Tại sao phản kháng phi bạo lực lại đang có xu hướng gia tăng?

  • Bởi Admin
    26/01/2017
    0 phản hồi

    Erica Chenoweth
    Nguyễn Vi biên dịch
    Hate Change biên tập

    Phản kháng phi bạo lực là một kỹ thuật đấu tranh, trong đó những người dân thường không có vũ trang sử dụng phối hợp nhiều phương pháp đa dạng – như biểu tình, đình công, và các hình thức bất hợp tác để phản kháng lại đối thủ. Hình thức đấu tranh này tránh gây tổn hại về mặt thể xác cho đối thủ, mặc dù có thể gây rối loạn ở mức cao. Phản kháng phi bạo lực đã xảy ra trên khắp thế giới, từ Guinea-Bissau đến Guatemala, từ Đông Đức sang Ecuador, từ Tunisia đến Tonga. Cùng với một số đồng tác giả khác, tôi đã thu thập các dữ liệu mang tính hệ thống về hiện tượng này trong mười năm qua, đặc biệt tập trung vào các chiến dịch quần chúng nhằm hạ bệ các lãnh đạo quốc gia đương nhiệm, trục xuất lực lượng chiếm đóng của nước ngoài, hoặc nhằm ly khai. Việc thu thập dữ liệu này đã đưa tới một số kết quả phát hiện quan trọng.

    Đầu tiên, phản kháng phi bạo lực tỏ ra hiệu quả một cách đáng ngạc nhiên so với phản kháng bằng bạo lực. Từ năm 1900 đến 2015, khoảng 50% các cuộc đấu tranh phi bạo lực đã thành công, so với khoảng 25% các cuộc nổi dậy bạo lực. Điều này đúng ngay cả khi xem xét những lý do khác có thể khiến chế độ sụp đổ, chẳng hạn như sự yếu kém của nhà nước, mức độ dân chủ hoặc chuyên chế, và cả việc chế độ không sẵn sàng sử dụng bạo lực chống lại dân. Điều này là do phản kháng phi bạo lực là phương pháp đấu tranh hấp dẫn hơn và khả thi hơn đối với một tỷ lệ quần chúng cao hơn. Vì thế, tính trung bình, số người tham gia các cuộc nổi dậy phi bạo lực nhiều hơn khoảng 11 lần so với các cuộc nổi dậy bằng bạo lực. Kết quả là, các chiến dịch phi bạo lực có thể vận dụng rất đa dạng các chiến thuật gây rối tiềm tàng. Ví dụ, tổng đình công – một trong những phương pháp hiệu quả nhất của đấu tranh phi bạo lực – chỉ hiệu quả khi có lượng người tham gia rộng khắp.

    Sự thể hiện quyền lực nhân dân như vậy sẽ khiến cho những trụ đỡ quyền lực của đối phương – các lực lượng an ninh, giới tinh hoa kinh tế, các viên chức dân sự, phương tiện truyền thông nhà nước, v.v– bắt đầu tự hỏi rằng liệu họ có nên tiếp tục trung thành với chế độ hay không. Rốt cuộc, những cuộc tổng đình công sẽ tác động đến túi tiền của giới tinh hoa kinh tế. Từ El Salvador đến Nam Phi, sự bất hợp tác về mặt kinh tế đã mang lại những thay đổi mang tính hệ thống, bởi giới tinh hoa kinh tế đã rút lại lòng trung thành với chế độ đương nhiệm. Những cuộc biểu tình có sự tham gia của một tỉ lệ dân cư lớn và đa dạng có thể có những ảnh hưởng tương tự đến lực lượng quân đội hoặc cảnh sát; từ Séc-bi đến Tunisia, lực lượng an ninh nhà nước đã đào thoát sang phe đối lập khi nhận ra rằng gia đình, hàng xóm, hay cả những người cùng làm ăn chung với họ đều có mặt trong đám đông biểu tình. Do đó, nội dung của phản kháng phi bạo lực không liên quan nhiều tới việc cảm hóa, mà là nới rộng quyền lực chính trị của một phong trào từ dưới lên.

    Thứ hai, phản kháng phi bạo lực thường thành công trong những hoàn cảnh mà mọi người cho là không thể – tức là, ở những nước mà chế độ hiện hành tỏ ra tàn bạo đối với dân chúng, nơi mà xã hội bị chia rẽ sâu sắc, hoặc nơi hầu hết dân số thất học. Phản kháng phi bạo lực đã xuất hiện trong mọi nền văn hóa, tôn giáo, và hệ thống chính trị lớn, điều ấy cho thấy rằng nó không hề bị giới hạn trong một hệ thống các giá trị hay một khu vực địa lý cụ thể nào trên thế giới.

    Thứ ba, các cuộc phản kháng phi bạo lực có xu hướng đạt được những lợi ích ngắn hạn và dài hạn khác. Mức thương vong trong các chiến dịch bạo lực là cao hơn nhiều, do sự giết chóc trực tiếp trong quá trình xung đột hoặc một cách gián tiếp, do người dân phải rời bỏ nhà cửa và bị xáo trộn các nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, như nước sạch, thực phẩm, nơi trú ẩn, và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản. Những quốc gia mà người dân tiến hành phản kháng phi bạo lực có nhiều triển vọng sẽ trải qua một quá trình chuyển đổi dân chủ – cao gấp 10 lần so với những nước mà diễn ra đấu tranh bằng vũ lực. Các nước đó cũng ít có nguy cơ bị rơi vào nội chiến trong vòng 10 năm kế tiếp, trái ngược với nhiều nước khác bị mắc vào cái bẫy xung đột – một tình trạng rất phổ biến.

    Cuối cùng, phản kháng phi bạo lực đang trở nên ngày càng phổ biến hơn.

    Trong khi nhiều học giả tập trung vào sự suy giảm đáng kinh ngạc của bạo lực trong vài thập kỷ (hoặc thế kỷ) qua, thì lại có ít người thực sự hiểu về sự gia tăng của phản kháng phi bạo lực.


    Hình 1: Thời gian và mức độ của các phong trào phi bạo lực

    Hình 1 cho thấy sự gia tăng không đồng đều về số lượng các cuộc đấu tranh phi bạo lực mới, kể từ sau cuộc đấu tranh của Gandhi chống thực dân Anh ở Ấn Độ, nổ ra hồi năm 1919. Tuy nhiên, các cuộc nổi dậy phi bạo lực đã bắt đầu tăng tốc vào cuối thập niên 1960, trong một làn sóng chống chủ nghĩa thực dân thời đó. Vào cuối những năm 1980, chúng ta thấy sự gia tăng ngoạn mục các cuộc nổi dậy phi bạo lực, trong những cuộc cách mạng ở Đông Âu, cũng như các phong trào chống các chế độ độc tài quân sự cánh hữu ở Mỹ Latinh do Mỹ hậu thuẫn. Kể từ đó, số lượng các cuộc nổi dậy phi bạo lực đã tăng đều, thể hiện qua những “cuộc cách mạng màu” chống lại các chế độ độc tài hậu cộng sản, trải suốt từ năm 2000 đến 2010, rồi kế tiếp đó là trường hợp của nhiều quốc gia khác, đa dạng về địa lý. Chỉ tính từ năm 2010, chúng ta đã thấy hơn 50 cuộc nổi dậy phi bạo lực lớn trên thế giới, bao gồm cả những cuộc cách mạng Mùa Xuân Ả Rập năm 2011. Gần đây lại xuất hiện thêm các cuộc đấu tranh mới ở nhiều nơi khác, rất đa dạng như Guatemala, Burkina Faso, và Hồng Kông. Cùng với sự gia tăng của phản kháng phi bạo lực, có thể nói chúng ta đang sống trong một thập kỷ có nhiều tranh chấp nhất​​ trong suốt 100 năm qua.

    Xu hướng này có thể có nhiều nguyên nhân. Nguyên nhân đầu tiên đến từ tiềm năng của việc sức mạnh phản kháng phi bạo lực ngày càng được nhìn nhận ở khắp nơi. Trên thực tế, theo Andrew Mack, nổi dậy phi bạo lực đã trở thành lựa chọn thay thế hữu dụng cho đấu tranh vũ trang, và xu hướng này có thể tiếp tục phát triển theo thời gian. Kiến giải theo chiều hướng lạc quan này tỏ ra khá hấp dẫn, vì nó giải thích được quỹ đạo đi lên của phản kháng phi bạo lực theo thời gian, cũng như tính trải rộng về mặt địa lý của nó, vượt khỏi phạm vi “các làn sóng khu vực”. Và mặc dù có sự học tập lẫn nhau trong trường hợp một số cuộc đấu tranh, tuy nhiên, chưa có dữ liệu nào mang tính hệ thống để chỉ ra xem những cuộc nổi dậy nào là lấy cảm hứng trực tiếp từ các phong trào đương thời hoặc đã diễn ra trong lịch sử.

    Thứ hai, những thay đổi quy phạm ở tầm quốc tế có thể đang góp phần tạo nên xu hướng này. Một số người gợi ý rằng “cuộc cách mạng đòi quyền” đã mang lại một nhận thức toàn cầu ngày càng tăng về các quyền cơ bản của con người. Khi tri ​​thức đó trở nên phổ biến hơn, người dân có thể sẵn sàng hơn để trực tiếp thách thức tính hợp pháp và thẩm quyền của các nhà nước, vốn liên tục vi phạm các quyền này. Ngược lại, theo Daniel Ritter, các chế độ độc tài có thể ngày càng hạn chế việc phản ứng lại những thách thức từ dân chúng. Vì lợi ích kinh tế đối ngoại và vì các nguyên tắc chính trị của việc nhận viện trợ nước ngoài, nhiều nhà lãnh đạo độc tài đã phải sử dụng chiêu bài bảo vệ quyền con người như là mối quan tâm chính của nhà nước. Chính việc đó có thể càng khuyến khích người dân thách thức chế độ khi sự vi phạm nhân quyền trở nên đặc biệt nghiêm trọng hoặc trơ trẽn, đồng thời làm thay đổi lợi ích của các giới tinh hoa về kinh tế và an ninh, những người mà lợi ích dài hạn của họ gắn chặt với các mối quan hệ hợp tác với các các cường quốc bên ngoài. Mặc dù vậy, đấu tranh phi bạo lực đã thành công tại rất nhiều quốc gia, nơi mà nhân quyền hoàn toàn không được coi là mối ưu tiên quốc gia, chẳng hạn như ở Chile dưới thời Pinochet hoặc ở Iran dưới thời vua Shah.

    Thứ ba, một số người cho rằng những thay đổi về công nghệ thông tin liên lạc– đặc biệt là sự phát triển của Internet – có thể giải thích được sự phân tán rộng khắp của phản kháng phi bạo lực. Cái gọi là các cuộc Cách mạng Facebook và Twitter, trong đó những người tổ chức sử dụng mạng xã hội để lập kế hoạch đấu tranh và phối hợp hành động, khiến lời giải thích này càng tỏ ra thuyết phục. Tuy nhiên, cuộc nổi dậy phi bạo lực đã gia tăng chóng mặt từ trước khi có Internet. Hơn nữa, nhiều người lại có thái độ hoài nghi, xem Internet như một thứ gây bất lợi cho các nhà hoạt động ngày nay, vì họ có thể sử dụng Internet để tổ chức và truyền thông dễ dàng như thế nào thì các chính quyền cũng có thể dùng nó để giám sát và gài bẫy lại họ dễ dàng như thế.

    Mặc dù mỗi một cách giải thích nêu trên đều phần nào phản ánh hiện thực, các nhà nghiên cứu vẫn chưa hoàn toàn lý giải được sự gia tăng của phản kháng phi bạo lực. Các công trình nghiên cứu trong tương lai sẽ cần tập trung vào hướng đó. Trong khi chờ đợi, ít nhất có một điều có thể rút ra từ các dữ liệu, đó là: phản kháng phi bạo lực sẽ còn tiếp tục đóng vai trò như một sức mạnh nhằm thách thức những hình thức quyền lực đã bắt rễ sâu và nhằm xây dựng quyền lực từ dưới lên.

    Nguồn: Why is Nonviolent Resistance on the Rise?

    Về tác giả: Tiến sĩ Erica Chenoweth là Giáo sư và Phó Trưởng khoa nghiên cứu tại Trường Nghiên cứu Quốc tế Korbel Josef tại Đại học Denver. Cùng với Maria Stephan, bà đã nhận giải thưởng Grawemeyer vào năm 2013 về các ý tưởng cải thiện trật tự thế giới, nhờ cuốn sách “Lý do khiến cho phản kháng dân sự có hiệu quả” (Why Civil Resistance Works). Xem tại Twitter: @EricaChenoweth.


    Ảnh: Erica Cheneweth, Nhà chính trị học. Nguồn ảnh: Internet

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi