Nguyễn Hữu Liêm giới thiệu "Tương Lai của Tự Do" của Fareed Zakaria (2)

  • Bởi Admin
    07/03/2017
    0 phản hồi

    Nguyễn Hữu Liêm

    Trường hợp của khối Hồi Giáo Ả - rập: Chìa khóa là chính trị, không phải là tôn giáo hay văn hóa

    Đối với thế giới Hồi giáo, dân chủ hóa nhanh chóng đã đưa đến nhiều thảm họa, huỷ diệt tự do và là nguồn gốc của chiến tranh và áp bức. Ở các quốc gia Hồi Giáo trong khối Ả - rập, từ Ai Cập đến Ả - rập Saudi, hay Jordan, hay lãnh thổ Palestine, nếu có bầu cử dân chủ tự do thì các phe Hồi giáo cực đoan theo kiểu Taliban sẽ lên nắm quyền. Các chế độ Ả - rập hiện nay là thối nát, áp bức, vâng, nhưng các lực lượng thay thế họ bằng dân chủ đầu phiếu sẽ còn tồi tệ hơn bao nhiêu lần. Mấy năm trước, lãnh tụ của Kuwait, với sự khuyến cáo của Hoa Kỳ, đã đề nghị cho phụ nữ ở đó được quyền bỏ phiếu. Nhưng quốc hội của Kuwait, đa số là của khối Hồi Giáo bảo thủ, đã từ chối dứt khoát. Tương tự như thế. Khi hoàng tử Abdullah của Ả - rập Saudi đề nghị cho phụ nữ Saudi được quyền lái xe, các phe bảo thủ đã vận động dân chúng chống lại, và cuối cùng dự kiến đó phải bị huỷ bỏ. Không như ở Tây phương, tự do phát huy dân chủ và dân chủ xây đắp tự do (liberalism produced democracy and democracy fueled liberalism), đối với khối Ả - rập Hồi giáo thì ngược lại, cao trào dân chủ dẫn đến chiến tranh, áp bức, độc tài và nhiều thảm họa khác. Vấn đề ở đây không hẳn chỉ vì tôn giáo. Trường hợp của Indonesia hay Malaysia chẳng hạn. Các quốc gia này cũng là Hồi giáo nhưng lại có dân chủ và một mức độ tự do khá thành công.

    Nguồn gốc của các cao trào Hồi giáo cực đoan thì phức tạp. Từ văn hóa, tôn giáo, con người, địa dư, khu vực Ả - rập có một lịch sử quan hệ phức tạp và đầy mâu thuẫn với Tây Âu. Từ đó đã phát xuất rất nhiều nguyên cớ chống Tây phương của người Ả - rập. Tuy nhiên, trên bình diện tự do cho chính người Hồi Giáo, thì nguyên nhân quan yếu là chính trị – hơn là kinh tế. Nên nhớ rằng Osama bin Laden đến các lãnh tụ khủng bố Hồi Giáo khác đều xuất thân từ các gia đình thượng lưu giàu có ở Ả - rập Saudi và Ai Cập. Theo Zakaria, vấn đề là sự thiếu cải tổ về hướng tự do của các đế chế cầm quyền Ả - rập. Các chế độ Ả - rập, dựa vào nguồn tài nguyên dầu hỏa, để tiếp tục củng cố các đế chế lỗi thời, thay vì cải cách chính trị và các quy trình tự do khác khi mà ý thức về thời đại và tự do của các khối quần chúng Ả - rập đang lên cao. Các dự án xã hội chủ nghĩa mà các quốc gia Ả - rập thử nghiệm càng làm cho đất nước chậm phát triển, chính quyền thêm thối nát và thiếu hiệu năng. Zakaria cho rằng nếu các chế độ Hồi Giáo Ả - rập hiện nay từ từ mở rộng không gian tự do thì phong trào Hồi Giáo cực đoan sẽ không còn hấp dẫn quần chúng nữa. Chìa khóa là những phát huy tiệm tiến con đường dân chủ hóa để không cho các phong trào cực đoan lợi dụng dân chủ để nắm chính quyền – nhưng đồng lúc thoả mãn ý nguyện tự do và phát triển, hiện đại hóa của quần chúng. Con lộ dẫn đến tự do và dân chủ đòi hỏi kiên nhẫn, khôn khéo, ý chí quyết tâm. Ở đây, văn hóa không phải là trở ngại cho quá trình này. Zakaria cho rằng khi chính quyền theo đuổi những dự án kinh tế, xã hội và chính trị đúng đắn và hợp thời, hợp lòng người thì văn hóa và tôn giáo sẽ thay đổi và đáp ứng theo. Văn hóa và tôn giáo không phải là một định tính bất di dịch. Văn hóa, và ngay cả tôn giáo, ở một tầm mức nào đó, chỉ là một sản phẩm của chính trị và kinh tế.

    Trường Hợp Hoa Kỳ: Thảm trạng của dân chủ quá mức

    Nếu giàu có là chỉ số của hạnh phúc thì đáng ra dân chúng Mỹ phải hạnh phúc hơn ai cả. Nhưng dù trong suốt một phần tư thế kỷ qua, nền kinh tế Mỹ đã đem đến thêm năm ngàn tỷ Mỹ kim cho dân chúng, thế mà các cuộc thăm dò cho thấy rằng dân Mỹ không cảm thấy hạnh phúc hơn gì cả trong suốt thời gian qua. Ngược lại, nhiều chỉ số tâm lý khác cho thấy là dân chúng Mỹ càng bất mãn hơn về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa nhiều so với mấy thập niên khác. Tại sao? Nguyên nhân chính là cao trào dân chủ phổ thông kiểu Mỹ đã làm cho nền chính trị công quyền bị tê liệt, mất hiệu năng, và trên nhiều phương diện, càng ngày càng trở nên phản dân chủ. Nguyên lý dân chủ đa số của Hoa Kỳ được cân bằng bởi những nguyên tắc hiến pháp nhằm tôn trọng quyền cơ bản của thiểu số. Ý tưởng cơ bản là sự quân bình giữa tự do và dân chủ. Tuy nhiên, khi nguyên tắc dân chủ đa số đã trở nên cao trào lớn thì hệ quả của nó là sự suy tàn của những định chế truyền thống, những giá trị văn hóa xã hội có thẩm quyền, và từ đó vai trò của các nhóm đặc quyền, đặc lợi nắm hầu hết các diễn đàn chính trị, và chính sách của quốc gia. Hoa Kỳ ngày nay, theo Zakaria, là một quốc gia thiếu quân bình: rất dân chủ nhưng thiếu tự do.

    Vấn đề ở chỗ rằng chính giới Mỹ hiện nay “chẳng làm gì cả” ngoài chuyện chạy theo dư luận nhất thời của quần chúng. Kết quả thăm dò dư luận trở nên chìa khóa định hướng cho chính sách. Mà dư luận quần chúng thì bất thường, ích kỷ, và thiển cận. Vì thế mà các vấn đề lớn như an sinh xã hội, tiền hưu, bảo hiểm y tế... cả hành pháp lẫn lập pháp đều không dám đụng đến để cải cách lâu dài và cơ bản. Một số những chính sách khác thì bị kiểm soát bởi một thiểu số đặc quyền năng động – như chính sách ngoại giao của Mỹ với Cuba và Do Thái thì bị kiểm soát bởi các khối dân Mỹ gốc Do Thái và Cuba, hay chính sách trợ giúp nông nghiệp vô lý thì bị giới nông dân nắm chặt diễn đàn. Còn chính giới dân cử? Từ tổng thống cho đến nghị viên, thống đốc... ai nấy suốt ngày đều lo vận động gây quỹ tranh cử, cho mình hay cho đảng mình. Không khi nào mà tiền bạc đã trở nên máu thịt cho chính trị Hoa Kỳ như hiện nay. Dân chủ Mỹ là dân chủ của kẻ có tiền. Nền chính trị bầu cử của Mỹ đã trở nên một thị trường bỏ phiếu – tranh cử chính trị nay đã trở nên tiếp thị quyền lợi. Hệ quả là không có một tầng lớp lãnh đạo có thẩm quyền đạo đức và viễn kiến, tách rời khỏi đám đông thiển cận và nhất thời, ích kỷ để lãnh đạo quốc gia. Dân chủ Mỹ là của một đám đông ồn ào, đầy xúc cảm, chỉ biết quyền lợi của mình – và đây là nguyên nhân cho những bế tắc chính sách dẫn đến sự xuống dốc của thế lực và vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ trên trường thế giới.

    Thêm một yếu tố văn hóa khác đang làm cho xương sống chính trị và xã hội Mỹ xuống dốc: đó là cái mà Zakaria gọi là cái chết của thẩm quyền (“the death of authority”). Dân chủ Mỹ đạt được một tầm mức tự do cao độ là nhờ vào nền tảng xã hội dân sự, sự trưởng thành của báo chí, hội đoàn, giáo dục, địa phương tự quản. Điều này thì Alexis Tocqueville đã viết rất rõ trong cuốn Democracy in America (Nền dân trị Mỹ). Ngày nay, các khối thẩm quyền đã dần dần biến mất. Giới luật sư và bác sĩ, chẳng hạn, thay vì đóng vai trò nhân tố lãnh đạo chính trị và công quyền và dân sự từ trung ương đến điạ phương, nay chỉ lo phần kinh tế. Xã hội Mỹ không còn các khối ưu tú, the elites, để đóng vai trò hướng đạo, cân bằng xã hội và chính trị với trí tuệ và tâm khí trưởng thành. Kết quả là một nền dân chủ năng động như là một tập thể thiếu niên không được điều hướng và tiết chế bởi những người lớn khôn khéo và trưởng thành.

    Zakaria nêu lên một trường hợp điển hình của quan điểm xã hội Mỹ đối với giới ưu tú. Trong cuốn phim ăn khách Titanic, khi tàu đang chìm xuống, phim chiếu cảnh các hành khách khoang hạng nhất, first class, dành lên phao cứu hộ với phụ nữ. Phải nhờ đến các thuỷ thủ dùng súng uy hiếp thì khi đó phụ nữ và trẻ em mới dành được các phao cứu sống họ. Tuy nhiên, hình ảnh trong phim trái ngược với câu chuyện đã xẩy ra. Cảnh phim đã bị nhà sản xuất thay đổi nhằm thể hiện và đáp ứng một sự chống đối tầng lớp ưu tú của khán giả hiện nay mà thôi. Câu chuyện thực thì hoàn toàn trái lại. Những người còn sống đã kể lại một câu chuyện hòan toàn khác. Ở khoang hạng nhất, tỷ lệ phụ nữ được cứu sống cao nhất so với các khoang trung bình hay phổ thông. Ở khoang hạng nhất, 70 phần trăm đàn ông bị chết, trong khi tất cả trẻ em được cứu và chỉ có 5 phụ nữ bị chết (3 phụ nữ đã tình nguyện chết theo chồng khi chồng không chịu lên phao) và 144 được cứu. Ở khoang hạng nhì 90 phần trăm đàn ông bị chết, trong khi 80 phần trăm phụ nữ được cứu. Tức là, giới giàu có thượng lưu (ở khoang hạng nhất và hạng nhì) tuân thủ cao độ nguyên tắc đạo lý cứu phao khi tàu đắm: phụ nữ và trẻ em là ưu tiên. John Jacob Astor, người giàu có hàng đầu nước Mỹ thời ấy, lúc tàu Titanic chìm, đã dành bơi đến một tàu nhỏ cứu hộ, bỏ vợ ông vào khoang, xong rồi không chịu lên tàu cứu hộ với vợ, nhường chỗ cho trẻ em và phụ nữ khác, vẫy tay chào và chìm xuống biển đông lạnh mà chết. Benjamin Guggenheim, một đại gia Mỹ khác, cũng đã hành xử như thế. Ông đã nhường chỗ trên phao cứu nạn cho một phụ nữ khác, trước khi chìm xuống biển, nhờ người phụ nữ kia nhắn lại, “Xin nói với vợ tôi... Tôi đã chơi đẹp cho đến phút cuối cùng... Không người phụ nữ nào bị bỏ lại trên boong vì Ben Guggenheim là tên hèn nhát. ” Giới thượng lưu, giàu có của xã hội Mỹ thời đó đã sống và hành xử theo một đạo lý danh dự cao, the unwritten code of honor, cho dù có dẫn đến một cái chết chắc chắn. Họ là những cột trụ và xương sống của một nền dân chủ tự do. Ngày nay, giới thượng lưu trọng danh dự này không còn nữa. Đây là một trong những nguyên nhân cho sự xuống dốc của xã hội Hoa Kỳ.

    Chìa khóa cho tự do là một chính phủ hiệu năng

    Thực tế trên thế giới suốt nửa thế kỷ qua đã cho chúng ta thấy rằng dân chủ không phải là giải pháp quan yếu cho các quốc gia nghèo đói, áp bức và hỗn loạn. Vấn nạn đối với các quốc gia đang phát triển, theo Zakaria, không phải là thiếu dân chủ mà bất hiệu năng trong quản lý. Từ Iraq cho đến Palestine, đến Haiti, đây là một căn bệnh ung thư – tham nhũng, thối nát, bất lực – đang huỷ hoại đời sống của con người. Hầu hết cả thế giới ngày nay, thử thách lớn lao là mâu thuẫn dân sự, nghèo đói, bệnh tật, phong trào dân tộc và tôn giáo cực đoan. Những căn bệnh nầy không những huỷ hoại mầm mống dân chủ hay tự do, chúng còn không cho một trật tự xã hội nào được kiến tạo. Ngay cả Phi châu, nơi mà nhiều người nhìn với con mắt bi quan, thì thập niên nầy đã có những bước tiến khả quan về hướng dân chủ, tự do, với bầu cử hiệu năng và những chính thể rộng mở. Thử thách cho các nền dân chủ non trẻ không phải là chính trị dân chủ mà là tự do – tức là một chính quyền hiệu năng với những dự án chính trị kinh tế tiệm tiến và hợp lý, hợp lòng người và thời đại. Zakaria trích lời của James Madison từ The Federalist Papers rằng, “Khi thiết kế một chính quyền theo cơ chế con người quản chế con người, khó khăn nằm ở chỗ: trước hết ta phải cho phép chính quyền kiểm soát những người bị trị, kế đến mới là bắt buộc chính quyền phải biết tự chế chính mình. ” Trật tự trước, tự do sau. (Đây là tiền đề chính mà tôi đã phác họa trong “Dân Chủ Pháp trị: Công lý, Tự do và Trật tự Xã hội,” 1996)

    Bài học cho Việt Nam

    Với những luận đề trên của Zakaria từ Tương Lai của Tự Do, người Việt hiện nay có tìm ra được một luận chứng cơ bản nào khả dĩ áp dụng cho lý tưởng dân chủ, tự do cho nước nhà?

    1. Việt Nam có phải là một “illiberal democracy”? Theo định nghĩa và tiêu chuẩn của Zakaria – “dân chủ phi tự do” phải có bầu cử lãnh đạo quốc gia công bằng mà kết quả thể hiện ước muốn của đa số – thì Việt nam không phải hay chưa phải là một nền dân chủ phi tự do. Việt Nam hiện nay, dưới chế độ độc đảng Cộng Sản, là một quốc gia độc tài đang trên chiều hướng khai mở. Tức là Việt Nam đang đi từ một chế độ độc tài toàn trị, totalitarianism, đến một thể chế độc đoán, authoritarianism. Nhân dân đang dần được sống trong một không gian kinh tế thông thoáng hơn, thịnh vượng hơn, chính trị ngày càng bớt khắt khe. Tuy rằng về các phương diện như báo chí, hội đoàn thì về chính sách ngày càng bị giới hạn và kiềm chế – dù internet đã làm cho mọi chính sách về tư tưởng và thông tin, báo chí của Đảng trở nên vô hiệu. Độc tài của Việt Nam là một thể loại độc tôn chủ nghĩa trong định chế đảng trị, cộng với một guồng máy công quyền và nhân sự thiếu hiệu năng và thối nát. Nó không như các thể loại độc tài cá nhân hay quân phiệt như Nam Hàn hay Singapore trước đây vốn đã xây dựng những định chế cần thiết cho không gian tự do nhằm tạo cơ hội tiến đến dân chủ pháp trị.

    2. Việt Nam có thể chuyển hóa từ độc tài đảng trị sang một độc tài pháp trị? Nên nhớ rằng các nền dân chủ lớn như Ấn Độ và Mexico, cho đến gần đây, vẫn là những quốc gia dân chủ độc đảng. Nếu đảng Cộng Sản Việt Nam có thể (1) Từ bỏ nội dung và hình thái chủ nghĩa Mác - Lenin, (2) Mở rộng không gian tự do bằng con đường xây dựng những định chế pháp trị và pháp quyền khách quan với một hệ thống tư pháp và tòa án vô tư, độc lập, hiệu quả, (3) Đặt ưu tiên vào kinh tế thị trường, giảm thiểu vai trò quốc doanh thiếu hiệu năng, (4) Tôn trọng quyền tư hữu ruộng đất và bất động sản chính thức bằng hiến pháp, (5) Cải tổ bộ máy hành chánh công quyền trở nên hiệu năng, trong sạch, minh bạch, (6) Xây đắp một đội ngũ công chức, cán bộ và lãnh đạo địa phương xứng đáng, (7) Cải tổ sâu rộng cơ chế và chính sách giáo dục,... thì độc quyền độc đảng không phải là một khuyết điểm bất trị. Singapore là một mô hình độc đảng hiệu năng khi họ đã theo đuổi một định hướng tự do như vậy. Khi thịnh vượng quốc gia chưa đạt đến mức chuyển hóa chính trị, như Zakaria biện luận, thì chìa khóa cho sự chuyển hóa nầy không phải chỉ là ý thức tự do – mà nhân dân Việt Nam có đủ – mà là ý chí tự do và cách mạng thể chế của một khối quần chúng quyết định, the critical mass, hay một vài lãnh đạo có ý lực đạo đức cho tự do, the moral will to liberty, nhằm thuyết phục, thúc đẩy, thực thi cải cách toàn diện cho cả một bộ máy lỗi thời, ù lì và phản tiến bộ của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện giờ. Với tình hình hiện nay, ý thức và nhu cầu cách mạng thể chế đã chín muồi – và chỉ có người cộng sản Việt Nam, đang nắm vai trò trọng yếu trong thể chế, đương quyền, “có tâm, có tầm, ” mới có khả năng làm chủ được cuộc thay đổi này.

    3. Nếu dân chủ hóa thì Việt Nam sẽ đi vào hỗn loạn không? Câu trả lời phải là không, hay là với một khả năng rất thấp. Chúng ta phải công nhận rằng, trên trường quốc tế, khách quan nhận xét, về phương diện nội trị, để thiết lập một thể chế chính trị ổn cố, một trật tự công quyền và an ninh vững chắc, thì Việt Nam đã và đi một bước thành công khá xa – dù cho nội dung trật tự, bản sắc công lý, mức độ trong sạch, minh bạch trong một không gian tự do, pháp trị đã không đạt được một tầm mức mà phần đông dân chúng mong muốn. Từ một trật tự ổn cố nhưng chưa đạt được một nội dung thể chế xứng đáng, Việt Nam đang có nhiều cơ hội và khả năng chuyển hóa sang con lộ dân chủ bằng phương thức khai mở các định chế tự do hiến định (constitutional liberalism). Nhắc lại tiền đề lịch sử mà Zakaria nêu lên trong cuốn sách này: Tự do trước, dân chủ sau. Đây là quy trình đáng tin cậy dẫn đến một nền dân chủ vững bền và có thực chất. Không như các quốc gia khác, ở Việt Nam thì mâu thuẫn địa phương, chủng tộc, hay các yếu tố phân biệt không sâu đậm hay chưa có một lịch sử chia rẽ khó hàn gắn. Ngay cả mâu thuẫn tôn giáo ở Việt Nam cũng rất thấp. Một tổng thống dân chủ của một Việt Nam dân chủ có thể tấn công dàn khoan Trung Quốc ở biển Đông để xoa dịu và mỵ dân trước cao trào bài Trung, khai mào một cuộc chiến mới đầy tai hại với Trung Quốc. Hay các sắc dân thiểu số gốc Khmer ở Tây Nam bộ, hay gốc Thái, Nùng ở cực Bắc có thể nổi lên phong trào tự chủ; hay một khối quần chúng ở Sài Gòn tranh đấu cho những giá trị hay biểu tượng cũ của Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng đây là những nguy cơ tương đối thấp vốn có thể giải quyết bằng những phương thức đối thoại và hòa giải khôn khéo bởi lãnh đạo quốc gia. Phải nên nhớ rằng, dù dân chủ hay không, hay dưới bất cứ chế độ, thể chế hay nhân sự lãnh đạo nào, toàn bộ cơ chế quân đội, công an và hành chánh Việt Nam hiện nay phải được giữ nguyên – dĩ nhiên là phải được cải cách toàn diện, độc lập khỏi đảng phái, trong sạch hóa, chuyên môn hóa, và pháp chế hóa. Sai lầm của Hoa Kỳ khi lật đổ Sadam Hussein ở Iraq vào năm 2003 là giải thể quân đội và guồng máy chính thể của đảng Baath, tạo nên một khoảng trống công quyền và hành chánh, dẫn đến hỗn loạn không chữa trị được. Trong lúc đó, khi Nelson Mandela của Nam Phi, vị tổng thống da đen đắc cử, đã giữ nguyên hệ thống hành chánh công quyền của người da trắng, tạo nên một sự chuyển quyền êm đẹp, tiếp tục cải cách xã hội một cách đầy trật tự và hiệu năng.

    5. Người Cộng Sản Việt Nam (CSVN) có thể tự tiến hành một cuộc cách mạng thể chế hay không? Không ai có thể lường trước được cái gì có thể xẩy ra và như thế nào cho tương lai. Chúng ta hãy bình tâm nhìn lại: Từ khi đi theo khúc quanh đổi mới, suốt phần tư thế kỷ qua, đảng CSVN đã đạt được những thành công về kinh tế, xã hội, ngoại giao đầy ấn tượng, không gian tự do cá nhân và xã hội cũng được mở rộng ra nhiều – dù không được như là lòng dân và thời đại đòi hỏi. Nếu chấm bảng điểm thì họ đã đạt được điểm C+ hay là C - , vừa đủ để đỗ, nhưng chưa đến mức thành công. Nhưng cho đến nay thì con đường đổi mới của đảng CSVN đang đi đến tận cùng hết mức khả thể và khả thi của nó. Chính thể và guồng máy công quyền Việt Nam, từ định chế quy tắc đến phẩm chất nhân sự, đang đi vào con lộ băng hoại, thối nát, thiếu hiệu năng, chuyên quyền và bất công trên hầu hết mọi phương diện. Hãy nhìn vào sinh hoạt giáo dục ở học đường. Không có quốc gia nào, mà chúng ta biết được, có nạn “phong bì” hối lộ ngang nhiên và mất nhân phẩm giữa học trò và thầy cô như ở Việt Nam hiện nay. Nhìn đâu cũng thấy tham nhũng, thối nát, từ trung ương đến địa phương, từ giáo dục đến quân đội, công an, hay thương trường. Tham nhũng, đút lót nay đã trở thành quy luật phổ biến chứ không còn là ngoại lệ. Đảng CSVN phải chịu trách nhiệm trước quốc nạn này. Như Zakaria đã nêu lên, văn hóa tham nhũng khởi đi từ văn hóa chính trị, văn hóa chính trị khởi đi từ thể chế và chính sách sai lầm của lãnh đạo. Không thể trách rằng nhân dân chấp nhận văn hóa tham nhũng được. Thối nát xã hội Việt Nam hiện nay bắt nguồn từ thối nát chính trị và công quyền. Công bằng mà nói, trên thế giới hiện nay, như Ấn Độ, Cam Bốt, Venezuala, Indonesia, nạn thối nát, tham nhũng công quyền không thua kém gì ở Việt Nam. Những ai đã đi qua Ấn Độ, một nền dân chủ từ 1947, thì sẽ thấy công an giao thông ở đó tống tiền tài xế còn trắng trợn hơn ở Việt Nam nhiều. Tuy nhiên, sai lầm của kẻ khác không phải là biện minh hay là lý do tha thứ hay chấp nhận cho sai lỗi của mình. Chúng ta phải hỏi, tại sao Singapore hay Đài Loan, vốn chưa phải là những quốc gia dân chủ tự do đúng nghĩa, nhưng lại có một nền hành chánh công quyền hiệu năng, trong sạch và minh bạch? Tất cả đều có nguyên nhân từ lãnh đạo thể chế chính trị. Việt Nam xứng đáng để có một thể chế chính trị tốt đẹp hơn hiện nay. Tuy nhiên, với một chính chế và quy trình đang có để tuyển lọc nhân sự lãnh đạo của đảng CSVN, khó mà có một hay vài cá nhân có khả năng vượt qua được tính ù lì, bảo thủ của cơ chế. Những ai có ý chí cải cách mạnh đều bị loại ra khỏi guồng máy để rồi trở nên những tiếng nói bất mãn, vô hiệu quả. Rốt cuộc, mọi người muốn tham dự vào đế chế phải tuân thủ và nói theo một luận điệu có sẵn như các bô lão đọc sớ cúng ở đình làng theo đúng nghi thức. Tình hình hiện nay đòi hỏi một nhân vật gần như phi thường, đầy mưu lược, vận dụng nhiều mưu kế khác nhau, trong viễn kiến cải tổ thể chế toàn triệt, dành được quyền hạn quyết định để tiến hành một cuộc thay đổi lớn cho lý tưởng dân chủ tự do. Nhưng đây chỉ là ước mơ, ít có khả năng thành hiện thực. Cái còn lại với xác suất cao hơn là một Bộ Chính Trị mới có tâm và tầm nhìn chiến lược cho quốc dân, vượt qua quyền lợi cá nhân và phe phái, tiệm tiến cải tổ sâu rộng và từng phần cho bộ máy chính trị và công quyền hiện nay. Tức là, tự do trước, dân chủ sau. Nếu không có những yếu tố bất định trong chính trị quốc gia và thế giới, hay là sự khởi động của một cao trào quần chúng trong một năng lực ý chí và ý thức tự do mới – thì liệu đây có phải là định mệnh cho Việt Nam trong vòng hai ba thập niên tới?

    6. Dựa trên những bài học lịch sử dân chủ hóa trên toàn thế giới gần đây, và trên nguyên tắc lý thuyết của Tương Lai của Tự Do mà Zakaria đưa ra, thì Việt Nam – ít nhất là trong vài thập niên tới – sẽ rất khó mà có được một thể chế chính trị dân chủ như nhiều người mong muốn. Tương lai cho tự do và dân chủ ở Việt Nam sẽ còn là một con lộ nhiều thử thách, cay nghiệt và đầy bi vọng.

    Nguyễn Hữu Liêm

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi