vào là điều khiên cưỡng được. Bỏ TT Huế và Đà Nẵng việc việc làm khinh xuất.
    Còn về phần bình luận của TQ tôi không bác bỏ. Nhưng trong bài viết tôi không phủ nhận rằng tình hình của 2 nước khác nhau, và tôi cũng không so sánh tình hình của 2 nước. Tôi chỉ so sánh cách làm của 2 nước. Đầu tiên là việc chiến sư. Việc nói 2 bên hoàn toàn không có chiến sự là hơi chủ quan. Bởi sau 1953 phía bắc Hàn vẫn quấy nhiễu biên giới cộng với việc gián điệp hoành hành ở miền nam Triều Tiên (khủng bố, ám sát tổng thống Park Chung Hee). Trước khi diễn ra chiến tranh liên triều Mỹ và đồng minh đã rút hoàn toàn khỏi nam Hàn. Nhưng họ vẫn kiên quyết chống trả đến hơi thở cuối cùng buôc Mỹ phải quay lại. Đó là điều khác biệt. Đến khi hiệp định đình chiến, bắc Hàn vẫn tiếp tục khủng bố nam Hàn ( với hàng loạt chiến sự diễn ra từ 1968 đến 2010) như vậy không thể không có chiến sự nào trên bán đảo Triều tiên sau 1953.

    Bà Đầm Trẻ viết:
    Nhưng nếu miền nam dưới thời ông Thiệu vẫn tự lập về kinh tế, tự lực về quân sự bằng cách trao đổi kỹ thuật với Mỹ, để rồi có thể từ đó phát triển công nghiệp quân sự thì mọi việc đã khác

    Hỏi Bà Đầm Trẻ, "tiềm lực kinh tế" & "phát triển kinh tế" của cộng sản bắc việt ở phía bắc vỹ tuyến 17, trong thời kỳ ông NVT làm Tổng thống VNCH, là thế nào, có hơn VNCH không?

    Câu trả lời rõ ràng là KHÔNG!

    Suốt 21 năm, kể từ 1954, kể từ 1-1-1955 [khi Hồ chí Minh sánh vai cố vấn Trung quốc vỹ đại tiến vào Hà Nội diễn lại tấn tuồng Lê Chiêu Thống & Tôn Sĩ Nghị tại Thăng Long 1788, tiếp nối truyền thống Tôn Sĩ Nghị (vốn đã bị Hoàng ĐẾ Quang Trung đánh bại từ 1789) cố vấn Trung cộng chống lưng đỡ đầu Hồ chí Minh/Lê CHiêu Thống thế kỷ 20, ly khai Quốc Gia Việt Nam dựng nên nhà nước tổ quốc xã hội chủ nghĩa dân chủ cộng hòa bìm bịp sinh ra từ hiệp định giơ ne vơ 1954 ô nhục], cho đến 1975, thì "tiềm lực kinh tế & phát triển kinh tế" của nhà nước tổ quốc xã hội chủ nghĩa dân chủ cộng hòa bìm bịp trên vùng lãnh thổ chiếm đoạt của Quốc Gia Việt Nam, ở phía bắc vỹ tuyến 17, luôn luôn là thua xa, thua xa, thua xa VNCH,

    Các chuyên gia làm nghèo nước, làm đói dân, aka "kinh thế gia xã hội chủ nghĩa" ở tổ quốc xã họi chủ nghĩa dân chủ cộng hòa bìm bịp đã liên tục đẩy nhân dân miền bắc xuống hố sâu của đói nghèo nhục nhằn, sống theo bản năng súc vật,

    Nói cách khác, tiềm lực kinh tế của cộng sản bắc việt là số 0, chi phí & ngân sách của cộng sản bắc việt dành cho cuộc chiến tranh xâm lăng VNCH, là số 0

    thế nhưng cộng sản bắc việt vẫn là "bên thắng cuộc"!

    *****

    Điều nói trên cho thấy VNCH "giàu" hay "nghèo", "tiềm lực kinh tế" & "sự phát triển" của VNCH nói chung, hay nói riêng dưới thời TT Nguyễn văn THiệu, nếu (theo thống kê của Bà Đầm Trẻ) có kém đi, hay lớn hơn, so với thời TT NDD, hoàn toàn không phải là yếu tố dẫn đến sự thua cuộc của VNCH, như Bà Đầm Trẻ nhận định.

    Đôi khi nêu lên sự thịnh vượng của VNCH, hơn hẳn cộng sản VNDCCH, chỉ là để cho thấy sự hơn hẳn của VNCH, của thể chế VNCH so với thể chế cộng sản VNDCCH, thể chế cờ tổ quốc nằm dưới đít cờ búa liềm, thể chế độc tài toàn trị tàn ác tay sai giặc tàu.

    Còn, để đối phó với cuộc chiến tranh của khối cộng sản, ủy nhiệm cho cộng sản bắc việt thực hiện, xâm lăng VNCH, phục vụ giặc tàu đem lá cờ búa liềm tội ác phủ lên VNCH, kéo dài & mở rộng địa bàn bắc thuộc xuống dưới vỹ tuyến 17, thì "tiềm lực kinh tế" của VNCH là chẳng có nghĩa gì,

    rõ ràng, tiềm lực kinh tế của VNCH chẳng có nghĩa gì so với tiềm lực kinh tế của Liên xô + Trung cộng + Đông Đức + các quốc gia cộng sản Đông Âu, là tiềm lực kinh tế chống lưng đỡ đầu, chi trả cho VNDCCH & Hồ chí Minh & Lê Duẩn & Võ NGuyên Giáp & Phạm Văn Đồng & các cháu ngoan bác Hồ Chí Minh/Lê Chiêu Thống thế kỷ 20, thợ bóp cò súng AK, xâm nhập VNCH, lùng sục thảm sát hàng triệu, hàng triệu người Nam, tiêu diệt nền dân chủ tự do của Việt Nam, cắm lá cờ búa liềm tội ác lên VNCH, mở ra một địa bàn cho các đảng viên cộng sản chân chính & trí thức xã hội chủ nghĩa từ địa bàn bắc thuộc ở phía bắc vỹ tuyến 17 tiến vào, tiến hành tội ác xây dựng chủ nghĩa xã hôi áp đặt thể chế cờ đỏ chuyên chính vô sản phi nhân phản dân tộc lên người Nam

    Như độc giả MỞ MIỆNG đã nói, cộng sản bắc việt tiến hành cuộc chiến tranh mà không phải trả một xu phí tổn [xác lính là những nông dân đói, công nhân nghèo, nhằm nhò gì tới hồ chí minh & lê duẩn & võ ngyeen giáp và đồng bọn thái tử đỏ, võ nguyên giáp từng thản nhiên trả lời "KHÔNG", từng thản nhiên tuyên bố "họ phải chết như thế" trước câu hỏi có áy náy gì không về những cái chết "biển người" do y gây nên]

    Chúng hung hăng với đủ thứ nghị quyết chiến tranh xâm lăng VNCH mà không một chút, không một giây băn khoăn với câu hỏi "tiền đâu", một phần là do đã có cái tiềm lực kinh tế khổng lồ nói trên, một phần là do đã có cái "credit card" Hoàng Sa 1958 do Tàu cộng cấp cho, chúng có thể cà thẻ không giới hạn, tiến hành chiến tranh không giới hạn hòng thoả mãn tham vọng quyền lực cộng sản bênh hoạn, có gì thì đất nước VN chịu, nhân dân VN chịu,

    Mặt khác,

    Viết hùng hùng hổ hổ, tầm bậy tầm bạ nhiều chỗ. ATM đek phải do ông Cường nghĩ ra, chém gió quá bậy. Sự thật là trong suốt cuộc chiến 20 năm quân đội VNCH luôn được trang bị vũ khí lạc hậu, yếu kém, thua xa vũ khí của việt cộng về số lượng lẫn tính năng, chỉ hơn được việt cộng ở mỗi khoản yểm trợ phi pháo, hải pháo của Mỹ. Mạnh đek đâu mà mạnh, số liệu dẫn chứng hiện có đầy ra đấy !

    Bà Đầm Trẻ viết:
    Về nền Đệ nhất cộng hòa. Cố tổng thống Ngô Đình Diệm đã làm rất tốt trong công cuộc tái thiết nền kinh tế do Pháp kiểm soát gần 100 năm. Các nguồn cung cấp khoáng sản tập trung chủ yếu ở miền bắc, khoa học kỹ thuật nghèo nàn do Pháp đã rút toàn bộ kỹ sư về nước. Ngoài ra các lĩnh vực như: cơ sở hạ tầng – giao thông vận tải, văn hóa, giáo dục v. v… cũng phát triển vượt bậc. Đó cũng chính là thời kỳ vàng son từ 1955 đến 1963 tổng sản phẩm nội địa (GDP) năm 1956 là 11.283, 1958 là 12.714, 1960 là 15.274 và 1963 là 16.422 tính theo đơn vị triệu USD. Những năm về sau thì dần dần giảm xuống.

    Sự phát triển kinh tế VN dần dần giảm xuống từ 1963 là do chiến tranh gia tăng, nhất là sau khi Hoa Kỳ đổ quân vào Nam VN. Thời đó, kinh tế VN, cũng như nhiều nước ở Đông Nam Á, chủ yếu là kinh tế nông nghiệp. Khi chiến tranh leo thang, nông dân và điền chủ phải bỏ ruộng vườn tản cư lên thành phố. Thế là từ một nước xuất cảng gạo, dân miền Nam phải ăn gạo Mỹ hạt dài, hạt tròn do Hoa Kỳ viện trợ.

    Bà Đầm Trẻ viết:
    Ông đã thành công khi triệt phá tối đa chiến lược “chiến tranh nhân dân” của Cộng sản bắc Việt bằng “ấp chiến lược”. Tuy vậy do việc quản lý không triệt để khiến cho nạn tham nhũng hoành hành, các viên chức địa phương ăn bớt phần tiền từ chính phủ rót xuống, bắt dân góp công, góp của để xây dựng ấp, gây bất mãn và dễ làm tay trong cho cộng sản. Cộng thêm việc công tác dân vận của ông chưa được tốt khiến cho người dân dễ bị kích động bởi bộ máy tuyên truyền của cộng sản cho nên ngay sau khi ông bị ám sát, “ấp chiến lược” cũng bị phá sản

    Ngược lại với nhận định của tác giả, chương trình ấp chiến lược được xem là một thất bại đáng kể của chính quyền Ngô Đình Diệm. Làm theo kiểu mẩu của Mã Lai, ấp chiến lược không thể tồn tại và thành công trong môi trường đặc trưng của chiến tranh VN khi mà hầu như mỗi gia đình đều có người của hai phe quốc cộng, khi mà kẻ thù và nhân dân sống chung với nhau, rất khó tách biêt.

    Bà Đầm Trẻ viết:
    Yếu kém về công tác dân vận cũng là một điểm yếu chết người của ông, trong khi ông lại muốn xấy dựng một thể chế chính trị tập trung quyền lực vào tay chính phủ, cụ thể là vào chính gia đình ông. Điều này không những gây bất mãn trong nhân dân, mà còn tạo ra sự mâu thuẫn với các quan chức cũng như các tướng lãnh.

    Ngoài việc tập trung quyền lực vào gia đình, TT Ngô Đình Diệm còn có một sai lầm chính trị rất lớn trong quan điểm chống cộng quá cứng nhắc, đầy những người yêu nước thật sự như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Dương Quỳnh Hoa phải đi vào bưng với cộng sản (dù họ không phải là những người CS thực sự).

    Bà Đầm Trẻ viết:
    Nhưng có lẽ điều khiến VNCH thua cuộc đau đớn nhất là vì ông Thiệu đã quá chủ quan khi coi thường sức mạnh của quân đội cộng sản, mặt khác lại quá tin tưởng vào những gì Hoa Kỳ đã ký kết trong hiệp định.

    Tôi không thấy có chứng cớ nào cho thấy TT Nguyễn Văn Thiệu chủ quan coi thường sức mạnh của quân đội CS, cũng như tin tưởng vào những gì Hoa Kỳ ký kết trong Hiệp Định (Paris?). Thật sự thì chính quyền miền Nam đã rất bất mãn khi bị xếp ngang với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, trong khi Hoa Kỳ xếp ngang với CS Bắc Việt trong hoà đàm Paris. Đây không hiểu là một sai lầm chính trị do phía Hoa Kỳ vô tình gây ra, hay do Hoa Kỳ cố tình làm như thế, nhưng rõ ràng đây là hệ quả của việc Hoa kỳ đổ quân vào VN và trực tiếp tham chiến.

    Hơn nữa, cuộc chiến ở VN nằm trong khung cảnh chiến tranh lạnh liên hệ tới nhiều siêu cường khác ngoài Hoa Kỳ. Đành giá sự xụp đổ của VNCH mà không tính đến các mối quan hệ quốc tế của các siêu cường là còn thiếu xót.

    Việt Nam- Bắc Việt và Nam Việt- trong thời kỳ chiến tranh lạnh là 2 quân cờ của Tư bản và Cộng sản.
    Khi một bên- Bắc Việt - với ủng hộ tối đa (kinh tế, quân sự) và đồng lòng của toàn bộ khối Cộng sản- bằng mọi giá phải cưỡng chiếm miền Nam, không sớm thì muộn miền Nam rơi vào tay Cộng sản.

    Trừ Trung Cộng, Bắc Hàn không được ủng hộ về quân sự, kinh tế của toàn bộ khối Cộng sản và viện trợ của Trung cộng chỉ nhỏ giọt nên Bắc Hàn không dám tấn công cưỡng chiếm Nam Hàn, dù quân đội Mỹ cũng đã có mặt- nhưng không nhiều - ở Nam Hàn. Bắc và Nam Hàn không hề có chiến tranh cho tới ngày hôm nay, Nam Hàn hoàn toàn yên ổn để xây dựng Đất nước trong nhiều thập kỷ.

    Miền Nam vẫn phát triển kinh tế trong thời TT Thiệu. Cho rằng trong thời gian này kinh tế không phát triển là sai.

    Viện trợ của Mỹ đa phần là viện trợ quân sự. Mỹ cắt giảm viện trợ quân sự, có nghĩa là sẽ giảm số lượng vũ khí, đạn, dược phẩm, xe tăng, máy bay chiến đấu... Trong khoảng tháng 4 năm 1975, nếu tiếp tục chiến đấu, VNCH với số vũ khí, đạn, dược phẩm.... tồn kho, chỉ có thể cầm cự thêm vài tháng.

    Trong chiến tranh, vũ khí, đạn dược, xe tăng, máy bay chiến đấu .... là những điều TỐI QUAN TRỌNG.
    Ít, không vũ khí, đạn dược.... thua là điều không thể tránh khỏi.

    Vì vậy so sánh Bắc- Nam Hàn với Bắc- Nam Việt là điều khiên cưỡng.

    Cá nhân tôi cho rằng, lời tuyên bố đầu hàng của TT Dương Văn Minh là điều không thể tránh khỏi, khi đánh giá thực tế về số lượng vũ khí, đạn dược... tồn kho và nhất là để tránh những tổn thất sinh mạng, tài sản cho dân khi sự chiến đấu của quân đội VNCH (chỉ có thể ) kéo dài thêm vài tháng.

    Nguyễn Jung

    Tg Bà Đầm Trẻ viết:
    Chúng ta có thể nhìn vào cách làm của Hàn Quốc, đến bây giờ cuộc chiến giữa họ với Bắc Hàn vẫn chưa hoàn toàn chấp dứt, nhưng nếu không còn được sự trợ giúp từ phía Mỹ thì có lẽ họ vẫn đứng vững trước sự tấn công của Bắc Hàn dù được hậu thuẫn bởi Trung Quốc.

    Đã có quá nhiều nghiên cứu, bài viết về "Chiến tranh Việt Nam" (1954 - 1975), về những thất bại, sai lầm của VNCH. Bài viết nầy của tác giả Bà Đầm Trẻ không phải sai nhưng về chiều sâu thì thiếu sót! "Đến bây giờ 'cuộc chiến' giữa Nam và Bắc Hàn chưa hoàn toàn chấp dứt", nhưng giữa họ hoàn toàn không có chiến tranh kể từ năm 1953 thế kỷ trước. Và nếu muốn so sánh trường hợp của Triều Tiên (Korea) với Việt Nam thì nên giả sử các điều kiện đều hoàn toàn giống nhau; Nếu bây giờ (giống VN năm 1973) Mỹ hoàn toàn rút quân và không giúp Nam Hàn (như bỏ VNCH năm 1973 vì đã mặc cả xong với khối cộng sản) gì cả và cả khối cộng sản (Trung cộng và Liên Xô (củ)) chi viện cho Bắc Hàn cho tới tận răng bằng những vũ khí hiện đại để Bắc Hàn tấn công Nam Hàn toàn diện dọc theo biên giới với Trung cộng thì liệu Nam Hàn có "đứng vững" không?

    Tg Bà Đầm Trẻ viết:
    Bây giờ họ là một nền kinh tế lớn, cả về thương mại lẫn quân sự

    Xin nhắc lại, Triều Tiên hoàn toàn không có chiến tranh từ năm 1953; Tức là Nam Hàn đã có hoà bình 64 năm, còn VNCH chỉ có 5 năm hoà bình (từ năm 1954, đến năm 1959 thì du kích cộng sản bắt đầu hoạt động). Muốn so sánh Nam Hàn (Hàn Quốc) với VNCH thì hãy so sánh toàn diện nền kinh tể, quân sự, giáo dục, xã hội, v.v... của Hàn Quốc năm 1958 (tức là sau 5 năm hoà bình ở Triều Tiên) và của VNCH năm 1959.