Mối hận thù đã nhấn chìm Sài Gòn

  • Bởi Admin
    20/03/2017
    13 phản hồi

    Sean Fear
    Athena chuyển ngữ

    Phật tử không thích người Công giáo. Người miền bắc ghét người miền Nam. Dân thường không ưa quân đội. Người thành thị ghét người ngoại tỉnh. Dân tộc Việt Nam không ưa dân tộc thiểu số. Vào năm 1967, miền Nam Việt Nam giống như một cái nồi hổ lốn chứa đầy các phe phái cạnh tranh lẫn nhau, càng làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng chính trị sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát vào năm 1963 trong cuộc đảo chính của quân đội.

    04fear1web-blog427.jpg
    Hình 1. Ông Nguyễn Văn Thiệu (ảnh trên) và ông Nguyễn Cao Kỳ trong một chuyến bay trở về Sài Gòn sau cuộc gặp với tổng thống Johnson tại Honolulu để đàm phán về cuộc chiến tại Việt Nam.

    Nhưng ở tầm chính trị cao hơn, đó là cuộc cạnh tranh giữa hai vị tướng Nguyễn Cao Kỳ và Nguyễn Văn Thiệu, vốn được giới quan sát coi là cuộc ganh đua lớn nhất. Cả hai người đều còn trẻ, đầy tham vọng, và là những người lãnh đạo đầy không ngoan trong các cuộc sách nhiễu và đảo chính gây phiền toái cho quân đội đang nắm quyền ở miền Nam Việt Nam. Sau nhiều năm trời gây dựng liên minh, cả hai người họ đều sẵn sàng đối đầu nhau trong cuộc bầu cử tổng tống vào năm 1967.

    Vào năm 1967, ở tuổi 37, ông Nguyễn Cao Kỳ đã giữ chức thủ tướng. Là một trong những sĩ quan đầu tiên tham gia Lực lượng Không quân Việt nam do Pháp tài trợ, ông Nguyễn Cao Kỳ nhanh chóng thăng tiến và chiến đấu bên cạnh quân đội Pháp trong chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất chống lại Hồ Chí Minh (1946 – 1954). Vào năm 1964, ông Kỳ đã nắm quyền chỉ huy Không lực miền Nam Việt Nam, một vị trí cho phép ông vượt qua rất nhiều các nỗ lực đảo chính sau đó.

    Còn ông Nguyễn Văn Thiệu, vốn hơn đối thủ của mình 7 tuổi, nên đã sớm có được vị thế vào đầu những năm 1950s, và chiến đấu chống lại lực lượng Việt Minh ở miền Bắc Việt Nam. Và với tư cách là người chỉ huy của Sư đoàn 5, một sư đoàn quan trọng mang tính chiến lược, đóng quân tại các khu vực quanh Sài Gòn, ông Thiệu cũng là một người nắm vai trò quyết định trong cuộc đảo chính cho đến khi kế hoạch lật đổ ông Ngô Đình Diệm trở nên chắc chắn trước khi tiếp quản vị trí tại dinh tổng thống. Hào quang của ông dần lụi tắt sau khi xảy ra xung đột với tướng Nguyễn Khánh, nhân vật mới nhất trong cuộc đua đến ghế tổng thống. Ông Thiệu dần dần ghét ông Khánh khi ông này liên tục khen ngợi ông Kỳ. Tuy nhiên, một thời gian sau ông Thiệu đã dần lấy lại được vị thế khi ông Khánh và một loạt tướng tá khác bị thanh trừng vào mùa xuân năm 1965, đảm bảo vị trí chủ tịch Hội đồng Lãnh đạo Quốc gia do quân đội mới lãnh đạo vào tháng Sáu.

    Ngoài sự giống nhau về sự nghiệp, hai người đàn ông này không hề có điểm chung gì. Một cách nông nổi và bốc đồng, Nguyễn Cao Kỳ đã khiến người khác phải ngưỡng mộ mình bằng cách đeo một chiếc khăn quàng cổ màu tím với cặp kính phi công, sánh vai cùng bà vợ thứ hai, vốn là một tiếp viên hàng không phẫu thuật thẩm mỹ với dáng vẻ khéo léo. Được biết đến là một chỉ huy liễu lĩnh, nếu không muốn nói là táo bạo, ông dần chìm đắm vào thói đánh bạc và chọi gà.


    Hình 2. Ảnh chụp ông Nguyễn Văn Thiệu, bên trái, và ông Nguyễn Cao Kỳ, ở giữa, sau một trận chiến thành công năm 1966

    Ngược lại, ông Nguyễn Văn Thiệu lại là người cực kì cẩn thận và khiêm nhường; luôn thể hiện bản thân là con người của gia đình với cung cách khiêm tốn. Ông thường tránh tập trung sự chú ý vào mình và thích tính toán các bước đi từ phía hậu trường hơn.

    Tuy nhiên, cuộc cạnh tranh đã sớm không còn mang tính bề nổi nữa. Không chỉ xung đột về tính cách, mối hận thù giữa Thiệu và Kỳ đã làm trầm trọng hơn mối chia rẽ cực kì sâu sắc ở miền Nam Việt Nam, ngay cả khi đất nước này ngày càng lún sâu vào cuộc chiến.

    Tính cách quảng giao của Nguyễn Cao Kỳ đã giúp ông giành được sự ủng hộ từ những binh sĩ trẻ hơn, đặc biệt là những người gốc Bắc – phần lớn là người Công giáo ghét Cộng sản phải chạy vào miền Nam sau cuộc di dân năm 1954. Tuy nhiên, chính thói cao ngạo và ngông cuồng cũng như sự ưu ái của người Mỹ đã khiến Nguyễn Cao Kỳ trở thành cái gai trong mắt những người bảo thủ và người dân miền Nam. Bị tác động bởi chính trị kiểu miền bắc và các vụ tham nhũng do sự can thiệp về kinh tế và quân sự của phía Hoa Kỳ, những chủ đất lớn tuổi thân Pháp đã dần tránh xa cái xã hội bẩn thỉu đang dần nổi lên trong giai đoạn mới của cuộc chiến.

    Trong hoàn cảnh đó, Nguyễn Văn Thiệu, một hiện thân của trách nhiệm và sự đáng kính, đã trở thành đối thủ hoàn hảo để chống lại chủ nghĩa xấu xa của Nguyễn Cao Kỳ. Tuy nhiên, cộng đồng Phật tử và Công giáo lại tỏ ra cảnh giác với việc ông Thiệu đã cải đạo và gốc gác miền Trung của ông. Bên cạnh đó, ở ông cũng không toát lên vẻ thu hút người khác như ông Kỳ. Những người ủng hộ ông thường là vì họ đã chán ngán ông Kỳ chứ không phải vì họ thích tính chân thật của ông.

    Mối hận thù này bao phủ lên nền chính trị miền Nam Việt Nam vào giữa những năm 1960s, với sự chia cắt giữa chính quyền dân sự và quân đội, còn giới công chức và sĩ quan quân đội lại chịu áp lực phải tuyên thệ trung thành. Đại sứ Hoa Kỳ lúc bấy giờ được xem là người ủng hộ ông Kỳ, cũng như bộ trưởng quốc phòng, người đứng đầu lực lượng cảnh sát quốc gia và thống đốc quân đội Sài Gòn. Phe phái của ông Thiệu cục kì tự hào về hai trong bốn tư lệnh khu vực và chỉ huy của quân đội.

    Phía sau hậu trường, các đảng phái của cả hai phe phái đã bận rộn với kế hoạch lôi kéo sự ủng hộ, vất vả để có được vị thế trong một môi trường mà các cáo buộc và những màn đâm lén liên tục diễn ra. Ví dụ, có người cho rằng một cựu chỉ huy quân đội của đồng bằng sông Cửu Long (vốn ủng hộ Thiệu) là một tay buôn ma túy khét tiếng nhưng cũng có người cho rằng đấy là một người đàn ông trung thực đã bị các đối thủ chính trị hãm hại.

    Năm 1967 là năm cực kỳ quan trọng đối với nền chính trị ở miền Nam Việt Nam, khi cuộc cạnh tranh đã dần tiến đến mức khủng hoảng. Trong vòng một năm đã xảy ra cả cuộc giao tranh giữa miền bắc và miền nam cũng như cuộc nổi dậy lần hai của Phật tử trong vòng 3 năm đòi lại quyền kiểm soát cho nhà nước. Do cùng lúc phải đối mặt với yêu cầu cải cách cả trong nước lẫn từ phía Washington, cuối cùng lực lượng quân đội đã nhượng bộ, chấp nhận hiến pháp mới, bầu cử tổng thống và khôi phục quốc hội.

    Với ý định mang lại tính chính danh hơn là sự cai trị của quân đội, cuộc bầu cử năm 1967 đã làm dấy lên sự phản đối chính quyền Sài Gòn đàn áp dân sự. Tất nhiên, chẳng ai tin là luôn có sự trung thực trong bầu cử. Nhưng ngay cả khi người chiến thắng được tiết lộ trước cả khi cuộc bầu cử bắt đầu thì cuộc cải cách năm 1967 vẫn mang lại hy vọng về một chế độ quân sự có trách nhiệm hơn, biết lắng nghe người dân hơn và có tinh thần thượng tôn pháp luật hơn.

    Tuy nhiên sự lạc quan này đã bị che khuất bởi những câu chuyện xoay quanh cuộc đối đầu của Thiệu – Kỳ. Lúc đó, báo chí ở Sài Gòn vẫn còn khá tự do thoải mái nên các mục tiêu cao cả của cuộc bầu cử đã nhanh chóng nhường chỗ cho các tin đồi chính trị. Trong khi đó, ông Kỳ đã chiếm được thế thượng phong nhiều tháng trước khi chiến dịch chính thức bắt đầu. Nó biến thành màn đe dọa, kiểm duyệt, quấy rối có chủ đích và chuyển những người ủng hộ đối thủ của ông tới các khu vực do phe Cộng sản kiểm soát. Bên cạnh đó, Kỳ cũng ban phát nhiều bổng lộc cho những nhóm tôn giáo và dân tộc, như sự đổi chác để họ ủng hộ và bỏ phiếu cho mình.

    Những chiến thuật lén lút này làm tăng thêm sự nghi ngờ về sự ổn định và tính chính danh của cuộc bầu cử. Bị xúc phạm bởi sự lừa dối, ông Thiệu, trong một cuộc trao đổi nóng với đại sứ Mỹ Ellsworth Bunker, đã cảnh báo về một cuộc đảo chính không thể tránh khỏi là công chúng mất niềm tin vào tiến trình, ngầm ngụ ý rằng tự mình giải quyết vấn đề. Sự hỗn loạn này đã nhanh chóng bị làm quá lên tại trụ sở quân đội miền Nam Việt Nam cùng lúc các cuộc xung đột giữa hai phe Thiệu – Kỳ đã dừng lại.

    Cuối cùng, hạn đưa ra danh sách ứng cử đã đến, các quan chức cấp cao của quân đội miền Nam đã phải tổ chức một cuộc gặp bí mật trong vài ngày, với rất nhiều lời buộc tội, phản đối và nước mắt. Khi đó, ông Thiệu đã giành chiến thắng, khiến giới quan sát vô cùng ngạc nhiên, bằng việc chiếm vị trí cao nhất trong quân đội tổng thống; còn ông Kỳ đã “hạ cánh” xuống ghế phó tổng thống. Mặc dù chi tiết cuộc gặp không được tiết lộ, nhưng một nhân chứng cho biết, vào thời khắc quyết định, một người ủng hộ Kỳ đã bỏ cuộc, thừa nhận rằng chiến dịch này có sự gian lận.

    Tuy nhiên, ông Kỳ vẫn duy trì được sự ủng hộ của các quan chức quân đội hàng đầu. Mặc dù ông Thiệu đảm nhiệm chức vụ tổng thống vào tháng 10 năm 1967, vị trí của ông không có gì đảm bảo chắc chắn cả.. Bị ám ảnh bởi bóng ma của một cuộc đảo chính, ông Thiệu đã làm việc để vô hiệu hóa đối thủ bằng cách bảo đảm sự ủng hộ của người My. Hành động như chính trị gia có trách nhiệm và cam kết duy trì bản hiến pháp mới, ông kết thân với Nhà Trắng vì sợ rằng kế hoạch của Sài Gòn sẽ làm tan biến sự ủng hộ của công chúng đối với chiến tranh. Trong khi đó, ông Thiệu tập hợp một nhóm ủng hộ trong Quốc hội mới, kêu gọi các quyền lợi chung hoặc đòi hối lộ theo yêu cầu. Sau đó, lợi dụng cuộc tấn công vào Tết Mậu Thân vào tháng 2 năm 1968, ông tuyên bố bằng cách thay thế những người ủng hộ ông Kỳ tại quân đội, và tại sân bay, hải quan và các xưởng đóng tàu - làm nghẽn những điểm buôn lậu vàng và ma túy.

    Tiếp theo là một đòn giáng trực tiếp ngoạn mục: Tháng 6, một máy bay trực thăng Mỹ tuần tra khu phố Tàu Sài Gòn bắn một tên lửa, đốt cháy anh rể của ông Kỳ, cảnh sát trưởng quận Sài Gòn và Chợ Lớn và bốn quan chức cao cấp khác – những nhân vật quan trọng trong mạng lưới chính trị và thế giới ngầm của ông Kỳ. Cuộc tấn công đã tăng cường chống lại hỏa lực của Hoa Kỳ và tôn sùng ông Thiệu là con người của Hoa Kỳ trong mắt những người Việt Nam theo chủ nghĩa âm mưu.

    Khi các phe cánh của mình bị kiềm tỏa, ông Kỳ đã phải nhờ đến vai trò chính trị, cáo buộc sự lãnh đạo yếu kém và thờ ơ với tình trạng tham nhũng của ông Thiệu. Ông phàn nàn với một ký giả người Ý Oriana Fallaci rằng “9 trên 10 lãnh đạo của chúng tôi là kẻ tham nhũng. Chúng tôi cần một cuộc cánh mạng. Chúng tôi cần luật pháp mới để trao sức mạnh cho người nghèo,” giống y hệt những gì Hồ Chí Minh đã nói.

    Mấy lời lẽ mị dân này ông Kỳ nói rất nhiều, bởi bản thân ông cũng hay có kiểu “ăn cắp chính trị” như vậy. Tuy nhiên, không giống như những người cùng thời với mình thường tích trữ để mua biệt thự ở châu Âu cùng với các chuyến du lịch kết hợp mua sắm, ông Kỳ có ý định hướng đến các mục tiêu chính trị nhiều hơn là nghĩ cho bản thân. Sau khi Sài Gòn thất thủ, ông sống một cuộc sống khá đạm bạc nhờ vào việc kinh doanh rượu của gia đình.

    Chính sự khiêu khích của ông Kỳ đã làm tăng tính hoang tưởng của ông Thiệu. Bị cô lập trong dinh tổng thống và bao quanh là những cố vấn trẻ trung, tham vọng nhưng vô đạo đức, ông bắt đầu trở nên đa nghi hơn. Vào tháng Mười năm 1968, một tờ báo bên Công giáo đã đăng một “lời tiên tri” cảnh báo rằng cuối tháng này sẽ có một cuộc đảo chính. Do biết rằng phía Công giáo và ông Kỳ có liên minh với nhau, trong nhiều tháng liền, ông Thiệu đã luôn đặt quân đội trong tình trạng cảnh báo cấp độ ba., bắt giữ nhiều nhà xuất bản người Công giáo và giáo sĩ, và đe dọa sẽ đóng cửa tòa báo nếu họ dám đăng những tin này lên.

    Phản ứng như vậy của ông Thiệu là có thể hiểu được vì trước đó đã có những cuộc đảo chính sau sự kiện của ông Diệm. Nhưng một phản ứng thái quá trong cuộc bầu cử lần hai vào năm 1971 đã hoàn toàn chấm dứt nền hiến pháp của miền Nam Việt Nam, đẩy ông Thiệu và nền dân chủ ở miền Nam Việt Nam vào thế không thể cứu vãn.

    Mặc dù vẫn còn e ngại quân đội nhưng đã không còn e sợ đối thủ của mình nữa, ông Thiệu đã khai thác tối đa quyền kiểm soát của Tòa án Tối cao và Quốc hội để áp đặt luật bầu cử nhằm loại trừ sự tham gia của ông Kỳ. Để đạt được mục đích, văn phòng của ông đã gửi thư hướng dẫn đến từng chỉ huy quân đợi của mỗi tỉnh, khiến một sĩ quan than thở rằng “ông Thiệu viết cái này để làm gì trong khi rõ ràng có thể dùng lời nói.” Trước tình hình này, cả ông Kỳ lẫn cựu tướng Dương Văn Minh đều rút lui khỏi cuộc bầu cử để phản đối.

    Không chùn bước, ông Thiệu đã khiến giới quan sát Việt Nam và Hoa Kỳ phải khiếp đảm khi tiến hành cuộc bầu cử không có đối thủ và tái cấu trúc giống như một cuộc trưng cầu dân ý dưới quyền điều hành của ông. Sau khi giành chiến thắng, ông đã sử dụng cuộc tấn công dịp lễ Phục sinh của phe Cộng sản vào năm 1972 là cái cớ để áp đặt những quy định khắt khe hơn đối với các đảng phái và truyền thông độc lập.

    Một đại sứ của miền Nam Việt Nam nhớ lại rằng cuộc bầu cử năm 1971 đã đánh dấu một thời khắc khi mà “cuộc tìm kiếm một mục đích sinh tồn cho quốc gia đã bị dừng lại để nhường chỗ cho sự ảo tưởng sức mạnh của một kẻ chuyên quyền.” Sự kiện này đã làm sụp đổ xã hội dân sự miền Nam Việt Nam từng một thời chống lại chủ nghĩa Cộng sản.

    Ngoài hậu quả nhãn tiền của nó, cuộc bầu cử năm 1971 còn phản ánh sự thất bại của miền Nam Việt Nam trong việc vượt lên chủ nghĩa lợi ích phe nhóm cũng như đánh bại những nhân vật có ảnh hưởng. Cụ thể, cuộc cải cách năm 1967 đã được định sẵn bởi những người ủng hộ mang lại một thể chế quản trị mới, trong đó chính quyền không xuất phát từ quân đội mà có tính chính danh trong mắt những cử tri, nơi mà những đảng phái đối thủ giải quyết mọi chuyện trong hòa bình chứ không chìm đắm vào số mệnh của những nhân vật mang tính biểu tượng.

    Thay vào đó, thay vì kiếm chế các tướng lĩnh bằng tinh thần thượng tôn pháp luật, cuộc bầu cử năm 1967 và 1971 đã bị bóp nghẹt bởi mối hận thù Thiệu – Kỳ, không một nhân tố nào trong thất bại của chính quyền quân sự này giành được tính chính danh. Mặc dù chỉ xuất hiện qua loa trong các tài liệu bằng tiếng Anh về cuộc chiến với tư cách không khác gì chế độ bù nhìn, cuộc chiến tranh chống Cộng sản của miền Nam Việt Nam đã làm sáng tỏ sự sụp đổ không thể tránh khỏi của một nhà nước từ bên trong nhiều năm trước khi tiếng súng thật sự ngưng lại.

    Nguồn: https://www.nytimes.com/2017/03/03/opinion/the-feud-that-sank-saigon.html?_r=0

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    13 phản hồi

    Bài viết của tác giả Sean Fear trên báo New York Times.. người vừa mới tốt nghiệp môn lịch sử năm 2016 của trường Đại Học Cornell University.
    http://dickey.dartmouth.edu/people/sean-fear
    Bài viết trên của cậu sinh viên trẻ Sean Fear (dựa vào) Thư viện Richard Nixon và Gerald Ford, .... và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II ở Thành phố Hồ Chí Minh.
    Tác giả "mò mẫm" trong hai thư viện trên để đưa ra kết luận có tính cách chủ quan...cá nhân. bài viết của Sean Fear nằm trong mục góp ý kiến (opinion) của tờ New York Times.
    Ta hãy xem truyền thông Mỹ xếp hạng chỉ số hạnh phúc của các nước Châu Á
    Nhận định của Happy Index ở New York : Việt Nam đứng thứ năm trong bảng xếp hạng Happy Planet Index, và đứng thứ hai trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. (Vietnam ranks fifth in the Happy Planet Index results, and second in the Asia Pacific region)
    http://happyplanetindex.org/countries/vietnam
    http://tuoitre.vn/tin/the-gioi/20160721/viet-nam-xep-thu-5-chi-so-hanh-tinh-hanh-phuc-2016/1140745.html
    Ngoài những "đại gia" giàu có ở VN ra...Người lao động trong nước nghĩ gì về bảng xếp hạng VN của Happy Index.

    Lời thật, người thật, thấy thật, viết thật :

    Người Việt đánh đuổi Mỹ cường
    Rước ma cộng sản vào làm vua Nam
    Rước cọp dể, đuổi cọp nan
    Hại người hại kỷ tại người Việt Nam ! :'( :'( :'(

    Thiên Phật Thiên Chúa Dạy Bảo :

    Sao đường Thiên Đàng con không đi..
    Mãi tìm địa ngục chốn hồng trần
    Sống đau sống khổ sống phiền lụy
    Cuối cùng còn lại nấm mộ hoang ! :'( :'( :'(

    Nguyễn Jung viết:
    Tôi không hiểu tại sao tay Pv này bây giờ tìm cách đổ lỗi cho chính quyền VNCH, đặc biệt cho 2 ông Thiệu Kỳ?
    Tìm cách chạy tội cho bản thân hay cho nước Mỹ? Khi lương tâm đang cắn rứt vì nhìn thực trạng VN ngày hôm nay??

    Tác già bài viết (Sean Fear) không phải là ký giả mà là một người có học vị tiến sĩ về sử học (từ Cornell University). Bài viết tóm lược luận án tiến sĩ về quan hệ của hoa Kỳ với chiến tranh VN và đăng trong mục "ý kiến" của New York Times.

    Tôi nhận thấy ý kiến của tác giả có nhiều tính . . . giả tưởng (hi hi). Cá nhân tôi cho rằng dù có tranh chấp Thiệu-Kỳ thì sự việc đó cũng không đưa đến "hận thù" như tác giả tường tượng. Số phận của miền Nam VN đã được định đoạt khi Nixon bắt tay Mao Trạch Đông. Và quan trọng hơn hết cho việc sup đổ của miền Nam VN là chiến lược sai lầm của Hoa Kỳ khi cương quyết đem quân vào Miền Nam để tham chiến.

    Tác giả nói rất đúng, Sài gòn mục nát và thất thủ là do hận thù. Vậy mà ngày nay, bao nhêu năm qua rồi mà vẫn còn những kẻ không sáng nổi mắt, cứ mãi bám lấy hận thù đến nỗi không phân biệt được trắng đen. Rồi đến phải ôm cục hận xuống mồ găm nhấm tiếp. Khổ thật!

    Thông thường những người trẻ thường hay nói chuyện tương lai, còn những người già hay nói chuyện quá khứ, nhớ chuyện ngày xưa, quên chuyện hôm nay. Thế nhưng ở nước mình có chuyện đặc thù đó là có tới hàng triệu người già không thích nói chuyẹn ngay xưa và cố quên chuyện ngày xưa. Đó là những người già mà hồi còn trẻ phải cầm súng. Chuyện đã qua thì có thể nói cầm súng là cầm súng còn bất kể nguyên nhân gì, tự nguyện cầm súng, bị lừa cầm súng hay bị bắt ép phải cầm súng, nhưng đã cầm súng thì giống nhau tất.
    Cầm súng có anh hùng không? Có lúc thì cứ tưởng là anh hùng.
    Trên chiến trường kẻ giết người không bị đưa ra tòa án xét xử về tội sát nhân mà còn được tuyên dương anh hùng. Thế nhưng cũng có lúc thấy nhục nhã lắm, thân phận mình như con dán bị dẫm chết, sao cái mạng mình nhỏ bé thế. Nó ngồi trên trực thăng bay trên trời, vãi đạn như mưa rào, còn mình dưới đất, chạy lủn củn trốn thoát như con chồn hôi. Rồi có người gục chết...thôi không dám nói tiếp nưã.
    Cũng có lúc bắt được tù binh mà sướng như tiên, reo lên: "A địch nó là ta, nó đồng hưng với mình, người anh em cho xin hơi thuốc!"
    Lúc đánh nhau, anh nào nhanh tay bóp có anh ấy sống, ngừng tếng súng thì người với người cả thôi. Mình có vợ con, họ cũng có vợ con. Hai anh lính đều là công cụ của hai chế độ.
    Nhắc lại quá khư làm gì, có ai uốn nắn được lịch sử đâu. Nước mình có kỳ thi thì có 1.000 điểm sử được zéro. Thế mà có người thích môn sử ra phết. Có phòng thi môn sử thì có duy nhất một thí sinh. Trước kia còn có hiện tượng anh nào dốt nhất thì thi sử, nhưng trượt, phải lấy anh đỗ trường khác vào học môn sử. Hồi ấy con người là công cụ của chế độ. Giá như có mấy anh còm này vào học môn sử thì hay biết mấy.

    Chuck viết:
    Ơ thế sao bảo Miền Bắc xâm lược Miền Nam? Nói cho đúng, nếu không có sự nổi dậy hỗ trợ của chính người dân miền Nam thì CSBV không thể nào chiến thắng được.

    Bác Chuck, tôi viết là đã đóng góp, nhé.
    Nếu miền Bắc không xâm lăng miền Nam thì sẽ không có bọn nối giáo nhé. Như bây giờ vậy, nếu Tàu cộng từ bỏ dã tâm chiếm đoạt Việt Nam, thì chẳng có Lê Chiêu Thống thời @ nhé.

    Tôi không muốn thất lễ với những người lính của VNDCCH, đã chiến đấu vì - hay không vì- " lý tưởng giải phóng miền Nam", những người đã bị nhồi sọ miền Nam bị "Mỹ xâm lăng", nhưng bác đã viết thì tôi trả lời, cũng là một thể hiện tôn trọng bác, chứ với một (?) vài còm sĩ khác thì tôi mặc xác nhé.

    Ngoài ra đừng quơ hết người dân miền Nam vào chung một rọ nhé. Như bác Trandao và bác khách 9876 đã viết,
    Một trong các nguyên nhân Bắc Việt cướp được miền Nam là vì Mỹ thay đổi chiến lược nhé.

    Nguyễn Jung

    Trích dẫn:
    Chẳng cứ gì bọn phản chiến ở Mỹ, ngay trong lòng miền Nam, Sài gòn với bọn Sv phản chiến theo, thân cộng, cầm đầu là Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng.... thành phần thứ ba với Ngô Bá Thành và đồng bọn đã "đóng góp" một phần không nhỏ cho VNDCCH cướp được miền Nam.

    Ơ thế sao bảo Miền Bắc xâm lược Miền Nam? Nói cho đúng, nếu không có sự nổi dậy hỗ trợ của chính người dân miền Nam thì CSBV không thể nào chiến thắng được.

    Trích dẫn:
    Cứ thử để cho Mỹ viện trợ cho miền Nam đầy đủ súng đạn, thì Saigon làm sao bị nhấn chìm cho nổi????

    Tôi vừa xem loạt video về tổng kho Long Bình. Tổng kho Long Bình cho thấy Mĩ đã viện trợ vũ khí cho VNCH lớn hơn nhiều so với VNDCCH nhận được từ khối LX. Không những thế Mĩ còn trực tiếp rải chất phát quang rừng, trực tiếp rải không biết bao nhiêu tấn bom xuống miền Bắc cũng như miền Nam nữa. Thế nên đừng đổ lỗi cho Mĩ đã không viện trợ vũ khí đầy đủ cho VNCH. Nên nhớ từ năm 1945 đến 1949 trước khi Trung Cộng ra đời, VNDCCH không nhận được viện trợ QS từ bên ngoài mà chủ yếu tự sản xuất vũ khí cũng như lấy vũ khí của địch đánh địch. Vậy mà vẫn kháng Pháp thành công.

    Đồng ý hoàn toàn với còm của bác Trandao.

    Chẳng cứ gì bọn phản chiến ở Mỹ, ngay trong lòng miền Nam, Sài gòn với bọn Sv phản chiến theo, thân cộng, cầm đầu là Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng.... thành phần thứ ba với Ngô Bá Thành và đồng bọn đã "đóng góp" một phần không nhỏ cho VNDCCH cướp được miền Nam.

    Tên tác giả viết:
    Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cho rằng: “Theo tôi, đã đến lúc ta phải nhìn nhận công lao, sự đóng góp to lớn của các tầng lớp người Việt yêu nước từng sống trong lòng chế độ cũ, hiện ở trong nước hay ở bên ngoài. Bản thân tôi cùng với anh em được giao tiếp quản Sài Gòn năm 1975, một Sài Gòn nguyên vẹn sau một cuộc chiến tranh như vậy, tôi nghĩ không thể không nói đến vai trò của các lực lượng chính trị đối lập với Mỹ - Thiệu, có quan hệ với chính phủ Dương Văn Minh lúc bấy giờ.… ".[1]
    Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình thẳng thắn thừa nhận: “Nhiều người ngại nói đến lực lượng thứ ba, nhưng theo tôi, lực lượng này đã có những đóng góp nhất định vào thắng lợi của nhân dân ta”.[1]

    Giáo sư Ngô Vĩnh Long cho là sau ngày thống nhất thành phần thứ ba này đã bị dẹp, không còn ai để mà lên tiếng về tình trạng chuyên quyền và sử dụng quyền lực một cách độc đoán. Ông cũng đã đặt câu hỏi tại sao truyền thông Việt Nam tránh nhắc tới thành phần thứ ba: "Sợ kể công họ ra là mất hào quang chiến thắng cho mình chăng? Hay sợ không còn được độc quyền chia chiến lợi phẩm?"

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_ph%E1%BA%A7n_th%E1%BB%A9_ba

    Khách 9876 viết:
    Tờ báo NY Times, Washington Post, cũng như ngành truyền thông thổ tả của Mỹ, đột nhiên giờ đây đổ lỗi cho "Mối hận thù đã nhấn chìm Saigon" thay vì chúng phải tự đấm ngực xưng tội Mea Culpa hàng ngàn lần cũng chưa đủ đền tội. Cứ thử để cho Mỹ viện trợ cho miền Nam đầy đủ súng đạn, thì Saigon làm sao bị nhấn chìm cho nổi???? Thử nhìn xem các nước Á châu quanh VN xem, có nước nào không có "Mối hận thù" trong nước họ không??? Tại sao các nước đó không bị "nhấn chìm" như VN nhể????

    Tôi không hiểu tại sao tay Pv này bây giờ tìm cách đổ lỗi cho chính quyền VNCH, đặc biệt cho 2 ông Thiệu Kỳ?
    Tìm cách chạy tội cho bản thân hay cho nước Mỹ? Khi lương tâm đang cắn rứt vì nhìn thực trạng VN ngày hôm nay??

    Nguyễn Jung

    Brian Tracy (Ca na da) có nói: "Hãy bỏ ra 90% thời gian của mình để tập trung vào những cơ hội của ngày mai thay vì tập trung vào những ván đề của hôm qua."
    Chẳng biết áp dụng vào trường hợp này của nước ta có đúng không? Thôi thì mỗi người mọt ý, ai muốn thé nào là tùy. Thế nhưng xem các còm mấy ngày qua thì tôi có thể rút ra kết luận hình như dân mình thiếu giác ngộ chính trị thì phải? Trước đây thì cứ hô hào chống cộng, "khai dân trí," "chấn dân khí". Vừa qua Dân luận đã nêu chương trình "khai dân trí" bằng cách thực hiện phương châm giáo dục mới, xóa bỏ nền giáo dục CS, nhưng chẳng thấy trí thức GSTS nào lên tiếng. Sao thế? Vấn đề khó lắm hay sao? Trình độ GSTS của ta thế nào? Không đủ trình độ hay sao?
    Hình như bản thân người đặt vấn đề "khai dân trí" thì dân trí cũng quá thấp thì phải? Tức là thấp ở dưới ngưỡng? Nếu cứ tình hình thế này thì đất nước ta chẳng bao giờ tiến lên được. Trí thức trong nước dã vậy, trí thức hải ngoại cũng chẳng khá hơn gì. "Thử thì kêu, đốt thì xịt". Hơn tôi là "thử không kêu, đốt thì xịt".
    Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã từng than vãn não nùng trong “Khối Tình Con” rằng:
    Dân hai nhăm triệu ai người lớn?
    Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con!?
    Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn
    Cho nên quân khốn dễ làm quan

    sao th

    Tờ báo NY Times, Washington Post, cũng như ngành truyền thông thổ tả của Mỹ, đột nhiên giờ đây đổ lỗi cho "Mối hận thù đã nhấn chìm Saigon" thay vì chúng phải tự đấm ngực xưng tội Mea Culpa hàng ngàn lần cũng chưa đủ đền tội. Cứ thử để cho Mỹ viện trợ cho miền Nam đầy đủ súng đạn, thì Saigon làm sao bị nhấn chìm cho nổi???? Thử nhìn xem các nước Á châu quanh VN xem, có nước nào không có "Mối hận thù" trong nước họ không??? Tại sao các nước đó không bị "nhấn chìm" như VN nhể???? Mịa, mấy thằng phóng viên sàm của đám truyền thông thổ tả hãy câm cái miệng chó của chúng lại, chả ai thèm tin bọn chúng nữa bao giờ!!!!!

    Trên bàn cờ quốc tế thời bấy giờ, 2 con tốt tiền đồn, nước VNCH(miền nam VN) và nước VNDCCH (miền bắc VN) cho 2 phe: Một bên là Cộng Sản (các nước XHCN) lãnh đạo bởi Nga, Tàu...và một bên là Tự Do (các nước tư bản) lãnh đạo bởi Mỹ.
    Với lý tưởng xây dựng thế giới đại đồng, người không còn bóc lột người, CS dùng bạo lực chuyên chính vô sản, khơi mào chiến tranh giải phóng trên toàn thế giới trong tham vọng tiến tới thiên đường CS không còn nhà nước cai trị và mọi người làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu.
    Để nhận được sự ủng hộ yểm trợ nhân lực vật lực tối cần cho cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và sau đó là xâm lược miền nam. Ông Hồ đã du nhập chủ nghĩa CS vào VN, tình nguyện đóng vai trò tiền đồn tiến hành những mục tiêu của thế giới CS.
    Để bảo vệ thành quả của nền kinh tế tư bản (kinh tế thị trường), thế giới Tự Do lập phòng tuyến chống lại.
    Hậu quả tất nhiên là miền nam phải cầu viện sự trợ giúp của thế giới tự do để bảo vệ sự yên bình của đất nước đang được thụ hưởng. Xin nhắc lại một giai đoạn bi tráng của lịch sử: Cả triệu người miền bắc đau lòng đứt ruột bỏ nhà cửa quê hương, từ thôn quê đến thành thị, tìm mọi cách để đến được miền nam tự do trong nỗ lực ngăn cản nghiêm ngặt trong bóng tối của đảng CSVN. Người thành công thì cố gắng xây dựng cuộc sống mới trong sự bao dung của dân miền nam. Người thất bại thì chịu mọi trừng phạt, xỉ nhục, tù đày của đảng CS. Bất đắc dĩ miền nam trở thành tiền đồn của thế giới tự do mà không còn sự chọn lựa nào khác.
    Cả 2 miền đều không có khả năng tự túc trong chiến tranh nên phải dựa vào sự trợ giúp hoàn toàn từ bên ngoài, của thế giới CS và thế giới tự do. Vì vậy, bên nào không còn nhận được sự trợ giúp của phe mình thì sẽ thua là điều tất yếu. Sau khi ký hiệp định Ba Lê, viện trợ Mỹ cho bộ máy chiến tranh của VNCH giảm nhanh và chấm dứt hoàn toàn trước 30/4/1975. Lợi dụng cơ hội, CS tăng tốc viện trợ cho VNDCCH. CSVN đơn phương xé bỏ những ký kết trong hiệp định Ba Lê, xâm lược toàn diện, kết thúc nhanh chóng chiến tranh VN, mà 20 năm trước đó đã đổ ra nhiều nỗ lực với vô vàn tổn thất vẫn không thể thắng.
    Việc tranh chấp lợi ích nhóm, tham nhũng của chế độ VNCH chẳng là cái đinh gì so với CSVN ngày nay. Còn việc đảo chính tranh chấp quyền lực thì cũng giống như Thái Lan và Nam Hàn xưa kia. Và hai nước đó cũng vẫn phát triển bỏ xa VN cả chục năm.
    Nguyên nhân chính của sự thất bại miền nam theo thiển ý là do phong trào phản chiến ở Mỹ. Phong trào này ngày càng lớn mạnh theo thời gian của chiến tranh để cuối cùng ly tán ý chí nước Mỹ và họ buộc phải thay đổi chính sách.
    Phong trào phản chiến xuất hiện do những bà mẹ Mỹ có con tham chiến quá lâu. Lâu hơn sự dự tính của các quan chức tướng lĩnh là trong 2, 3 năm sẽ ổn định được miền nam. Dân Mỹ rất quý trọng con người. Sự tổn thất con cái của họ trong chiến tranh rất đau đớn, lại xảy ra ở một nước nhỏ bé xa xôi, với một mục đích không dễ hiểu cho mọi người. Mặt khác, chủ nghĩa CS coi dân như cỏ rác. CSVN sẵn sàng đẩy mọi người dân vào bộ máy chiến tranh, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù có phải đốt cháy cả dãy Trường sơn, dù có phải hy sinh đến người dân cuối cùng họ cũng tàn nhẫn để đạt được mục đích!
    Thêm vào đó, lãnh đạo miền nam không khôn khéo bằng lãnh đạo miền bắc để tranh thủ sự giúp đỡ sinh tử của phe mình. Ví dụ, Tổng Thống Ngô đình Diệm không muốn Mỹ đưa quân vào miền nam với chủ ý giữ được độc lập trong việc điều hành quốc gia, điều Mỹ không mong muốn...Chủ tịch Hồ chí Minh "khôn khéo" hơn sẵn sàng ký công hàm Hoàng Trường Sa (công hàm Phạm văn Đồng) để tranh thủ sự giúp đỡ trước mắt của Tàu Cộng...Miền nam đã sụp đổ. Miền bắc thống nhất đất nước trong công cuộc cưỡng chiếm miền nam. Nhưng với cung cách"khôn khéo" này của Hồ Chí Minh để lại, thì việc CSVN hèn với giặc ác với dân là điều dễ hiểu. Và nguy cơ mất nước ngày càng đến gần, đúng như lời tiên đoán của cố vấn Ngô đình Nhu của chế độ miền nam.
    Vì vậy, cho dù có một miền nam đoàn kết, ít tham nhũng hơn mà không tự lực trong chiến tranh thì cuối cùng sụp đổ khi không còn viện trợ. Ai có thể tự lực trong chiến tranh khi nó đã xảy ra trên mọi miền đất nước của mình?

    Chính xác, tác giả này nói rất đúng. Hận thù là nguyên nhân khiến Sài Gòn mục nát và thất thủ. Hận thù cũng là nguyên nhân khiến cộng đồng người Việt hải ngoại, xuất xứ miền Nam, liên tục thua trong cuộc chiến chống cộng gần nửa thế kỷ qua. Nhìn cách ứng xử của các chí hữu trong vụ Tập hợp dân chủ đa nguyên của ông Nguyễn Gia Kiểng vừa tan rã gần đây cũng thấy chỉ có hận thù từ các phía. Đi dự sinh hoạt các nhóm trogn cộng đồng mà xem, ngùn ngụt thù hận. Cộng sản thắng vì vì kích động được lòng yêu nước và đoàn kết. Quốc gia thua vì thù hận và mâu thuẫn.