Chỗ trú thân cho người đọc

  • Bởi Sapphire
    30/11/2016
    0 phản hồi

    Khải Đơn


    Ảnh: Internet

    Sau một hồi kể chuyện linh tinh, Huy quay qua hỏi tôi: “Chị à, em muốn tìm một nơi để đọc sách, mà không biết ở đâu!”

    Câu hỏi này của Huy dễ trả lời vô cùng, nếu em thuộc cùng “tầng lớp” với những học trò tôi đang dạy. Em nào là sinh viên có thể vào thư viện trường đại học. Người bình thường có thể làm thẻ và vào thư viện khoa học tổng hợp ngồi đọc. Nhà nghiên cứu – có các viện và nguồn tài liệu ngành liên quan.

    Nhưng Huy là một chàng trai 21 tuổi đã bỏ học từ lớp chín vì nghèo, và phải làm ở quán ăn từ 5 giờ sáng đến 6 giờ chiều.

    Em “không đủ điều kiện” bước vào thư viện đại học.

    Khi em tan ca, cái thư viện phổ thông và dễ đến đọc nhất thành phố cũng đã tới giờ đóng cửa.

    Viện nghiên cứu – tất nhiên không dành cho em.

    Một thành phố 8,2 triệu dân với chưa đến 10 thư viện công cộng và 24 thư viện quận/huyện – vốn chẳng nhiều nhặn gì sách vở - là có thể cho những người bình thường, không học vị, không sinh viên có thể bước chân vào truy cập, nghĩa là gần 250.000 người/thư viện.

    Giờ giấc mọi thư viện không dành cho nhóm người này.

    Thư viện phổ thông đóng cửa vào lúc 5 giờ chiều hoặc 7 giờ tối, sập cánh cửa với bất kỳ người lao động nào muốn ngấp nghé nhìn thấy sách vở.

    Thư viện các trường đại học không có chỗ cho người đọc phổ thông, sau giờ làm việc.

    Thư viện quận, huyện, phường tài liệu thường không cập nhật và đóng cửa rất sớm (hoặc mở cửa tuỳ thích ở nhiều nơi).

    Vậy những người lao động trẻ sẽ ở đâu nếu như họ muốn bước lên một nấc thang cao hơn trong cuộc đời lầm lũi lao động chân tay với thu nhập cực thấp hiện thời?

    Huy sẽ tìm đâu ra một lựa chọn khác trong đời – nếu cái lựa chọn dễ dàng và đơn giản nhất là tìm cái gì đọc giải trí sau giờ làm việc cũng không dành cho em?

    Trong những khu công nghiệp mà hàng chục ngàn người lao động phổ thông làm việc ở Bình Chánh, Bình Dương, Đồng Nai, Tân Thuận... không hề có một hệ thống phòng đọc phục vụ người lao động lem luốc sau giờ làm việc.

    Cứ ai hỏi, mấy cô công nhân lại nói nếu có dư báo màu, tạp chí thì cho họ xin, tối về đọc đỡ buồn, chứ bỏ tiền mua đúng giá bìa họ không dám.

    Có mùa tết, một nửa món quà mà người làm từ thiện đem đến các khu trọ công nhân nghèo là tạp chí tết, tạp chí phụ nữ cũ năm trước.

    Trong những khu lao động nghèo, mấy bà phụ nữ chuyền tay nhau đọc đến nhàu nát một quyển sách dạy nuôi con, tâm sự gia đình đã in từ mấy năm trước.
    Không có bất cứ không gian nào để nuôi dưỡng những đứa trẻ đang mưu sinh vất vả, hay gợi nhắc cho chúng về một giấc mơ nằm ngoài tầm với mà chúng thường thèm khát khi nhìn qua cổng trường.

    Không gian đọc từ chối người lao động, không cho họ cơ hội nào tiếp cận với tạp chí, báo, sách hay bất cứ phương tiện nào có thể cải thiện tư duy, đào bới và tìm kiếm những trải nghiệm mới - ít nhất là để thay đổi phương thức làm việc quá đơn giản và lạc hậu của họ.

    Và đáng buồn hơn, rất nhiều phòng đọc công cộng đóng cửa hoặc mở ngắn giờ hơn vào hai ngày cuối tuần – thời gian rảnh rỗi duy nhất mà nhiều người có thể dành để đọc sách.

    Tôi đã nghe rất nhiều người than phiền về người Việt Nam lười đọc, công nhân Việt Nam trình độ mãi chẳng tiến lên, hay người nghèo thành thị ở Việt Nam chẳng bao giờ rờ mó tới sách.

    Nhưng câu hỏi của Huy là một chất vấn lật ngược tất cả những luận điệu cao sang và kẻ cả ấy. Số tiền người công nhân làm ra không đủ để họ dám chi tiền mua một tờ tạp chí, hay quyển sách.

    Thời gian mà người lao động như Huy có – là giờ thư viện đã đóng cửa quay lưng với em.

    Không gian thư viện tưởng như miễn phí và bình đẳng với mọi người, lại chỉ bình đẳng với những đứa rảnh rỗi và thừa thời gian đi chơi như tôi – chứ chẳng bao giờ độ lượng với những thanh niên phải cắm mặt lem luốc lao động trên phố cả ngày.

    Câu hỏi của Huy làm tôi nhớ đến một bài diễn văn mà ông Lý Quang Diệu từng đọc khi khai trương thư viện công cộng Queenstown vào năm 1970.

    Bài diễn văn có đoạn: “Đầu tiên, chúng [các thư viện] giúp tiếp cận dễ dàng hơn với các loại sách mà hầu hết mọi người không đủ tiền mua. Tiếp theo, chúng là các thánh đường của sự bình yên và yên tĩnh nơi người ta có thể tập trung và làm việc tốt hơn, đặc biệt khi có những hàng xóm thiếu suy nghĩ.” (*)

    Trong đó, ông cũng viết về những hàng xóm ồn ào, mở TV, chơi mạc chược, mở giàn loa hi-fi như một lý do cần phải có thư viện công cộng, để bất cứ ai cần tập trung có thể tìm đến, để học, để thực hiện mọi ý tưởng họ ấp ủ trong không gian tĩnh lặng của sách mà thư viện sẵn sàng chào đón họ.

    Và đúng như ông nói ở đầu bài diễn văn đó: “Một trong những dấu hiệu của một xã hội có giáo dục là số lượng sách người dân đọc. Chúng ta đã có hệ thống giáo dục phổ thông hơn một thập niên qua. Ngày nay chúng ta đã có một xã hội biết chữ. Nhưng một xã hội biết chữ không hẳn là một xã hội có giáo dục. Một phép thử cho người có giáo dục là khả năng tiếp tục đọc và học tập trong suốt cuộc đời.”

    Tôi không biết mình sẽ trả lời Huy thế nào, và cũng chẳng biết những người lao động bao giờ sẽ biết yêu sách, trong một xã hội mà hễ cứ mở lời nói về sách, mọi người lại than phiền toàn dân lười đọc quá, mà chẳng ai chịu hiểu là chưa bao giờ có chỗ nào để những người lam lũ ngồi đọc trong một giờ rảnh rỗi hiếm hoi và xa xỉ mà họ có được.

    (*) http://www.nas.gov.sg/archivesonline/data/pdfdoc/lky19700430.pdf

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi