Một góc nhìn đời sống xã hội Việt Nam qua tục ngữ cải biên

  • Bởi Admin
    21/02/2017
    2 phản hồi

    Chung

    Có thể nói, hai yếu tố văn hóa nông nghiệp và làng xã đã tôn tạo nên dáng hình xứ sở Việt Nam - cốt tủy con người Việt Nam. Chính vì trưởng thành từ văn hóa nông nghiệp và văn hóa làng xã nên bản tính con người Việt Nam ưa thích sự khoan hòa, cần cù, sáng tạo... từ đó đã tạo nên những nét đẹp sinh hoạt trong cộng đồng dân tộc Việt. Một trong những nét đẹp đó là lối chơi chữ và ngày nay phong thái sống đó được ẩn hiện từ những câu tục ngữ cải biên. Đó là một hình thức sáng tạo trong lĩnh vực văn hóa dân gian, mang lại sức thu hút con người đến kỳ lạ.

    Tục ngữ cải biên là loại hình “tục ngữ” vừa mang đậm tính dân gian vừa mang tính thông tin thời sự nổi bật. Nó phản ánh chân thật và phục vụ trực tiếp vào đời sống cộng đồng xã hội, thể hiện được tâm tư, tình cảm của con người thông qua ngữ và điệu. Tục ngữ cải biên có điểm xuất phát từ tục ngữ chính thống, vốn mang tính chân lý để làm phương tiện tiến hành đổi mới về phương diện nội dung và thi pháp nghệ thuật. Những câu tục ngữ được sử dụng thường xuyên trong đời sống con người thường mới là tiền đề để phát sinh nhiều câu tục ngữ cải biên xoay quanh nó. Những câu tục ngữ vốn mang tính thuần thục (quen thuộc), thường được lựa chọn để cải biên. Vì vậy, tục ngữ cải biên dễ nhớ, dễ dùng, dễ đi vào lòng người. Nó vừa tạo được sự hài hước, bông đùa vừa thể hiện sức mạnh châm biếm, phê phán một cách sâu sắc và sáng tạo. Các hình thức cải biên như: đảo ngữ, thêm từ, thay thế, bổ sung, vay mượn vần điệu… đặc biệt là sự kết hợp các yếu tố đó lại với nhau. Kết quả là một câu tục ngữ được cải biên có ý nghĩa mới, chứa đựng sự nhận thức mới hình thành. Ví dụ như: câu tục ngữ chính thống là “lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”, nay được cải biên là “quà biếu đâu phải thứ đùa, lựa quà mà biếu cho vừa lòng quan”…

    Nhìn từ nếp sống truyền thống của người Việt có câu “miếng trầu đầu câu chuyện”, xong vào thời hiện đại thì tư duy con người trở nên thay đổi, để khởi đầu cho mỗi công việc, người ta tâm niệm rằng “đồng tiền đi trước đồng tiền khôn”. Điều này, một mặt thể hiện ý thức của con người dùng tiền để mưu cầu cho mọi việc trở nên dễ dàng (thường thì khi bị tạo áp lực, khó khăn); mặt khác đó còn là đặc trưng tình nghĩa của người Việt (dùng tiền hoặc vật phẩm để tri ân). Tuy nhiên, xã hội ngày nay đã thực sự biến chất, tạo nên một “hiện tượng coi trọng đồng tiền” (nhận định của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng). “Cái khôn” của con người bị đánh đồng với thể thức của “đồng tiền” (con người trở nên khôn ngoan là vì đưa đồng tiền đi trước). Đây là sức ép của một xã hội đầy rẫy tệ nạn tham nhũng, quan liêu. Người ta dùng từ “đầu tiên” như thể có đầu - có cuối, nhưng là để châm biếm phê phán xã hội hiện thời “đầu tiên – tiền đâu” (đây là một thể thức giao tiếp). Trong giao tiếp đối với cơ quan hành chính nhà nước thì có câu “hành chính - hành là chính”, điều này đồng nghĩa với việc “tốn tiền”, và nếu thiếu khoảng ấy thì mọi việc trở nên khó khăn. Lâu dần con người thực sự thỏa hiệp với nếp sống trọng “tiền bạc”, dung túng cho thói tệ tham nhũng, quan liêu ngày càng sinh sôi và nãy nở. Thực tế, những ai có ý thức “đấu tranh” để bảo vệ chân lý thì chỉ có đường “chuốt họa vào thân”, người đời có câu “đấu tranh là tránh đâu”, vì nó vừa không giải quyết được gì lại bị mang vạ không thể tránh (“tránh đâu cho thoát”). Từ đó, con người trở nên coi trọng triết lý: “lời nói thẳng hay mất lòng, lưng cong thường được việc”, đòi hỏi con người phải mềm mại trong cuộc sống, họ tránh nói thẳng để được lòng người khác và chấp nhận nhún nhường để được việc mình. Đó là kiểu thức vận hành xã hội, kiểu “Tiền bạc đi trước, thề ước theo sau”.

    Từ kiểu thức vận hành như vậy nên các hệ giá trị xã hội ở Việt Nam ngày nay dường như bị đảo lộn. Con người tranh đua phẩm vị với đời, dòng họ đua tranh dòng dọ (“một người làm quan cả họ được nhờ”), xong đi vào công việc chung dừng phương châm “nói ít làm nhiều không bằng nói điêu làm ít”, hay “làm láo, báo cáo hay”, nó trở thành một hiện tượng “bụng to, đầu hói nói chung chung”. Qua đó, ta thấy người dân đã thực sự đánh giá đúng hiện trạng và nhận diện rõ nguyên nhân sa sút nền tảng xã hội. Là do sự tồn tại trong bộ máy quản lý một thành phần lãnh đạo thiếu năng lực (“làm láo”) và thậm chí đây còn là một hiện tượng phổ biến của xã hội, thể hiện qua sự nhận thức tồn đối sánh trực quan: “bụng to, đầu hói” – “nói chung chung”/ “báo cáo hay”. Qua đó đã tạo nên chiều hướng vận hành xã hội đi từ thiếu năng lực – quan liêu - thất thoát (thua lỗ) - tham ô - tham nhũng, đi ngược lại với sự vận động phát triển. Nói cách khác là đi vào con đường phản động (sự vận động ngược chiều phát triển). Điều này càng rõ ràng hơn khi tổ chức PAPI đã đưa ra các chỉ số điều tra được về cảm nhận tham nhũng: Việt Nam xếp ở vị thứ 119 trong bảng xếp hạng 175 nước được điều tra khảo sát; điểm minh bạch là 31 điểm trong thang điểm 100. Nhận thức về điều này, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát biểu: “có quá nhiều cán bộ giàu lên nhanh chóng”; nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Tấn Sang thì thừa nhận: “những điều mà nhân dân nói là có thật”. Có vẻ đây là căn bệnh nan y của dân tộc ta. Đến nỗi, nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã thừa nhận: “Ở Việt Nam có khi không muốn tham cũng động lòng tham […] đây là quy luật muôn đời”; Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu: “đến Đường tăng đi Tây Thiên lấy kinh cũng phải hối lộ”. Vì mang tính quy luật đó nên có lắm việc khó hiểu nhưng dễ thấy ở Việt Nam. Người dân nói chỉ biết khóc than (“giầy đen, giầy nâu đến đâu cũng phá”).

    Từ kiểu thức vận hành xã hội đó đã đưa đến trạng thái xã hội (thượng tầng xã hội có vai trò định hướng hạ tầng xã hội) theo tập quán sống chuộng tiền bạc, coi rẻ các hệ giá trị nhân sinh khác. Con người tâm niệm “khéo nịnh thì giàu, khéo bò thì ấm ghế”, hay “lưng có cúi túi mới nặng”… Người ta không còn mặc cảm với tham nhũng - tham ô, thỏa hiệp với cơ chế quan liêu. Con người chọn cách im lặng trước thời cuộc và họ hiểu ra nhiều điều (“liên hoan là em hội nghị, hội nghị là chị phong bì”, “trồng khoai lấy củ, làm “thủ” lấy bổng lộc”… Đúng thật “cha chung không ai khóc, nhưng tài sản chung nhiều người ham móc”, “phung phí xa hoa là cha của tham ô”). Họ im lặng là vì nhận thấy hiện thực: “tham nhũng mà có ô dù, mức phạt nặng nhất là tù án treo”; kết cấu cộng đồng nhường chỗ cơ cấu lợi ích nhóm (“ăn chia thì mày còn sống, ngốn cả đống thì chết”); tôn ty trật tự được củng cố bởi ý thức “thuốc đắng giã tât, lời thật phật ý cấp trên”…
    Tâm lý “phản động” đó đã thực sự bám rễ trong tâm thức của giới chức, thường trực đến mức “ăn trông nồi, ngồi trông quà cáp”. Cấu trúc “phản động” này phát triển tinh vi về hình thức diễn ra trực tiếp và gián tiếp: “lệnh ông không bằng cồng bà, vợ vẫn nhận quà, chồng giả vờ không biết”. Vậy nên, nói tham nhũng, tham ô diễn ra toàn diện, nó trở nên phổ biến rộng rãi trong xã hội và có ý nghĩa vận hành xã hội. Người ta hiểu đây như một quy luật tự nhiên “đói ăn rau, đau uống thuốc, muốn “nuốt” cậy ô dù”. Đối với kinh nghiêm sống lâu nay cũng trở nên biến dạng để thích ứng với thời cuộc: “lạc nhà theo chó, lạc ngõ theo trâu, lạc … cửa hậu theo … sếp”, hay “ăn trông nồi, ngồi trông ghế, bế trông … ô dù”… Người đương chức thì chủ về tâm lý “được bụng người – được việc ta”, cho nên có khi “cả năm tiền lương không bằng một lần “thương” sếp”. Còn thường dân thì chủ về tâm lý an phận, họ nghĩ mình là “dân đen” không khác gì “con kiến”, trong khi “con kiến mà kiện củ khoai, kiện trên, kiện dưới, kiện ai bây giờ”. Xã hội thì chuộn tâm lý đua tranh phẩm vị, ưa thích quyền lực và thường lạm quyền (để thu lợi): “muốn vu oan làm quan mà nói”. Lợi ích gia đình được đảm bảo với tâm lý “có bố làm to không lo thi rớt”, lợi ích dòng họ thì có câu “một người làm quan, cả họ được nhờ / cháu làm phất phơ chú cho suất đất”... Có lẽ, ngày nay những hằng số đạo đức, triết lý sống của con người khó lòng được duy trì, thay vì “làm người phải đắn phải đo – phải cân nặng nhẹ, phải dò nông sâu” thì người ta tâm niệm “vụng ăn thì nghèo, vùng trèo thì lâu lên chức”, con người nhận thức “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng – xa xếp thì nạn, xa bạn … vô tư”, từ đó con người đi đến xây dựng phương châm sống mới: “nhất cận thị, nhị cận sơn, muốn đẹp hơn… cận sếp”.
    Tục ngữ cải biên tồn tại không phải để phản ánh hiện thực xã hội trong vô vọng, mà bên cạnh quá trình phản ánh mặt trái của xã hội thì nó còn góp phần nuôi dưỡng nếp sống khoan hòa, khoan dung cho cộng đồng dân tộc. Trong tục ngữ cải biên không chỉ là phản ánh đúng sự thật, hay lên án những hành vi sai trái, mà còn góp phần cảnh tỉnh những người phạm sai có thể sửa sai. Có những câu như “quan ơi nhớ lấy câu này, có công đeo nhẫn có ngày rước gông”, “quỹ công mà biết đánh đòn, bọn quan tham nhũng chẳng còn cái mông”, “lòng vả cũng như lòng sung, những kẻ tham nhũng cùng chung nhà tù” (chân lý từ cái nhìn hiện thực), “làm kiếp trâu ăn cỏ, làm kiếp chó ăn dơ, làm sổ sách mập mờ ăn … còng số tám” (chân lý từ nhận thức nghiệp báo)... Nhiều vấn đề nhận thức được đặt ra, như: “mạnh về gạo, bạo về dù, đến khi sa cơ cũng tù mù mút chỉ”, hay “vòi vĩnh là bệnh quan tham, chỉ mỗi nhà giam là nơi điều trị”, hoặc “ tham ô đi trước tù rước theo sau”…với hy vọng có thể thức tỉnh được những thành phần bất hảo trong xã hội.
    Tục ngữ cải biên thật sự phong phú vì chúng sinh tồn trong thời đại đa màu và giàu âm sắc, và nó càng sinh động hơn trên lĩnh vực đời sống chính trị. Với lối dùng từ ngữ một cách nôm na, trực tiếp và thẳng thắng hơn cùng với những tính chất ngắn gọn, súc tích, giàu vần điệu, hình ảnh, dễ nhớ dễ truyền, đã tạo ra chiều sâu truyền cảm của ngôn ngữ góp phần làm tăng hiệu quả giao tiếp. Tục ngữ cải biên không chỉ là một hiện tượng tất yếu mà còn là sự đòi hỏi cần thiết cho xã hội Việt Nam ngày nay. Trong khi đạo đức chính trị ngày càng suy giảm, cần có sự bù đắp, điều chỉnh từ bên trong, từ đó cả nước phát động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, hiện tượng cải biên tục ngữ phản ánh đời sống chính trị của nhân dân cũng đã góp phần giải quyết nhiệm vụ giáo dục chính trị với tư cách cảnh giác - dự báo, đại biểu cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Từ đó các nhà lãnh đạo cơ sở đo lường, điều chỉnh hành vi, thiết lập hành động đáp ứng được yêu cầu dân sinh. Mặc khác, ở Việt Nam luật biểu tình chưa được đáp ứng thì đây còn là một giải pháp tốt: thực hiện cuộc biểu tình về ý thức, tránh được những cuộc bạo động chưa cần thiết.

    Sự tồn tại của tục ngữ cải biên là dựa trên cơ sở vay mượn: tính chân lý (tất yếu đúng) và tính thuần thục (sự gần gủi) của hệ thống tục ngữ chính thống, đồng thời nó còn mang trong mình cơ sở hiện thực lịch sử. Tục ngữ cải biên phản ánh đời sống xã hội vào thời điểm nó ra đời, đây là một dạng tư liệu khi nghiên cứu về hiện thực xã hội: xã hội Việt Nam thời hậu kì thống nhất đất nước – định hướng Xã hội Chủ nghĩa. Trên phương diện lý luận – nhận thức về cuộc sống, con người ta nhận ra được nhiều điều nhưng thật khó để chứng minh, và sự tồn tại của loại hình văn học dân gian này là một giải pháp hiệu quả cho nhận thức lịch sử của dân tộc.

    -CHUNG-

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    - một sự góp ý tuyệt vời
    - đôi khi ở việt nam người ta muốn nói điều này thì phải vòng vo chuyện khác, còn người đọc thì phải nhìn hiện thực thì sẽ hiểu ra nhiều điều

    Tôi thích bài này, tác giả đã bỏ công nghiên cứu về một loại hình văn học dân gian xuất hiện trong thời đại hiện tại, chẳng biết tác dụng của nó như thế nào nhưng nó đã phản ánh đúng tình hình thực tế xã hội bằng những câu nói ngắn gọn có tính đúc kết, nhằm cảnh báo hoặc giáo dục, tục ngữ cải biên cũng có, mà tục ngữ mới xuất hiện cũng có, ví dụ:
    - Xã hội đảo điên đồng tiền trên hết.
    - Nhà báo thì cút, bồi bút thì mời
    - Làm thì đói, nói thì no, bò thừ sướng , bướng thì khổ
    - Con ơi nhớ lấy lời cha
    Tham nhũng thì phải ra tòa nay mai.
    - Cầm tấm bằng giả như vả vào thân. ...
    Tác giả viết: "Trong khi đạo đức chính trị ngày càng suy giảm, cần có sự bù đắp, điều chỉnh từ bên trong, từ đó cả nước phát động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh." Chẳng hiểu tác giả thấy tác dụng của phong trào học tâp theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh như thế nào? Ông Hồ Chí Minh có thực sự là người có đạo đức hay không? Nếu tác giả hay theo dõi báo chí cả lề phải và lề trái thì sẽ rõ con người thật Hồ Chí Minh. Mỹ chẳng học tập tổng thống nào mà Mỹ là tấm gương cho cả thế giới tiên bộ dân chủ muốn học tập.Cán bộ học tập theo "bác Hồ" thì tham nhũng cứ tăng lên hàng ngày, rồi đấu tranh nội bộ thêm gay gắt. Bộ đội theo lời "bác Hồ" dạy thì không đánh giặc mà ăn chơi sa đọa cuỗm tiền mua sắm vũ khí rồi chuồn ra nước ngoài (tướng Phạm Quang Vinh, cục trưởng Cục tài chính - Bộ quốc phong). Công an học 6 điều Bác Hồ dạy CNND thì đàn áp nhân dân. Học tập HCM mà nước mình cứ phú quý giật lùi, đang tiến xuống đội sổ trong khu vực.
    Giá như tác giả bỏ thời gian mà nghiên cứu những truyện hài hước hiện đai thì còn có nhiều điều thú vị hơn. Các nhà nghiên cứu văn học kể cả GS TS thì chỉ nghiên cứu văn học hài hước dân gian truyền thống thôi, chưa ai đủ trình độ nghiên cứu văn học hài ước hiện đại đâu.
    Trong bài tác giả có mấy chỗ viết sai:
    - “chuốt họa vào thân” CHUỐT là sai, phải viết là CHUỐC mới đúng: "Chuốc họa vào thân"
    - "Xã hội thì chuộn tâm lý đua tranh phẩm vị", "chuộn" là sai, phải viết là CHUỘNG mới đúng, "chuộng tâm lý..."
    - Nhà báo thì cút, bồi bút thì mời