Tổng thống Nixon đã phản bội Việt Nam?

  • Bởi Admin
    05/01/2017
    1 phản hồi

    John A. Farrel
    Athena chuyển ngữ

    Tổng thống Richard Nixon luôn phủ nhận điều này khi nói chuyện với David Frost, với các sử gia và cả với tổng thống Lyndon Johnson, người luôn nghi ngờ và oán hận ông vì cho rằng Nixon là kẻ bội ước. Nixon khẳng định rằng ông không hề phá hoại cuộc đàm phán hòa bình năm 1968 của Johnson về cuộc chiến tại Việt Nam. “Lạy Chúa tôi. Tôi không bao giờ làm bất cứ điều gì để ngăn cản chính quyền miền nam Việt Nam ngồi vào bàn đàm phán,” Nixon nói với Johnson trong cuộc trò chuyện được ghi lại trên băng của Nhà Trắng.

    Nhưng giờ thì chúng ta đều biết rằng Nixon đã nói dối. Trong một ghi chép mới được tìm thấy của Haldeman, phụ tá thân cận của Nixon, đã chỉ ra rằng trong chiến dịch tranh cử năm 1968 tổng thống Nixon đã cố phá hoại cuộc đàm phán hòa bình bởi ông cho rằng cuộc đàm phán này sẽ mang lại lợi thế cho đối thủ của ông là phó tổng thống Hubert H. Humphrey trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1968. Vào ngày 22 tháng Mười năm 1968, Nixon đã yêu cầu Haldeman phải “phá hỏng” cuộc đàm phán này.

    Trong khi đó vị tổng thống thứ 37 của Hoa Kỳ đang tận hưởng chút ít thành công của bản thân qua những thành tựu ông đạt được trong chính sách đối ngoại cũng như các luật lệ mới mà ông ban hành đều được ưa thích hơn nếu so sánh với các tổng thống sau đó. Cuộc sửa sang lại thư viện tổng thống tốn 15 triệu USD, trong khi không thể chôn vùi vụ bê bối Watergate, thì lại được ghi nhận như là thành tựu của Nixon.

    Các ghi chép của Haldeman đã kéo chúng tôi trở lại với mặt tối của vấn đề. Giữa các đánh giá và chỉ trích, chúng tôi buộc phải chú ý đến hành vi phạm tội này đáng trách hơn bất cứ hành động nào của Nixon gây ra trong vụ Watergate bởi nó có thể đe dọa rất mạng sống của rất nhiều người tại khu vực Đông Nam Á.

    Nixon bắt đầu chiến dịch tranh cử vào mùa thu và khi đó ông đang dẫn trước Humphrey, nhưng khoảng cách đó nhanh chóng bị thu hẹp vào tháng Mười. Henry A. Kissinger, sau này trở thành cố vấn của phe Cộng hòa, đã gọi điện cảnh báo Nixon rằng có một cuộc thương lượng đang được tiến hành: nếu tổng thống Johnson ngừng việc ném bom ở miền bắc Việt Nam, thì phía Soviet hứa sẽ buộc chính quyền Hà Nội phải tham gia đàm phán chấm dứt cuộc chiến đã cướp đi sinh mệnh của 30000 người Mỹ.

    Nhưng Nixon đã liên lạc với Sài Gòn, ở đó tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đang lo sợ rằng Johnson sẽ bán đứng ông. Nếu ông Thiệu có thể trì hoãn cuộc đàm phán, Nixon sẽ tố cáo hành động của Johnson chỉ là chiêu trò chính trị rẻ tiền. Mắt xích liên lạc ở đây chính là Anna Chennault, một bậc lão thành của phe Cộng hòa, người gây quỹ cho Nixon, thành viên ủng hộ chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc, và có rất nhiều mối quan hệ ở khắp châu Á.


    Anna Chennault, 1969. Ảnh: Ira Gay Sealy/The Denver Post, qua Getty Images

    “Cứ để Anna Chennault tiếp tục tác động tới miền nam Việt Nam. Có cách nào để phá hỏng nó không? Bất cứ cái gì Richarch Nixon cũng có thể làm đươc.” Haldeman viết nguệch ngoạc, chép lại mệnh lệnh của Nixon.

    Nixon ra lệnh cho Haldeman phải yêu cầu Rose Mary Woods, thư ký riêng của Nixon, phải liên lạc với một nhân vật Trung Quốc theo chủ nghĩa dân tộc – doanh nhân Louis Kung – và yêu cầu ông này phải gây sức ép với tổng thống Thiệu. “Cứ nói với ông ta là hãy vững tin..”

    Bên cạnh đó, Nixon cũng tìm kiếm sự giúp đỡ của Chiang Kai-shek, tổng thống Đài Loan lúc bấy giờ. Ông yêu cầu phụ tá Haldmen ra lệnh cho ứng cử viên phó tổng thống Spiro Agnew phải đe dọa giám đốc CIA lúc bấy giờ là Richard Helms. Hy vọng giữ chức của ông Helms dưới thời Nixon phụ thuộc hoàn toàn vào sự mềm dẻo của ông ấy. “Nói với ông ta rằng chúng ta muốn biết sự thật – nếu không thì ông ta đừng hòng có được chức vụ đó,” Nixon ra lệnh.

    Trong suốt cuộc đời mình, Nixon luôn lo sợ sẽ bị vạch trần trò lừa dối này. Trong cuộc phỏng vấn với Frost vào năm 1977 Nixon nói, “Tôi chẳng làm gì tổn hại đến họ cả. Dù là với bà Chennault hay những người khác, tôi không hề ra lệnh cho họ cũng như không liên hệ với bất kỳ ai ở miền nam Việt Nam vào lúc đó, bảo họ không làm cái này cái kia. Dù có muốn thì tôi cũng không thể làm điều đó vì lương tâm mách bảo.”

    Nixon có lý để nói dối. Từng hành động của ông dường như đều vi phạm luật liên bang, trong đó quy định nghiêm cấm công dân “phá hoại những chính sách của United States.” Các luật sư của Nixon đã đấu tranh suốt một thời gian dài để các ghi chép trong chiến dịch năm 1968 không bị lộ ra. Ghi chép đại cương về “vụ Chennault” đã bị rò rỉ suốt nhiều năm qua nhưng vì thiếu bằng chứng nên các sử gia không thể điều tra thêm nên vì vậy những người trung thành với Nixon đã được bảo vệ.

    Dần dần thời gian đã vén màn các bí mật của Nixon. Tôi tình cờ khám phá ra các ghi chép của Haldeman trong thư viện tổng thống vào năm 2007 khi tôi đang nghiên cứu về tiểu sử của vị cố tổng thống này. Tôi còn tìm thấy một vài thứ quý giá khác, giống như ký hiệu của Haldeman về lời hứa của Nixon đối với các thành viên đảng Cộng hòa ở miền nam, rằng Nixon sẽ truất quyền công dân và “sa thải những ai ủng hộ người Phi” nếu trở thành tổng thống. Có rất nhiều ghi chép về cuộc tranh cử thống đống bang California năm 1962 của Nixon, trong đó ghi rõ Nixon và các cộng sự thảo luận về việc nghe lén các đối thủ chính trị.

    Tuy nhiên cũng chẳng có gì đảm bảo rằng nếu không có Nixon thì cuộc đàm phán vẫn diễn ra để kết thúc chiến tranh. Nhưng Johnson và các cố vấn của ông đều tin tưởng vào sứ mệnh của họ cũng như khả năng thành công của cuộc đàm phán.

    Khi Johnson nhận thấy sự can thiệp của Nixon, ông đã yêu cầu FBI điều tra Anna Chennault. Trong một bản báo cáo điều tra ghi lại rằng bà ta đã “liên lạc với đại sứ Việt Nam Bùi Diễm và nói rằng bà nhận được tin nhắn từ tổng thống yêu cầu phải trao đổi riêng với ngài đại sứ. Bà ta nói tổng thống nhắn rằng… ‘Cứ bình tĩnh. Rồi chúng ta sẽ chiến thắng… Cứ nói với tổng thống của ngài là hãy bình tĩnh.’”

    Trong một cuộc trò chuyện với thượng nghị sĩ đảng Cộng hòa Everett Dirksen, tổng thống Johnson đã không tiếc lời chửi mắng Nixon. “Tôi biết thừa những người đó đang làm gì… Đó là tội mưu phản.”

    “Tôi biết chứ,” Dirksen đáp bằng giọng không thể buồn hơn.

    Phụ tá thân cận nhất của Johnson giục ông nên sớm lột mặt nạ của Nixon. Nhưng trong cuộc điện đàm vào ngày 4 tháng Mười Một, họ kết luận rằng không thể làm điều này vì họ thiếu “bằng chứng thuyết phục” chứng minh sự tham gia của Nixon trong việc này.

    Ngay sau đó, Nixon được bầu làm tổng thống.

    Nguồn: Nixon’s Vietnam Treachery, Tờ New York Times

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Cũng cần phải thêm vào đây bài viết của ông Ngô Nhân Dụng trên báo Người Việt online, với link kèm theo ở dưới.

    Trích đoạn:

    "Bài báo của Farrell chỉ nhắc đến tên Đại Sứ Bùi Diễm đúng một lần. Nhưng nếu ký giả này đọc kỹ hồi ký “Gọng Kìm Lịch sử” của Bùi Diễm thì chắc sẽ không kể câu chuyện một cách đơn giản như vậy. Bản tiếng Anh “In the Jaws of History” của Bùi Diễm đã được xuất bản từ năm 1987, bản tiếng Việt in năm 2000.

    Bài báo của John A. Farrell khiến người đọc có thể hiểu lầm rằng Đại Sứ Bùi Diễm đã đóng vai “trung gian” giữa ban vận động tranh cử của ông Nixon và Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn. Đó là một hành động không đúng với vai trò của một đại sứ, vì ông đại sứ chỉ làm đại diện cho nước mình mà lại nhúng tay vào một cuộc tranh cử ở một quốc gia khác.

    Trong cuốn Gọng Kìm Lịch sử, tác giả Bùi Diễm đã thuật lại tường tận cả câu chuyện trên............."

    Link: http://www.nguoi-viet.com/binh-luan/nguyen-van-thieu-giup-nixon-dac-cu/

    Những gì Nixon làm thì Nixon phải chịu nhưng cũng cần phải kể đến vai trò của con buôn chính trị hai mang Henry Kissinger trong việc thúc đầy Nixon đi đến quyết định phản bội Việt Nam.