Thích Trí Quang: "Người làm rung rinh nước Mỹ" (phần 1)

  • Bởi Admin
    27/02/2017
    19 phản hồi

    Định Thiên

    Thời còn ở Huế, tôi thường được cha dẫn lên chùa Từ Đàm đọc kinh Pháp Hoa mỗi sáng Chủ Nhật. Sau khoảng nữa năm thì cha không dẫn đi nữa mà mua một bộ kinh Pháp Hoa về nhà tự đọc. Tôi hỏi tại sao, ông nói: "cha thích kinh Pháp Hoa bản dịch của Thượng Tọa Thích Trí Quang hơn, bản đọc ở chùa Từ Đàm là do vị khác dịch". Tôi bắt đầu để ý cái tên Thích Trí Quang từ đó.

    Sau này lớn lên vào Sài Gòn đi học đi làm, hễ nghe ai nói sách báo có tên Thích Trí Quang là tôi tìm đọc cho bằng được. Đáng kể nhất là thời sinh viên, tôi chơi thân với một người bạn tu sĩ Phật giáo. Những khi rỗi tôi lên chùa chơi thì được thỏa thích với tủ sách lớn của nhà chùa mà anh ấy trách nhiệm trông nom, trong đó có rất nhiều tài liệu in trước 1975 viết về Thích Trí Quang.

    Đầu năm 1994 một lần đến chùa được bạn chỉ cho thấy một ông lão trong bộ áo vạt hò lụa trắng, ngồi an nhiên trên chiếc xe xích lô từ từ tiến vào con hẻm chùa trên đường Lê Quang Định quận Gò Vấp rồi nói: "Hòa thượng Trí Quang thần tượng của anh tới kìa"! Dáng vẻ thanh thoát của ông hôm đó càng tăng thêm phần cuốn hút. Từ những cơ duyên như vậy mà tôi quan tâm tìm tòi, am hiểu kha khá về ông.

    ht-thich-tri-quang.jpg

    Tóm tắt thân thế và sự nghiệp

    HT.Thích Trí Quang tên khai sinh là Phạm Quang sinh năm 1924 ở làng Diêm Điền tỉnh Quảng Bình. Năm lên 6 tuổi ông được mạ cho đi học chữ Nho với một thầy giáo làng có tiếng. Năm 14 tuổi ông được gởi vào Huế xuất gia và theo học các chương trình Phật học tại chùa Báo Quốc. Là một học trò thông minh luôn đạt điểm cao trong các kỳ thi, Ông được các thầy giáo thọ giao cho công việc giúp soạn giáo án và làm trợ giảng.

    Mặc dù có lý tưởng xuất gia mạnh mẽ nhưng chứng kiến nhiều lần người Pháp gia tăng đổ bộ vào các tỉnh miền Trung, lòng ông nặng mối ưu tư về nguy cơ mất nước. Thích Trí Quang viết trong Tự Truyện, “Tôi khẳng định vị trí ‘Tăng sĩ Phật giáo của tôi. Nhưng tôi suy nghĩ về sự đô hộ của người Pháp. Khi đọc bản tường trình sự cần thiết thành lập Mặt trận Việt minh của Trường Chinh, nội dung nói rõ quan điểm ‘giải phóng dân tộc’ làm tôi chú ý" (1).

    Mang tâm tư đó ông đã tham gia hoạt động của Hội Phật giáo cứu quốc và bị Pháp bắt giam quản thúc năm 1946. Năm 1947, khi được thả ra ông đã theo Việt Minh vào Chiến khu chống Pháp. Tại sao ông không tiếp tục đi theo Việt Minh mà quay trở lại đời sống tu hành? Không có tài liệu nào trả lời thẳng vào câu hỏi này, nhưng dựa vào nhiều cứ liệu thì có thể suy đoán được.

    Trong tự truyện cũng có đoạn ông viết: "sau khi giải phóng dân tộc rồi thì Việt Minh không dừng lại ở đó". Phải chăng ông đã sớm nhận thức lực lượng Việt Minh sau khi giành cách mạng rồi thì sẽ thực thi học thuyết Cộng Sản trên toàn cõi Việt Nam? Một học thuyết mà sau này khi trả lời phỏng vấn báo Time ông nói: "Những suy nghĩ trong đầu họ còn nguy hiểm hơn súng họ cầm trong tay" (2), câu nói cho thấy lập trường tư tưởng của ông đối với chủ thuyết Cộng Sản là lập trường đối nghịch. Điều đó lý giải vì sao con đường “phò” Việt Minh, ông đã rẻ nhánh.

    Những tưởng có thể yên thân để toàn tâm toàn ý với chức phận một thiền sư, giảng dạy Phật học và phiên dịch kinh sách như hoài bảo ông mang, thì thời cuộc lại đặt lên đôi vai ông trọng trách bảo vệ đạo Phật. Năm 1963 cùng với vài tăng sĩ khác ông nổi lên là vai trò thủ lĩnh, là chỗ dựa tinh thần cho tăng ni phật tử trong phong trào "Pháp Nạn Phật Giáo".

    Phật giáo Đại thừa, pháp tu mà ông theo, xiển dương tinh thần "nhập thế" (engaged buddhism), cho rằng: "thoát ly cuộc đời đi tìm giải thoát là việc làm vô nghĩa, chẳng khác gì việc đi tìm sừng thỏ" (ly thế mích Bồ đề do như cầu thố giác). Cho nên gặp khi vận nước rối ren đạo Phật lâm nguy thì ông không thể vô can. Vì vậy mặc dù không ai sai khiến nhưng ông đã ra lãnh ấn tiên phong kiên định lập trường bảo vệ đạo Phật.

    Và ông hiểu rõ hơn ai hết, có một chỗ dựa tinh thần vững chắc của các đại lão hòa thượng: Thích Tịnh Khiết, Thích Giác Nhiên, Thích Giác Tiên, Thích Mật Thể… luôn luôn gia bị cho ông, cùng với bản lĩnh của các bạn tu đồng môn như Thích Đôn Hậu, Thích Mật Nguyện, Thích Trí Thủ, Thích Mật Hiển, Thích Thiện Minh, Thích Thiện Siêu, Thích Nhất Hạnh... luôn luôn kề vai sát cánh với ông. Có thể nói, nếu không có sự hậu thuẫn của nguồn năng lượng tâm linh đó thì không có gì bảo chứng cho những hành hoạt sắc sảo và đầy quyết đoán của Thích Trí Quang.

    Sự kiện "Pháp Nạn Phật Giáo" phát xuất ở Huế với việc 8 thanh niên Phật tử bị bắn chết đêm 8/5/1963 ở góc chân cầu Trường Tiền mạn Nam Sông Hương, khi đồng bào Phật tử tập họp tại đài phát thanh nghe tường thuật lễ Phật Đản như thường lệ, nhưng hôm đó chương trình đã bị chính quyền cắt bỏ không cho phát thanh. Từ sự kiện đó một làn sóng phản đối chính quyền lan rộng ra các tỉnh thành Quảng Trị, Nha Trang, Phan Thiết, Sài Gòn… thành phong trào chống kỳ thị Phật giáo.

    Ngày 10/05/1963, một bản tuyên ngôn được soạn thảo nêu ra năm nguyện vọng của Phật giáo được gởi tới tổng thống Ngô Đình Diệm: 1.Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt hạ cờ Phật giáo; 2.Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa giáo đã được ghi trong Đạo dụ số 10; 3.Yêu cầu chính phủ chấm dứt tình trạng bắt bớ và khủng bố tín đồ Phật giáo; 4.Yêu cầu cho tăng ni Phật tử được tự do truyền đạo và hành đạo; 5.Yêu cầu chính phủ đền bồi một cách xứng đáng cho những người chết oan vô tội, và kẻ chủ mưu giết hại phải được đưa ra xét xử.

    Ngày 15.05.1963, một Bản Phụ Đính của Tuyên ngôn 10/05/1963 được công bố, giải thích rõ ràng năm nguyện vọng nói trên: Phật giáo Việt Nam không chủ trương lật đổ chính phủ mà chỉ nhằm thay đổi chính sách của chính phủ; Đối tượng của cuộc tranh đấu tuyệt đối không phải là Thiên Chúa giáo mà là chính sách bất công tôn giáo. "Chúng tôi tranh đấu cho lý tưởng Công Bình, chứ không phải tranh đấu với tư cách một tôn giáo chống một tôn giáo"; Cuộc tranh đấu của Phật giáo đồ được thực hiện đường lối bất bạo động. Phật giáo Việt Nam từ chối sự lợi dụng của "những người cộng sản và của những kẻ mưu toan chức vị chính quyền" (4).

    Phong trào có lúc cao trào với ngàn sư sải phật tử bị bắt, hàng chục tăng ni tự thiêu để phản đối. Cũng có lúc sóng ngầm như đã ký được Thông cáo chung ngày 16/6/1963 giữa HT. Hội chủ Hội Phật giáo VN Thích Tịnh Khiết và Tổng thống Diệm. Nhưng chính quyền đã phá vỡ nội dung Thông cáo chung tiếp tục đàn áp sinh viên phật tử biểu tình bất bạo động, bắn chết nữ sinh Quách Thị Trang trước bùng binh chợ Bến Thành Sài Gòn.

    Đặc biệt ngọn lửa tự thiêu của HT Thích Quảng Đức ngày 11/6/1963 đã gây xúc động thế giới, ngọn lửa đồng thời cũng làm rung chuyển chính quyền Ngô Đình Diệm. Ngày 1/11/1963, anh em Diệm Nhu đã bị chính những tướng tá quân đội thuộc quyền của ông tạo phản giết chết, nền Đệ Nhất Cộng Hòa chính thức sụp đổ. Tên tuổi của Thích Trí Quang lan qua tới Mỹ và lan ra thế giới. Tháng 4/1966 tuần báo Time đã đăng hình ông lên trang bìa và ghi lời chú "Người làm rung rinh nước Mỹ" (5).

    Năm 1964, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN) ra đời đã truy tôn HT Thích Tịnh Khiết làm Đệ Nhất Tăng Thống, Thích Trí Quang giữ vai trò Tổng Thư ký xử lý Viện Tăng Thống. Năm 1975 GHPGVNTN bị chính quyền mới ngăn cấm hoạt động thì ông về sống ẩn dật ở chùa Ấn Quang đường Sư Vạn Hạnh quận 10 Sài Gòn, trong sự theo dõi gắt gao của công an mật vụ. Năm 1996 ông chuyển về sống ẩn dật tại chùa Già Lam quận Gò Vấp và đến năm 2004 Ông chuyển ra sống ẩn tu tại chùa Từ Đàm Huế cho đến nay. Dù tuổi cao sức yếu ông vẫn cần mẫn công việc dịch kinh sách, biên soạn tự điển Phật học từ Hán văn sang Việt văn.

    Sống giữa hai làn đạn

    Chủ trương hoạt động của Thích Trí Quang và lý tưởng của ông là gì? Thích Trí Quang theo ai, Quốc Gia hay Cộng Sản? Có phải Ông một lòng một dạ theo Phật? Là những câu hỏi gây tranh cãi kéo dài hàng chục năm làm "tổn thất" giấy bút cho báo giới.

    Nếu quả thực Thích Trí Quang là “cộng sản nằm vùng”, điều đó có nghĩa là phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng tôn giáo năm 1963 của Phật giáo không có chính nghĩa, đồng thời chuyện kỳ thị tôn giáo dưới thời của Tổng thống Ngô Đình Diệm là chuyện bịa đặt. Đó là những vấn đề cần được mổ xẻ để trả lại sự trong sáng cho lịch sử.

    Theo Wikipedia, tướng Nguyễn Hữu Có, nguyên phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng chế độ VNCH thời kỳ 1963 – 1967, cho rằng trong Sự kiện 30 tháng 4, 1975 thì Hòa thượng Thích Trí Quang là một kênh liên lạc của đại tướng Dương Văn Minh với “phía bên kia”.

    Trang 451 của tập hồi ký Tâm sự tướng lưu vong, Hoàng Linh Đỗ Mậu viết: “Trong số những Tăng sĩ lãnh đạo cuộc đấu tranh chống chế độ Diệm, Thượng tọa Thích Trí Quang là nhân vật bị anh em nhà Ngô đánh giá là nguy hiểm hơn cả” (6).

    Nhiều văn thư lưu hành trong phủ tổng thống và các chỉ thị đối với cấp dưới, anh em Diệm Nhu gọi Trí Quang là “tên thầy chùa Cộng Sản”. Trong "Thích Trí Quang, thần tượng hay tội đồ của dân tộc" của tác giả Liên Thành, người từng làm Trưởng Ty cảnh sát tỉnh Thừa Thiên Huế, cho rằng các nhân sĩ trí thức ở Huế là Đảng viên Cộng Sản đã được Tố Hữu kết nạp năm 1949 tại khu Lương Miêu, Dương Hòa tỉnh Thừa Thiên Huế, trong đó có Thích Trí Quang, Thích Thiện Minh, GS Tôn Thất Dương Kỵ, Bác sĩ Lương Ngọc Quyến... (7).

    Tài liệu thượng dẫn lưu hành khá rộng rãi trong số hàng trăm tài liệu thuộc trường phái cáo buộc Thích Trí Quang là Đảng Viên Cộng Sản hoặc có dây mơ rễ má với Cộng sản. Tuy nhiên, cũng tồn tại hàng trăm tài liệu tố cáo ngược lại: Thích Trí Quang là điệp viên CIA của Hoa Kỳ, hoặc là những tài liệu chứng minh lập trường đối lập với chủ thuyết Cộng Sản của ông.

    Trong tự thuật "Thống nhất phật giáo Việt Nam" của Đỗ Trung Hiếu (một cán bộ công an tôn giáo cao cấp của nhà nước) viết năm 1994, kể lại rằng ông Hiếu đã báo cáo với cựu bộ trưởng bộ ngoại giao Xuân Thủy về việc Trần Bạch Đằng, cựu bí thư thành ủy Sài Gòn, cho rằng Thích Trí Quang là loại “CIA chiến lược”. Không lâu sau, khi bàn phương án thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam định hướng XHCN (tức là Phật giáo Quốc doanh bây giờ) ông Xuân Thủy đã chỉ thị: “không cơ cấu Thích Trí Quang, nếu không bao nhiêu nhân tài đều lọt vào tay áo của ông ta hết” (8).

    Trong tác phẩm “Thích Trí Quang và Chiến Tranh Việt Nam” (Only Religions Count in Vietnam: Thich Tri Quang and the Vietnam War) của Giáo sư Williams College và James McAllister, Massachusetts Hoa Kỳ được Nhà Xuất Bản Modern Asian Studies ấn hành năm 2007, khẳng định rằng: “Không một ai trong số nhiều người Việt thù ghét Trí Quang, những kẻ chỉ chờ cơ hội để bôi nhọ ông, hay những kẻ hoài nghi về động lực chính trị của ông, có thể đưa ra bằng chứng vững chắc về bất cứ liên kết nào giữa ông và Cộng sản” (9).

    Trả lời phỏng vấn báo TIME gồm các phóng viên Frank McCullock và James Wilde với sự có mặt của cộng tác viên người Việt là thông dịch viên Thân Trọng Huề, về câu hỏi: "có hay không một bộ phận Việt Cộng ở Miền Nam"? Thích Trí Quang đã trả lời: "Theo tôi, đây chỉ là cách chơi chữ. Người ta cố tách biệt Cộng Sản Bắc Việt và Cộng Sản Miền Nam. Thật ra không có sự phân biệt như vậy. Cả hai đều là Cộng Sản. Điều tôi lo lắng là chủ thuyết trong đầu họ còn nguy hiểm hơn súng mà họ cầm trên tay".

    Trong Thích Trí Quang tự truyện, ông kể: “Thực sự có 3 bên không muốn tôi sống. Họ muốn Phật giáo không còn là mối bận tâm cho họ nữa”. Người đọc ngầm hiểu, "ba bên" mà ông nhằm đến là: chính quyền Mỹ, chính quyền Miền Nam và lực lượng Cộng Sản Miền Bắc. Cho thấy, không phải ông đã sống giữa hai làn đạn mà là ba làn đạn.

    Duy chỉ có “một bên” không “tham chiến”, là nơi mà ông luôn luôn muốn tìm về đó là đạo Phật là truyền thống tâm linh thầy tổ của ông trong nếp sống thiền môn xứ Huế, mới đích thực là triết lý tư tưởng xuyên suốt trong thế cuộc dĩ bất biến ứng vạn biến của thiền sư Trí Quang.

    Liên Thành đã nhân danh một vị tướng trong chế độ VNCH và khoa trương nguồn gốc gia đình: “là cháu của HT. Thích Tịnh Khiết” để cáo buộc Thích Trí Quang và Thích Thiện Minh được Tố Hữu kết nạp Đảng năm 1949 ở Huế. Việc nêu ra sự kiện có tính chất bôi nhọ mà không dẫn nguồn, không có nhân chứng vật chứng là ấu trĩ và bất khả tín! Có lẽ Liên Thành không biết (hay cố tình không biết), sau 1975 Thích Thiện Minh đã bị công an Cộng Sản trù dập khốc liệt và đã chết thảm như thế nào trong nhà tù năm 1978, còn Thích Trí Quang tuy sống ẩn dật nhưng vẫn bị mật vụ theo dõi gắt gao như thế nào, là những minh chứng cho sự cáo buộc vô căn cứ của ông (10).

    Liên Thành cũng cho rằng vấn nạn Cộng Sản của dân tộc Việt Nam ngày nay là do ba bên: “Chính quyền Mỹ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất và Cộng sản Bắc Việt”! Là một tướng Công an, khi chế độ sụp đổ mà ông không tự vấn trách nhiệm của những người cầm quyền trong đó bản thân ông là một nhân vật chủ chốt, toàn đổ vấy trách nhiệm cho những lực lượng bên ngoài là không đáng mặt làm tướng! Nên nhớ, Diệm Nhu quyền bính tột đỉnh nắm chính quyền VNCH trong tay gần 10 năm, một thời gian đủ dài để có thể làm nên lịch sử, nhưng họ đã thất bại. Hậu thế nhìn thấy nguyên nhân sự thất bại nằm trong những lời lẽ thiếu dũng khí của tướng Liên Thành.

    Định Thiên

    Tổng hợp và bình luận

    Đón đọc: THÍCH TRÍ QUANG NGƯỜI LÀM RUNG RINH NƯỚC MỸ (PART II)

    Ngô Đình Diệm vs Thích Trí Quang: khúc quanh lịch sử đầy tiếc nuối.

    Vai trò của bà Nhu: “Tiếc thay một đóa hồng nhan”

    Thay lời kết: "Ưng vô sở trú nhi sanh kỳ tâm"

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    19 phản hồi

    Bác SJ
    Tôi đang viết một bài trả lời một phần những phản biện của bác. Nếu DL nhận xđăng, xin bác đón đọc

    Cám ơn 2 bác Phong Uyên và SJ.
    Nhờ những trao đổi của 2 bác, tôi đã hiểu thêm được những vấn đề thời cố TT Ngô Đình Diệm.

    Nguyễn Jung

    Cám ơn phản hồi của bác Phong Uyên; tôi vẫn rất trân trọng các bài viết và ý kiến của bác vì bác rất cẩn thận và đầy đủ với các đóng góp của bác.

    Phong Uyên viết:
    Trả lời bác SJ :

    1) Theo tôi hiểu, ý bác muốn nói sở dĩ các tướng lãnh VNCH phải làm cuộc đảo chính năm 1963 là vì trước sự chống đối của ông Diệm không muốn có sự hiện diện của quân đội Mỹ ở miền Nam nên Mỹ hăm dọa rút quân, cắt viện trợ, "thì đương nhiên cuộc chiến chống cộng sẽ thất bại và nhóm tướng lãnh sẽ bị CS xử tử trước nhất". Nói tóm lại, các tướng lãnh muốn bảo toàn tính mạng nên phải hạ ông Diệm ông Nhu để rước Mỹ vào VN và Phật giáo chống ông Diệm cũng có tội vì giúp Mỹ có cớ bỏ VN !

    Không hẳn như thế. Điều mà mọi phe liên hệ đến VNCH (Mỹ, ông Diệm/Nhu, các tướng đảo chính và ngay cả phần đông các chính trị gia đối thủ của ông Diệm ở miền Nam thưở đó) đều đồng ý là cần phải chống CS và giữ miền Nam tự do. Ở ngoài mặt, Mỹ chỉ tuyên bố muốn có cố vấn và tiếp tục viện trợ, giữ kín việc mật đàm với ông Diệm/Nhu về các yêu cầu của chính quyền Mỹ: đó là 1/ mang quân (200K lính) vào miền Nam, 2/ mướn cảng Cam Ranh (99 năm) và 3/ đặt quân VNCH dưới sự chỉ huy của tướng lãnh Mỹ (đây là theo các nguồn tin không chính thức nhưng đáng tin cậy tôi tìm được qua mạng từ những người có liên hệ với con người và thời cuộc giai đoạn đó; có thể bác đã biết về chi tiết này); sự bí mật có lý vì đó là những điều nhạy cảm và có ảnh hưởng không những trong nước mà cả quốc tế. Những đòi hỏi của Mỹ có lý do mà nếu ta thực sự hiểu nước Mỹ và chính trường QT thời đó sẽ không ngạc nhiên: Mỹ đã phải đóng quân ở Nam Hàn, Nhật, Đức và ở cả các nước đồng minh khác nữa sau TC2 để phòng thủ đối phó với CSQT. Trong TC2 và chiến tranh Hàn Quốc, Mỹ đã đứng ra lãnh đạo khối quân đội khổng lồ gồm từ các nước khác nữa và đã thành công với mục đích của họ nên Mỹ không thể nghĩ rằng họ có thể thua một nước nhược tiểu trong chiến tranh, hoặc có thể để chính phủ/tướng lãnh VNCH làm chủ chiến trường hoàn toàn và họ chỉ là vai phụ, lo tiếp tế mà thôi. Đây là điều mà Mỹ đã quá tự tin và đánh giá thấp bài toán ở VN về mặt chiến tranh, chính trị, cũng như con người VN nhưng nó có lý do lịch sử khiến Mỹ đã có thái độ như thế (tôi tin là mọi xét đoán QS của Mỹ vào giai đoạn này đều dựa vào thứ chiến tranh qui mô mà họ đã từng có kinh nghiệm, và họ tin là sẽ giống như ở Triều Tiên thôi). Thứ hai, các tướng lãnh VNCH trong thời đó đều là từ lò huấn luyện của Pháp mà ra, mà Pháp thì đã quá kém đối đầu với Đức Quốc Xã trong TC2 (mất quá nhanh) và đã thua Việt Minh ở ĐBP, Mỹ do đó không đánh giá cao và tin tưởng vào khả năng của các tướng lãnh VNCH; trao viện trợ cho quân lực VN và không lãnh đạo cuộc chiến thì dễ sẽ phải coi như đổ của xuống biển mà sẽ vẫn thua. Thứ ba, cảng Cam Ranh quan trọng trong chính sách đường dài đối phó với TQ thì nay ai cũng đã hiểu, và lẽ ra đã nên được hiểu rõ ngay trong thời đó vì TQ mới là đe dọa trường kỳ của VN; tôi nghĩ sự đánh giá thấp về Cam Ranh và chỉ lo về sự hiện diện của QĐ Mỹ do VN chưa có kinh nghiệm gì hết về hàng hải trong kinh tế thế giới song song với vấn đề QS.

    Trên mặt chính trị quốc nội, ông Diệm có lý do rất chính đáng để không chấp nhận những ước muốn này như những người VNCH đã hiểu rõ, nhưng nếu muốn Mỹ chỉ viện trợ những khoảng tiền khổng lồ cho chiến tranh (bên cạnh những giúp đỡ về kinh tế, giáo dục và y khoa) mà không am hiểu những khía cạnh như tôi nêu trên thì người ngoài cuộc sẽ thấy cuộc xung đột bất phân giải sẽ phải tới lúc đổ vỡ vì cả hai phe không có sự thông cảm về nhận định của nhau.

    Tôi rất nể tài năng của ông Nhu, nhưng việc điều đình với CS là một sự phiêu lưu không hề có khả năng thành công vì ở giai đoạn đó khối VNCH còn rất chia rẽ, không có lợi thế gì trên CS Bắc Việt để mà thương lượng mong họ đừng gây chiến. Nếu chỉ cậy vào lòng yêu nước và muốn miền Bắc tránh mang ảnh hưởng TQ và miền Nam tránh chi phối của Mỹ thì e rằng nó đòi hỏi niềm tin cao vào thành tâm của cả hai bên – điều mà sẽ mất thời gian dài để vun cấy. Trừ khi các tướng lãnh và thành phần nòng cốt trong chính quyền có sự tin tưởng tuyệt đối vào lãnh đạo của ông Diệm/Nhu, các tướng lãnh rất khó mà chấp nhận tin tưởng với những gì phe CS hứa hẹn, cũng như không có gì để bảo đảm rằng sẽ không có thay đổi nhân sự bất ngờ ở miền Bắc và rồi sẽ đưa đến đổ vỡ của con đường ông Nhu muốn thực hiện. Việc vào rừng gặp phe Bắc Việt này đã khiến cho phe chống ông Nhu thêm nghi kỵ vì ông Diệm/Nhu chưa có sự tin tưởng tuyệt đối từ các thành phần lãnh đạo ở miền Nam, không phải vì họ sợ ông Nhu theo CS nhưng họ lo và sợ CS phản bội hơn cả. Cũng cần nói thêm, vụ ‘trung lập hóa Lào’ chỉ là ‘red herring’ để đánh lạc hướng quần chúng, không phải là xung đột chính giữa ông Diệm/Nhu và Mỹ.

    Khi những chống đối từ nhóm chính gia tranh quyền cũng như đảo chính ẩu của một nhóm nhỏ trong quân đội thất bại từ khoảng ‘60, có thể nói rằng tóm lại đều là các tranh chấp chính trị do thiếu tinh thần và kiến thức dân chủ (từ các đảng VNQDĐ, Đại Việt cũng như Cần Lao). Nó đã tai hại nhưng không nguy hiểm như chiến tranh tôn giáo (mà các chính gia Âu Mỹ đã học được với kinh nghiệm ở mọi nơi trên TG). Vả lại, các lãnh tụ phe chống đối đều không phải là thành phần Mỹ có thể chống lưng đưa ra để thay ông Diệm.

    Và vì đã sẵn có sự chống đối ngày càng cao của các nhóm PG miền Trung từ khi chính quyền ông Diệm thi hành chính sách truy lùng diệt CS nằm vùng và xây dựng các ấp chiến lược, khu trù mật, Phật Giáo Ấn Quang và TTQ là thành phần quan trọng nhất Mỹ có thể dùng để áp lực ông Diệm. Tại sao tôi cho hai vấn đề này có liên hệ với nhau? Vì tuy bề mặt việc chống đối từ PG thì như các nhóm này đã từng tuyên bố (như mọi người đã từng nghe và đọc, tỉ dụ như ở trang mạng Giao Điểm trước đây và ngay trong bài viết chính của trang này), bề chìm là do sự truy lùng ráo riết các đảng viên CS nằm vùng (ở miền Trung nhiều hơn so với trong Nam vì địa lý) mà ông Cẩn thực hiện; và CS đã luôn dựa vào các chùa PG và sư cô để tìm trú ẩn, nương tựa. Những thành phần này trước đó là trong Việt Minh và chống Pháp vì yêu nước – nay theo CS nhưng ở lại Nam để làm quân âm binh; đây là điều mà ai cũng đã biết. Trước 54, quân Việt Minh đã từng dùng chiêu thuật này với Pháp khi phải chạy ẩn náu và rất thành công vì Pháp cũng tránh đụng đến chùa, sư. Khi ông Diệm lên nắm quyền, các cơ quan mật vụ không nương tay dễ dàng để CS lộng hành, và họ đã khá thành công tiêu diệt lực lượng này (các sách CS viết sau 75 có xác nhận về việc mất mát và sợ cũng như căm hờn ông Cẩn). Và như thế, nhóm PG cực đoan thù ghét Công Giáo lợi dụng vào sự kiện các ‘Phật tử yêu nước’ nhưng bị rùng bắt/tiêu diệt này để chứng minh ‘PG bị đàn áp’, và ngược lại, CS lợi dụng nhóm PG cực đoan này để tiếp tục gây xung đột tôn giáo, làm sứ mệnh đánh đổ miền Nam. Những người Phật tử chân thật tham gia phong trào thì đã bị lừa khi họ tin là những cựu thành viên Việt Minh đó không theo CS và chỉ là người yêu nước chân chính.

    Mỹ đã giúp phe PG chống đối và dùng TTQ để làm vai ‘tài tử chính’ trong vở kịch xung khích tôn giáo trong việc gây áp lực với ông Diệm/Nhu, và giúp đưa tạo chính nghĩa cho thái độ của chính quyền Kennedy đối với ông Diệm trên công luận nước Mỹ – điều này rất quan trọng nếu thực sự Mỹ sẽ phải đưa tới quyết định lật đổ ông Diệm. Họ không lo về khối CS nằm vùng kia vì họ không cho là lực lượng đáng kể có thể đánh đổ miền Nam và vì thế họ sẵn sàng giúp phe Ấn Quang và phong trào chống ông Diệm; họ lo hơn về chiến tranh qui mô và nhất là nguy hiểm của vũ khí nguyên tử nhắm vào Mỹ hay các đồng minh ở vị trí quan trọng. Rất có thể trước khi có khủng hoảng hỏa tiễn nguyên tử của Nga ở Cuba vào tháng 10/1962, Mỹ còn muốn tiếp tục tìm thương lượng với ông Diệm/Nhu, nhưng sau đó thì đã tới lúc cấp bách và chính quyền Kennedy đã ‘bluff’ - đối với dư luận dân chúng Mỹ cũng như Việt và chính quyền ông Diệm – rằng họ sẽ thực sự rút cố vấn ra khỏi VN và có thể không theo đuổi chính sách chống CS ở Việt Nam nữa. (Các tài liệu ghi lại các cuộc thảo luận của nội các thời Kennedy có ghi lại những dữ kiện chứng minh thái độ này.) Với đe dọa rút viện trợ và tuyên bố công khai với dân Mỹ vào năm ‘63 như thế, tôi không thể nghĩ rằng các tướng lãnh VNCH sẽ bình chân như vại như những năm tháng trước đó trong những bàn thảo với tính cách cá nhân giữa họ và đại sứ, tướng lãnh Mỹ. Do đó, Trần Văn Đôn dù không cho là ông Diệm có chính sách đàn áp PG nhưng vì ông cho là chính sách của ông Diệm thất bại và nguy hiểm khi Mỹ có phần đã quyết định muốn bỏ VN, đã chấp nhận cùng Dương Văn Minh và Đỗ Mậu – hai nhân vật ủng hộ PG cực đoan – lãnh đạo cuộc đảo chính; họ đoan chắc miền Nam sẽ mất vào tay CS sớm nếu không có Mỹ giúp viện trợ QS (khi Pháp đã bị đẩy ra và không có thế chính trị để mà trở lại). Trần Văn Khiêm cũng có thái độ như Đôn và đã bị Mỹ thuyết phục; Tôn Thất Đính thì vẫn còn có lòng trung thành với ông Diệm nhưng rốt cuộc cũng đã bị thuyết phục (và đến cuối đời vẫn “tội nghiệp ông cụ” trong các phỏng vấn); nhiều nhân vật khác thì bị đẩy vào thế không cưỡng nổi và có lẽ cũng vì thấy triển vọng nguy hiểm của việc Mỹ từ từ rút ra (như ông Thiệu, Khánh) mà họ đành phải theo nhóm đảo chính (vì họ vẫn có thái độ kính trọng hai ông Diệm/Nhu sau này). Có những tướng nhất quyết không tham gia (như Cao Văn Viên), họ biết “ông cụ” đáng kính và hiểu rõ vai trò của CS trong chống đối của PG dù họ không phải là Công Giáo và cũng không mấy lo về việc Mỹ rút vì có thể họ chỉ cho đó là những khó khăn tạm thời.

    Tôi viết ra không phải để bênh vực nhóm tướng lãnh đảo chính, chỉ muốn trình bày (sau khi tìm hiểu mọi phía) tại sao lại có biến cố 63 đó. Nếu bỏ ra ngoài các yếu tố cá nhân (thù hằn tư, hoặc tôn giáo họ theo), các tướng lãnh đó đã có quyết định sai lầm ở điều là họ đã bị chính quyền Kennedy đẩy vào bàn cờ chính trị và bị ép vào một quyết định lịch sử; việc tăng cao xung đột tôn giáo với cao điểm là cuộc đốt cháy Thính Quảng Đức gây tiếng vang lớn trên cả thế giới khiến các tướng lãnh bị thúc đẩy hành động, dù đa số không phải trong phe của Ấn Quang và TTQ.

    Với tất cả sự ngưỡng mộ và kính trọng hai ông Diệm/Nhu, tôi tiếc rằng có lẽ hai ông đã không nhận ra (hoặc có thể quá trễ nhận ra) cách nhìn sự việc theo góc của nước Mỹ để đưa đến đảo chính. Và đương nhiên quá tiếc rằng nước Mỹ đã rất lầm lẫn (điều mà họ đã gián tiếp công nhận sau này) với sự theo đuổi chính sách QS ở VN như Mỹ đã làm. Nếu ông Diệm đã thông cảm với nước Mỹ hơn và mềm dẻo hơn để có thể có những điều kiện và hoàn cảnh để ít nhất Mỹ có căn cứ QS ở Cam Ranh, và điều kiện để họ có thể tham gia vào chiến tranh VN và tăng niềm tin vào khả năng chống CS của QL VNCH mà không phải mất mát một người lính Mỹ nào thì có lẽ Mỹ cũng đã có thể chấp nhận. Đương nhiên đây chỉ là suy đoán, nhưng hiểu được nước Mỹ và chính quyền khiến tôi cho là điều này đã có khả thi.

    Phong Uyên viết:
    3) Tất cả mọi tài liệu tôi thâu thập được, kể cả những công điện của Mỹ vừa mới được giải mật, đều khằng định Mỹ muốn đổ quân vào miền Nam để trực tiếp …

    Đồng ý. Đúng hoàn toàn.

    Phong Uyên viết:
    4) Tất cả những tài liệu tôi thâu thập được …. Chống Mỹ cũng sẽ không bảo toàn được tính mạng nên điều đình với cộng sản cũng là một cách bảo vệ tính mạng mình và cũng có thể giúp ông Hồ thoát khỏi được sự chi phối của Tàu.

    Tôi đã viết đủ ở trên. Sự mạo hiểm đã chỉ gây nên nghi kỵ hơn là có khả năng giải quyết được vấn đề, vì có thể nói ông Nhu đã có cả nội thù lẫn ngoại thù rất mạnh vào lúc điều đình này.

    Phong Uyên viết:
    5) Cũng cần phải hiểu là ông Nhu, ông Diệm chống cộng, không phải là vì ghét chủ nghĩa Mác xít mà chỉ là ……. Thử xem ông Cẩn kính trọng các thày chùa Từ Đàm đến độ nào ! Nên không thể nói là ông Nhu ông Diệm vì là công giáo nên muốn bức bách Phật giáo trong khi những bộ trưởng thân tín của mình đều là những người theo đạo Phật.

    Tôi nghĩ rằng ông Diệm/Nhu chống cộng và ghét chủ nghĩa Mác xít thật sự, nhưng hai ông hiểu rằng phần đông các đảng viên CS – cả Việt Nam lẫn Trung Quốc - mang tinh thần dân tộc hơn là tin vào CS đại đồng vô tổ quốc, và do đó hai ông tin rằng miền Bắc theo chủ nghĩa Mác xít đã là tai hại rồi, mà lệ thuộc vào TQ (bất kể Mác xít sẽ thành công hay không) sẽ còn là tai hại cấp bình phương! Về triết lý Nhân Vị của ông Nhu tuy có giá trị và có thể áp dụng cho VN, đó không phải là triết lý căn bản về chính trị tổ chức xã hội hay làm kinh tế, nên nó không có mức thực tiễn để là giải đáp cho vấn đề xây dựng miền Nam mà chỉ có thể là ‘bổ sung’ vào các nguyên tắc chính trị/kinh tế của Âu Mỹ. Tôi đã đọc “Chính Đề VN” của ông Nhu và hiểu rằng tuy đó là một công trình rất lớn và hay hơn mọi luận đề chính trị tôi được biết, muốn xây dựng công nghệ và tổ chức xã hội sẽ vẫn phải có những giải pháp giống như của Mỹ hay của Pháp mà cái chốt vẫn là tư bản và thị trường tự do. Trong khi đó, để có súng đạn để dùng trong chiến tranh, cả Nam lẫn Bắc vẫn phải dựa vào ngoại bang, thứ vũ khí cần thiết mà không có thì coi như không thể bảo đảm chính thể theo ý mình muốn được. Chính phủ Trần Trọng Kim đã bị cướp chỉ với các khẩu súng bắn chim (!!!) với dao tay và súng cá nhân (theo tôi được cha ông kể lại).

    Và đúng như bác đã viết, ông Diệm/Nhu không hề có chính sách bức bách PG. 70% hoặc hơn các tướng lãnh và nội các cũng như quốc hội đều không phải là CG; phó tổng thống là Phật tử; nhiều thân tín ngay trong phủ TT cũng là Phật tử. Các cáo buộc của phe Ấn Quang đều dựa vào ngụy biện và xuyên tạc sự thật để bảo vệ việc chống ông Diệm (chỉ vì gia đình họ là CG). Báo chí Mỹ đã không làm bổn phận tìm sự thật mà đã chỉ dùng tuyên truyền của mật vụ Mỹ để giúp chính quyền Kennedy. Tuy vậy, sự tuyên truyền mãi và lâu đã khiến một số người đổ tin theo (như vài nhân vật trong nội các ông Diệm).

    Phong Uyên viết:
    7) Phật giáo có phải con cờ của cộng sản không ? Năm 1963, tôi không có bằng chứng. Năm 1966, có thể một phần bị CS lợi dụng. Nhưng những điệp viên thứ nặng ký nhất của cộng sản như đại tá Phạm Ngọc Thảo, Hai Long , tức thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ, em nuôi của Ngô Đình Nhu, đều là người Công giáo.

    Như tôi đã viết trên, cả PG Ấn Quang cũng như CS đã lợi dụng lẫn nhau để đánh đổ ông Diệm. Và CS đã tiếp tục lợi dụng PG để gây bất an nữa vào ‘66, nhưng Mỹ đã không quan tâm và cuộc tấn công mà ông Kỳ và Loan lãnh đạo đã khiến chiêu bài tôn giáo này bị đập tan. Khối CG thì khó bị lợi dụng hơn nhưng vẫn có ở mức nhỏ (Lm Chân Tín và một vài Lm khác nữa). Trong tình huống bị phe PG tấn công, ông Diệm và ông Thiệu sau này đã bị sơ hở để những điệp viên CS mang danh CG lọt vào. Tôi cho là đó là do tài năng của các cá nhân này và là điều không may cho VNCH. Có thể nói, một phần vì miền Nam tự do nên các điệp viên dễ hoạt động hơn (Nguyễn văn Linh và Võ văn Kiệt ra vào Saigon dễ dàng như đi chơi), một phần vì khả năng phản gián của miền Nam - hay phải nói là khoa học phản gián thì có lẽ đúng hơn - còn quá yếu nên mới ra nông nỗi như vậy.

    Biết là dài, nhưng vấn đề lịch sử nhiều khúc mắc và ly kỳ nên phải viết dài mới trình bày được những điều mà tôi tin là chính xác nhất để hiểu về giai đoạn đó. Cám ơn bác Phong Uyên đã trao đổi.

    Trả lời bác SJ :

    1) Theo tôi hiểu, ý bác muốn nói sở dĩ các tướng lãnh VNCH phải làm cuộc đảo chính năm 1963 là vì trước sự chống đối của ông Diệm không muốn có sự hiện diện của quân đội Mỹ ở miền Nam nên Mỹ hăm dọa rút quân, cắt viện trợ, "thì đương nhiên cuộc chiến chống cộng sẽ thất bại và nhóm tướng lãnh sẽ bị CS xử tử trước nhất". Nói tóm lại, các tướng lãnh muốn bảo toàn tính mạng nên phải hạ ông Diệm ông Nhu để rước Mỹ vào VN và Phật giáo chống ông Diệm cũng có tội vì giúp Mỹ có cớ bỏ VN !

    2) Tôi cũng xin nhắc lại là năm 1962-63 không có quân đội Mỹ ở VN mà chỉ có những cố vấn quân sự. Như tôi đã nói, theo sự đòi hỏi của ông Diệm, Mỹ đã giao ước là số cố vấn này, từ 14 ngàn cuối năm 1962 đến cuối năm 1965, phải xuống còn 1500 người. Sau đảo chính, xsố quân đội Mỹ đổ vào VN tới hơn 500 ngàn người !

    3) Tất cả mọi tài liệu tôi thâu thập được, kể cả những công điện của Mỹ vừa mới được giải mật, đều khằng định Mỹ muốn đổ quân vào miền Nam để trực tiếp ngăn chặn cộng sản (Tàu) tràn xuống ĐNÁ qua "người lính tiền phong" là CSVN như đã làm ở Nam Hàn. Chắc chắn là nếu không có sự quân đội Mỹ trực tiếp đương đầu với lính Bắc Hàn và Trung Cộng thì Nam Hàn đã mất. Theo sụ suy tính của Mỹ thì sự đổ quân vào Việt Nam cũng vậy thôi. Bởi vậy, Mỹ phải dùng mọi thủ đoạn để thay ông Diệm bằng những tướng lãnh dễ bảo hơn và phải lợi dụng vụ Phật giáo để làm dân chúng oán giận rồi hứa hẹn với các tướng lãnh là cứ làm đảo chính đi,... sẽ có hạm đội 7 và 2 tiểu đoàn thủy quân lục chiến 3 ngàn người, sẽ được đưa tới Sài Gòn để giúp quân đảo chính chiến thắng (theo cuốn NVChức 1989 tr 73 và cuốn Thành-Đức 1994 tr. 297).

    4) Tất cả những tài liệu tôi thâu thập được, kể cả cuốn "Ông cố vấn" của Hà Nội và nhất là trong những cuốn của Trần Văn Đôn và trong tập 5 của cuốn "Việt sử Khảo Luận" của luật sư hoàng Cơ Thụy, người thủ lãnh của cuộc đảo chính đầu tiên chống ông Diệm năm 1960 , không kể những tài liệu tiếng Anh, tiếng Pháp, đều đưa ra những chi tiết và lí do vì sao ông Nhu ông Diệm muốn hòa hoãn với ông Hồ. Là những người quốc gia yêu nước, 2 ông Diệm Nhu không thể chịu được sự khống chế của Mỹ, đồng thời cũng biết là nếu để quân Mỹ vào sẽ mất hết chính nghĩa thì còn thua cộng sản đậm hơn. Chống Mỹ cũng sẽ không bảo toàn được tính mạng nên điều đình với cộng sản cũng là một cách bảo vệ tính mạng mình và cũng có thể giúp ông Hồ thoát khỏi được sự chi phối của Tàu.

    5) Cũng cần phải hiểu là ông Nhu, ông Diệm chống cộng, không phải là vì ghét chủ nghĩa Mác xít mà chỉ là vì không muốn VN qua chủ nghĩa CS (Staline-Mao) mà phải lệ thuộc Tàu Cộng. Vả lại cũng như mọi trí thức VN được đào tạo ở Pháp, cho tới tận những năm 70, đều khuynh tả như các trí thức Pháp. Chủ nghĩa Cần Lao - Nhân vị của ông Nhu là một sự pha trộn giữa lý thuyết marxít và lý thuyết nhân vị. Ngay đến đạo Công giáo của ông Nhu ông Diệm cũng chỉ bắt đầu từ cụ thân sinh là ông Ngô Đình Khả, một đứa bé 6 tuổi mồ côi mẹ theo cha lưu lạc đến làng Lệ Thủy, cha làm nghề chèo đò, tôi ngủ nhờ đình làng mất sớm , đưa bé Khả được một ông cố đạo người Pháp đem về nuôi, được ăn học và theo đạo. Thử xem ông Cẩn kính trọng các thày chùa Từ Đàm đến độ nào ! Nên không thể nói là ông Nhu ông Diệm vì là công giáo nên muốn bức bách Phật giáo trong khi những bộ trưởng thân tín của mình đều là những người theo đạo Phật.

    6) Hoàn toàn đồng ý với bác SJ, Phật giáo TTQ là con cờ quá tốt đẹp được Mỹ dùng để chiếu tướng anh em ông Diệm. Con cờ này sau vụ ông Diệm bị vứt bỏ xó. Chừng cớ là cuộc nổi loạn Phật giáo năm 1966 bị đàn áp mãnh liệt, chỉ một ngày 70 người bị bắn chết, 9 ni cô, tăng sĩ tự thiêu, tuy có sự ủng hộ của một phần quân đội mà cũng không tạo được biến chuyển gì.

    7) Phật giáo có phải con cờ của cộng sản không ? Năm 1963, tôi không có bằng chứng. Năm 1966, có thể một phần bị CS lợi dụng. Nhưng những điệp viên thứ nặng ký nhất của cộng sản như đại tá Phạm Ngọc Thảo, Hai Long , tức thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ, em nuôi của Ngô Đình Nhu, đều là người Công giáo.

    Bài viết hoàn toàn do cảm tính. Mọi dẩn chứng lịch sử về cá nhân và diển tiến sự việc có liên quan, đều sai be bét, so với các sự thật lịch sử trong cùng giai đoạn đã được bạch hóa gần hết tính tới thời điểm này. Thích trí Quang rỏ ràng và cũng chỉ là một con chốt thí của cộng sản Hanoi không hơn không kém. Im lặng thì sống, ngo ngoe đòi hỏi đải ngộ quyền lợi quá đáng, hay muốn có uy quyền chính trị vượt qua bàn tay sắt của đảng cộng sản thì chết, như các trường hợp Thích thiện Minh, Thích đôn Hậu...là những điển hình.

    Hầu hết hững dữ kiện Phong Uyên đưa ra là đúng, nhưng tôi không đồng ý với điều cho rằng TTQ không quan trọng và chỉ là tiểu tiết trong vấn đề VN.
    Đương nhiên, cá nhân TTQ không là gì vì bất cứ Phật tử nào khác cũng có thể đứng trong vị trí con tốt đó mà Mỹ và CSVN đã xử dụng trong bàn cờ, nhưng sở dĩ TTQ trong vai trò lãnh đạo khối Phật tử chống chế độ là con cờ quá tốt đẹp là vì nếu không có phe PG Ấn Quang và Phật tử xách động chống chế độ ông Diệm, Mỹ đã không thể có lý do chính đáng trong việc hăm dọa rút khỏi miền Nam - điều mà khiến các tướng lãnh VNCH (đảo chính) lo sợ nhất vì nếu Mỹ rút và cắt viện quân sự, thì đương nhiên cuộc chiến chống Cộng sẽ thất bại và nhóm tướng lãnh sẽ bị CS xử tử trước nhất. Chính phủ Kennedy đã chơi poker với ông Diệm chỉ vài tháng trước khi đảo chính bằng cách công khai tuyên bố (ỏ Mỹ và VN) việc bắt đầu rút ra khoảng 1000 cố vấn Mỹ trong khoảng cuối năm 63, dù trong thực tế trong đàm phán mật với ông Diệm, Mỹ muốn mang khoảng 200K quân tớI VN và thuê hải cảng Cam Ranh 99 năm để chống lại khối CS - những điều mà ông Diệm nhất quyết phản đối. Và vì thế ông Diệm đã thua trong màn tháu cáy này của Mỹ, vì nhóm tướng lãnh đảo chính đã nghiêng về niềm tin là Mỹ có cơ sẽ bỏ VN thật (với lý do là dân chúng'mà đa số là Phật tử không ủng hộ ông Diệm - như báo chí Mỹ đã liên tiếp công bố trước đó), mặc dù chỉ một phần số tướng lãnh thực sự làm đảo chính với lý do chống 'đàn áp Phật giáo' này (tỉ dụ Dương Văn Minh, Đỗ Mậu), một số khác thì tin rằng có sự bất công dù không hẳn 'đàn áp tôn giáo' (như Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính), phần khác thì biết là chính sách ông Diệm cứng rắn nhưng họ dư biết CS nằm vùng đầy dẫy đằng sau nhóm PG chống chính quyền (như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Khánh) và họ cũng bị lâm vào thế 'cần Mỹ để chống CS' hơn là bảo vệ chế độ ông Diệm. Vấn đề Mỹ đưa tiền ra chi tiêu cho các tướng này chỉ là phụ thuộc, không phải vì tiền mà họ đã hành động.
    Tôi tin là ông Diệm (và Nhu) đã có lỗi với vấn đề thương lượng với Mỹ vì có lẽ các ông đó không biết đủ về chính trị và QS ở Mỹ trong giai đoạn đó. Mỹ vừa mới có khủng hoảng tên lửa nguyên tử ở Cuba và vì thế họ ở trong mức lo sợ chiến tranh nguyên tử cao nhất (bắt đầu từ giữa thập niên 50); không những thế, Liên Xô còn đang đi trước trong khoa học không gian (Sputnik). Và vì thế, chiến lược ngăn cản Nga/Tàu ở VN và biển Đông rất quan trọng. Ngày nay, không thể phủ nhận rằng, nếu Mỹ đã có căn cứ QS ở Cam Ranh từ thời gian đó, số phận VN đã rất khác.
    Tiếc rằng ông Diệm/Nhu không hiểu được mức lo sợ của Mỹ trong giai đoạn đó và tầm quan trọng của Cam Ranh và biển Đông trong an ninh/thịnh vượng của Việt Nam cũng như Châu Á. Yêu VN quá mức, các ông có lẽ đã bị 'mù quáng' với vấn đề của Mỹ và thế giới nói chung nên đã đưa đến mức bất phân giải đó.

    Rất thích nhận xét của bác NJ.
    Thanh minh là thú tội. Nên chi nói gì đi nữa, trong mắt người dân, hoà thượng TQ vẫn y xì một cán bộ nằm vùng, VC cài cắm vô PGVNTN để góp sức quậy cho tan nát chánh thể VNCH văn minh dân chủ.

    Thiên Chúa luôn thở dài nói:

    Con người vô lương tri
    Tâm mưu thiên nhiên kế
    Sống không trăm năm thọ
    Giá trị quá tầm thường
    Chỉ hưởng 2 thướt đất
    Cùng giấc ngũ thiên thu.

    Phong Uyên viết:
    Đó cũng là lí do vì sao Mỹ phải lợi dụng Phật giáo để lật đổ ông Diệm thay thế bằng những tướng lãnh dễ bảo hơn. Chuyện Thích Trí Quang là tay sai của CS miền Bắc hay của CIA chỉ là tiểu tiết vì Thích Trí Quang cũng như nhiều nhân vật khác, chỉ là quân cờ của cả 2 bên, Mỹ và Cộng sản.

    Tôi cũng nghĩ như bác.
    Nhưng có một số người- Mỹ và Việt- đã "bốc " nhà sư TTQ lên tận mây xanh, như cuốn: "TTQ- người làm rung ring nước Mỹ". Nước Mỹ thì chưa thấy bị rung rinh ra sao, nhưng VN thì đã lệ thuộc- gần như hoàn toàn- vào TQ.

    Tới bây giờ, nhà sư TTQ là một người vẫn còn gây tranh cãi.
    Cuốn tự bạch của ông không để lộ ra một điều gì, để hậu thế có thể phán xét công bằng hơn.

    Nguyễn Jung

    NGT viết:
    Tôi cho rằng tôn giáo chỉ là niềm tin cá nhân vào một điều, mà không chứng minh lặp đi lặp lại và cụ thể được. Và tự do tôn giáo phải là tự do cho mỗi cá nhân trong việc tin hoàn toàn, tin một phần, không còn tin nữa, áp dụng giáo điều hoàn toàn, áp dụng giáo điều tùy ý mình, ...
    Tôi cho rằng chính con người tạo ra tôn giáo, tạo ra các tổ chức tôn giáo, ...
    Người ta nhân danh tôn giáo để hành động nhưng thực ra họ chỉ nhân danh cho họ, nhân danh cho tổ chức tôn giáo

    Đúng như vậy.
    Nhưng ở VN thì khác. Chế độ CS luôn là một chế độ:
    *** Luôn tìm cách khống chế, chỉ huy, lợi dụng Tôn giáo- như ở VNDCCH và CHXHCNVN để mưu cầu lợi thế chính trị, khi đã nắm được quyền bính trong tay.
    *** Khi chưa nắm được quyền bính trong tay thì lợi dụng để phá hoại- như dưới thời VNCH.

    Nguyễn Jung

    Ông Diệm là người chống cộng (chủ nghĩa cộng sản) triệt để nhưng là người yêu nước một cách gần như mù quáng, không bao giờ muốn Mỹ mượn cớ bảo vệ VN, tăng cường sự hiện diện quân sự, nên đòi hỏi Mỹ phải giao ước bớt lần lần số nhân viên quân sự từ 14 ngàn cuối năm 1962 xuống còn 1500 cuối năm 1965. Mỹ nhân cơ hội Phật giáo, khuấy động thêm để không "xuống thang" như đã giao ước với Nhu nữa. Pháp cũng muốn "trả thù Mỹ" nên muốn làm môi giới Bắc và Nam-Việt Nam hòa nhau mà người làm mai là đại sứ Pháp ở Sài Gòn Roger Lalouette qua sự trung gian của giáo sư Manelli, trưởng phái đoàn Ba Lan trong Ủy hộ Quốc tếi Đình chiến. Hồ Chí Minh tuyên bố với chủ tịch Quốc tế Đình chiến Ấn Độ là muốn bắt tay với Diệm, một người "yêu nước theo kiểu của mình" và ra chỉ thị cho Xuân Thủy, bộ trưởng bộ Ngoại giao, làm một danh sách hàng hóa có thể trao đổi với miền Nam như than đá đổi lấy gạo, thực phẩm và cao su (De Gaulle và Việt Nam tr. 114). Bởi vậy chuyện Nhu giả đi săn gặp Phạm Hùng ở Tánh Linh như đã kể trong cuốn sách của Trần Văn Đôn là chuyện có thật.
    Đó cũng là lí do vì sao Mỹ phải lợi dụng Phật giáo để lật đổ ông Diệm thay thế bằng những tướng lãnh dễ bảo hơn. Chuyện Thích Trí Quang là tay sai của CS miền Bắc hay của CIA chỉ là tiểu tiết vì Thích Trí Quang cũng như nhiều nhân vật khác, chỉ là quân cờ của cả 2 bên, Mỹ và Cộng sản. Chuyện làm sao TTQ được đem vào trốn ở tòa đại sứ Mỹ chỉ là tiểu tiết vì chính hoàng thân Bửu Hội cũng đã khẳng định với nhà ngoại giao Pháp Manac'h là trong chùa Xá Lợi, trung tâm của cuộc nổi loạn Phật giáo, có sự hiện diện của nhiều nhân viên CIA (De Gaulle et le Vietnam tr. 111).

    " Ngày 10/05/1963, một bản tuyên ngôn được soạn thảo nêu ra năm nguyện vọng của Phật giáo được gởi tới tổng thống Ngô Đình Diệm:
    1.Yêu cầu chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thu hồi vĩnh viễn công điện triệt hạ cờ Phật giáo; "

    Tôi chưa check internet về việc này nhưng tôi đề nghị, có thể chỉ cho phép treo cờ tôn giáo trong khuôn viên của nhà chùa, nhà thờ và trong nhà cá nhân.

    "2.Yêu cầu Phật giáo phải được hưởng một chế độ đặc biệt như các hội truyền giáo Thiên Chúa giáo đã được ghi trong Đạo dụ số 10; "

    Không biết "Đạo dụ số 10" ghi cái gì nhưng tôi đề nghị, nhà nước không nên liên quan đến một tôn giáo nào, mà tất cả các hội truyền giáo của các tôn giáo phải có chương trình cụ thể về văn hóa, về xã hội và tôn trọng luật pháp chung.

    Tôi cho rằng tôn giáo chỉ là niềm tin cá nhân vào một điều, mà không chứng minh lặp đi lặp lại và cụ thể được. Và tự do tôn giáo phải là tự do cho mỗi cá nhân trong việc tin hoàn toàn, tin một phần, không còn tin nữa, áp dụng giáo điều hoàn toàn, áp dụng giáo điều tùy ý mình, ...
    Tôi cho rằng chính con người tạo ra tôn giáo, tạo ra các tổ chức tôn giáo, ...
    Người ta nhân danh tôn giáo để hành động nhưng thực ra họ chỉ nhân danh cho họ, nhân danh cho tổ chức tôn giáo

    Tôi là Phật tử, có pháp danh từ nhỏ nhưng không nhớ pháp danh, theo tinh thần tự do, không thích bó buộc theo phe phái, không thích logique partisane (partisan logic ??).
    Tuy tự nhận là Phật tử nhưng tôi không biết rõ những việc đã xảy ra thời ông Diệm và nhà sư TTQ.

    Có một đều tôi thích xã hội thế tục (laïcité), tách rời nhà nước và tôn giáo.

    Đồng ý với còm của bác Phong Uyên.

    Dù nhà sư TTQ là một tu sĩ có thể thông thái, am tường về đạo Phật. Nhưng việc ông là người đã đề nghị= xúi giục các Tăng ni, Phật tử đem bàn thờ Phật xuống đường là một hành vi vô đạo, lợi dụng Tôn giáo, vượt qua khỏi giới hạn của trang nghiêm, tôn trọng đạo lễ.

    Tên tác giả viết:
    .......
    Năm 1963, sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm dùng bạo lực đàn áp các cuộc biểu tình phản kháng của Phật giáo, Hòa thượng Thích Trí Quang đã đóng một vai trò quan trọng trong việc sách động và duy trì cuộc khủng hoảng chính trị lâu dài, một cuộc khủng hoảng cuối cùng đã dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm. Trong Sự kiện Phật Đản, 1963, Hòa thượng Thích Trí Quang là nhà lãnh đạo Phật giáo được báo chí quốc tế nhắc nhở tới nhiều nhất. Khi Chùa Xá Lợi bị tấn công, tăng ni bị bắt, việc ông vượt khỏi hàng rào nhà tù vào lánh nạn trong Toà Đại Sứ Mỹ tại Saigon từng được coi là một bí ẩn, mọi chi tiết chưa từng được kể lại. Tuần báo Time đã từng đăng hình Hòa thượng với lời ghi chú "Người làm rung rinh nước Mỹ".

    ........
    Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, hai anh em Diệm Nhu bị giết, Hòa thượng Thích Trí Quang vẫn không trở về với vị trí bên lề của trường chính trị, ông tiếp tục vận dụng ảnh hưởng to lớn của mình lên sinh mệnh chính trị của Việt Nam Cộng hòa bằng cách ban bố hay từ chối hậu thuẫn của mình cho những chế độ quân nhân đã điều hành quốc gia từ 1964 đến 1966. Trong vụ Biến động Miền Trung vào năm 1966, Hòa thượng Thích Trí Quang là người đề nghị đồng bào đưa bàn thờ Phật xuống đường để ngăn chặn lối đi của quân chính phủ.

    https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%ADch_Tr%C3%AD_Quang

    Tên tác giả viết:
    sau 1975 Thích Thiện Minh đã bị công an Cộng Sản trù dập khốc liệt và đã chết thảm như thế nào trong nhà tù năm 1978, còn Thích Trí Quang tuy sống ẩn dật nhưng vẫn bị mật vụ theo dõi gắt gao như thế nào, là những minh chứng cho sự cáo buộc vô căn cứ của ông

    Những gì nhà nước CS làm với 2 nhà sư kể trên là chuyện vắt chanh bỏ vỏ, giống như khai tử toàn bộ MTGPMNVN.
    Mà không chỉ 2 nhà sư trên, còn vô số những người khác đã bị khai trừ, loại bỏ, trù dập, sau khi đã cống hiến cho nhà nước VNDCCH, MTGPMNVN.

    Một sự thật không thể chối cãi là: Nhà sư TTQ là người đã góp rất nhiều công vào việc lật đổ VNCH, hệ quả là nước VN ngày hôm nay, ai cũng thấy.

    Nguyễn Jung

    Cảm ơn các bác đã nhắc nhở, chúng tôi đã thay lại ảnh đại diện cho bài viết. Xin thành thật xin lỗi tác giả và độc giả!

    Nguyễn Công Huân

    Theo cuốn "De Gaulle et le Vietnam" của tiến sĩ sử học Pierre Journoud, nghiên cứu viên viện Khảo cứu chiến lược trường Đại học Quân sự Pháp, CIA đã có trách nhiệm làm tăng thêm những biến động Phật giáo. Tôi xin trích dịch lại đoạn nói về những biến cố này: "... Cũng vậy, cuộc mưu sát ngày 8-5 ở đài Phát thanh Huế giữa buổi truyền thanh Phật giáo, người ta nói là do sự chủ mưu của đại úy Scott, một nhân viên của CIA. Sự tự tử của nhà sư Thích Quảng Đức cũng là do sự khuyến khích, nếu không muốn nói là được CIA tạo ra.. Sự kiện nhà sư Thích Trí Quang, được coi là linh hồn của cuộc nổi loạn, chạy chốn vào nhà một nhà ngoại giao Mỹ ở Sài Gòn và sau được đưa vào trú ẩn ở tòa Đại sứ Hoa Kỳ, là một thí dụ sự có bàn tay Mỹ nhúng vào và chứng minh tính cách chính trị cũng như sự giả tạo của sự nổi loạn Phật giáo.... ( De Gaulle và Việt Nam xb năm 2011 Tr 110-121 ).