Václav Havel - Về ý nghĩa của Hiến Chương 77

  • Bởi Sapphire
    06/10/2016
    0 phản hồi

    Nguyễn Thanh Mai chuyển ngữ

    Lời người dịch: 5.10.2016, nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày sinh của Vaclav Havel, cố Tổng thống Cộng hòa Séc, người luôn thượng tôn quyền công dân, nhà đấu tranh bất bạo động đã từng ngồi tù nhiều năm trong nhà tù cộng sản nhưng luôn luôn giữ được thái độ ôn hòa, hóm hỉnh, tác giả của một loạt các bài viết, bài phát biểu nổi tiếng mang tính triết học, chúng tôi xin gửi đến bạn đọc bài phát biểu của ông nhan đề Về ý nghĩa của Hiến Chương 77.

    Hiến Chương 77 là phong trào mà có thể nói cơ sở của nó là nhận định dưới đây của Havel:

    "Một đám người bị lệ thuộc không thể phác thảo, tuyên bố và thực thi một cương lĩnh chính trị, chỉ có những công dân tự do với đầy đủ thẩm quyền pháp lý mới làm được điều đó; không có công dân thì không có chính trị. Ngôi nhà phải được xây dựng từ nền chứ không thể xây từ mái. Khôi phục quyền công dân không phải là một "sản phẩm được chưng cất" từ chính trị, ngược lại, nó là điều kiện tiên quyết của một nền chính trị.
    Không những thế, chính trị có thể đổi thay, nhưng nhu cầu cấp thiết của quyền công dân như điều kiện cần cho mọi nền chính trị, sẽ trường tồn."


    Václav Havel, 5.10.1936 - 18.12.2011. Ảnh: vaclavhavel

    ***

    VÁCLAV HAVEL
    VỀ Ý NGHĨA CỦA HIẾN CHƯƠNG 77

    (Nhân kỷ niệm 10 năm ngày thành lập Hiến chương 77, tháng 7 năm 1986)

    Từ ngày thành lập đến nay, một câu hỏi cơ bản luôn được đặt ra đối với Hiến chương 77: những việc làm mạo hiểm của phong trào có thực sự mang lại lợi ích cho xã hội? Nói cách khác, liệu Hiến chương có ý nghĩa gì hay không?

    Theo tôi, dịp kỷ niệm mười năm ngày thành lập Hiến chương là một thách thức tự nhiên để suy ngẫm thêm về câu hỏi này. Việc này có lẽ sẽ có tác dụng, ngay cả khi nhiều phần sẽ chỉ để tổng kết lại những điều đã được nói đến, chứ không phải để phát hiện ra điều gì mới. Mà cũng không thể khác: luôn tự đặt cho mình câu hỏi này và nghiên cứu nó một cách nghiêm túc đã thuộc về bản chất tự nhiên của Hiến chương.

    Sau sự can thiệp của Khối Vác-sa-va, tất cả những gì đã được công khai xác nhận là phi nhân tính và được cam kết một cách long trọng rằng sẽ không bao giờ xảy ra, đã bắt đầu nhanh chóng quay trở lại và lại được tái lập lại một cách trơ trẽn - và dân chúng cũng đã lại quen trở lại với điều đó một cách chóng vánh đến bất ngờ. Xã hội Tiệp Khắc trước đó bừng khởi sắc và rồi thất vọng với thành quả đạt được, đã nhanh chóng rơi vào trạng thái u mê, đối mặt với việc tái lập chế độ độc tài, đa số người dân đều thoái lui trước mọi cơ hội góp phần tác động lên những công việc xã hội, họ không còn quan tâm đến công việc chung và lui về với cuộc sống riêng cá nhân, lòng tin rằng bất cứ sự tham gia đích thực nào trong công việc xã hội, công việc dân sự, cũng đều có ý nghĩa, đã hoàn toàn biến mất. Những người ít thuần phục nhất đã phải nhận những bản án nặng nề để không ai còn hồ nghi. Xã hội bị xé nhỏ, tư duy và sự sáng tạo độc lập lánh ẩn dưới những hầm trú riêng tư. Những mối quan hệ xã hội theo chiều ngang, là điều vốn tạo không gian cho cuộc sống xã hội đích thực, đã bị cắt đứt, sự im lặng hoang vu của một quãng lịch sử bất động, thực dụng, mang tính độc tài, đã lan tỏa trong cả nước. Cảm thấy bị chính trị lường gạt, người dân đã hoàn toàn quay lưng lại với tất cả những gì liên quan đến chính trị. Họ chán ghét tất cả các ý thức hệ, vì đã hàng ngày nếm trải thực tế tồi tàn núp đằng sau những lời lẽ hoa mỹ. Tinh thần đoàn kết cách đây không lâu vẫn còn rất bền vững, nay đã hoàn toàn tan biến ; chủ nghĩa vị kỷ bao trùm tất cả, không khí sợ hãi thống trị khắp nơi. Người dân im lặng chấp nhận giải pháp đa nhân cách cho phương trình cuộc sống mà tình thế bày ra cho họ: bên ngoài cúi đầu vờ tuân thủ, trong thâm tâm họ không còn tin vào bất cứ điều gì.

    Đó không chỉ là sự khủng hoảng về chính trị. Đó là sự khủng hoảng về đạo đức.

    Thắc mắc về ý nghĩa của Hiến chương là điều dễ hiểu: lúc bấy giờ chính quyền không chấp nhận cuộc đối thoại mà Hiến chương đã đề xướng, họ chối từ đàm phán với Hiến Chương và từ chối xem xét cả những kiến nghị của Hiến chương, chính quyền tuyên bố Hiến chương là tập hợp những “kẻ thất thế” và giao nộp họ cho cảnh sát. Ngay cả xã hội cũng không tỏ thái độ đồng thuận với tư tưởng của Hiến chương một cách rõ rệt: số người ký Hiến chương hầu như không tăng; không một tập thể đáng kể nào hậu thuẫn cho Hiến chương một cách rõ ràng; cũng không hề có những biểu hiện công khai thể hiện cảm tình với Hiến chương; nhiều phần có vẻ như người dân né tránh, sợ dính dáng và thậm chí không quan tâm đến Hiến chương. Vậy Hiến chương đã có được thành công gì cụ thể? Đã có điều gì tốt đẹp hơn nhờ những hoạt động của Hiến chương? Liệu có phải trên thực tế Hiến chương đã hoàn toàn thất bại?

    Theo tôi, không thể trả lời được chính xác câu hỏi về ý nghĩa xã hội thực tế của Hiến chương một khi chưa hiểu rõ bản chất tình hình xã hội lúc Hiến chương ra đời, cũng như khi chưa hiểu rõ bản chất của Hiến chương, nghĩa là Hiến chương là gì, mục đích của Hiến chương thế nào, Hiến chương xuất hiện từ đâu và Hiến chương muốn đóng góp gì cho tình hình xã hội chung.

    Đánh giá ý nghĩa của Hiến chương mà thiếu những chuẩn bị trên cũng giống như đo đạc mà thiếu thước đo hay dùng sai dụng cụ đo lường. Khoảng cách không thể đo được bằng cân và trọng lượng không thể đo bằng đơn vị mét.

    Nhấn mạnh khía cạnh đạo đức trong hành động của chính mình luôn luôn là một việc làm mạo hiểm vì dễ bị coi là kẻ tự phụ, hoặc ít nhất là người thiếu khiêm nhường và trơ trẽn. Đáng tiếc sẽ không thể xác định được chính xác không gian chính cho việc tìm hiểu ý nghĩa của Hiến chương, một khi nền tảng về mặt đạo đức trong những hoạt động của Hiến chương chưa được làm sáng tỏ - dù chỉ với mục đích để tìm ra sự thật và để tiến hành một cách tỉnh táo. Không còn cách nào khác, tôi đành chấp nhận sự rủi ro sẽ bị coi là kẻ tự phụ.

    Hiến chương 77 không hình thành từ một tham vọng chống lại một thể chế chính trị hay một ý thức hệ bằng một thể chế chính trị hay một hệ ý thức hệ khác; Hiến chương cũng không mong muốn trở thành một lực lượng chính trị nhằm cạnh tranh với lực lượng chính trị đang cầm quyền; Hiến chương không tự coi mình là một lựa chọn tốt hơn để thay thế cho đội ngũ cầm quyền. Trong số những người ký Hiến chương, mặc dù có những người trước đây là chính trị gia, nhiều trong số họ thậm chí vẫn đang tham gia chính trường, một số có thể lại tham gia chính trường nếu có cơ hội, mặc dù trường hợp đó khó có thể xảy ra. Tất cả những điều đó không thay đổi được một thực tế là bản thân Hiến chương - ít nhất là trong đường lối nội bộ - không phải là một thử nghiệm để giải quyết khủng hoảng bằng con đường chính trị. Giải pháp chính trị như vậy có lẽ sẽ là dễ hiểu đối với những người quan sát sống trong những xã hội cởi mở, hoặc ít bị phân hóa hơn về mặt đạo đức. Trong trường hợp Hiến chương, đi tìm một giải pháp chính trị sẽ là một sự hiểu lầm vô vọng về tình hình chung cũng như vị thế của mình.

    Giải pháp duy nhất, có lô-gic, có ý nghĩa để công dân thoát khỏi cuộc khủng hoảng về mặt đạo đức của xã hội phải là một giải pháp đạo đức.

    Chắc chắn rằng tôi không phải là người đầu tiên và cũng không phải là người cuối cùng xem Hiến chương như một nỗ lực cho một giải pháp như thế. Jan Patočka đã có cái nhìn đó ngay từ buổi đầu của phong trào. Đa số mọi phản hồi và tự phản hồi sau này của Hiến chương đều có liên quan hay khởi nguồn chính từ quan điểm này của ông.

    Chúng ta có thể thấu hiểu căn nguyên quan điểm của Hiến chương trong bối cảnh của bầu không khí mà phong trào đã xuất hiện.

    Khoảng giữa những năm bảy mươi, đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu cho thấy xã hội đang bừng tỉnh - mặc dù chỉ trong môi trường của một nhóm "thiểu số đáng kể": nhiều người đã bắt đầu hồi tỉnh sau cú sốc lịch sử trước đó; nhiều người cuối cùng đã bắt đầu rũ bỏ những ảo tưởng còn sót lại của mình và suy nghĩ một cách tự do thực sự, nhiều người đã “mệt mỏi vì những mệt mỏi của chính mình” và bắt đầu nhận thức được rằng không thể chỉ cứ chờ đợi một ai đó (từ bên trên? từ bên ngoài?) cải thiện tình hình; nhiều người đã chán ngấy vai trò là một đối tượng thụ động muôn đời của lịch sử, và đã cảm nhận được ở một mức độ nào đó sự cần thiết để lại trở thành chủ thể của lịch sử; nhiều người đã chết ngạt trong không khí tù túng của căn hầm trú xã hội của mình và đã cảm nhận lại phần trách nhiệm của mình đối với số phận của tất cả. Bước vào tuổi biết nhận thức là thế hệ trẻ không bị những trải nghiệm trong vụ chiếm đóng của Liên Xô làm tổn thương. Những hội nhóm khác nhau mà cho đến khi đó còn hoạt động riêng lẻ, cô lập và dường như chỉ lo cho riêng mình, đã có khát vọng nhảy ra khỏi hạn định hiện tại của mình để bước vào đời sống công cộng. Tình đoàn kết lại được đánh thức và nhận thức về tính không thể chia cắt của tự do càng ngày càng cao: người ta bắt đầu nhận ra rằng tấn công vào tự do của một cá thể cũng đồng nghĩa với việc tấn công vào tự do của tất cả mọi người, và một khi xã hội còn bị sự bàng quan chia rẽ và còn có những người im lặng trước việc người khác bị trấn áp, thì sẽ không có bất kỳ ai thoát được khỏi sự thao túng nói chung.

    Năm 1976, các thành viên và cộng sự của ban nhạc rock The Plastic People of the Universe bị bắt giam. Quyền lực lần này đã không tấn công vào những đối kháng chính trị của mình như trong giai đoạn đầu những năm bảy mươi, mà đã tấn công vào chính cuộc sống, chính xác hơn, là tấn công vào khát vọng được bộc lộ mình một cách tự do, theo cách của riêng mình, một cách chính đáng và xác thực. Sự nguy hiểm của lần tấn công này đã bị phơi bày một cách nhanh chóng và rộng rãi, và phong trào vận động đoàn kết xuất hiện lúc bấy giờ đã là tấm gương phản chiếu những thay đổi mà tôi đã nhắc tới, và là bằng chứng hiện hữu trên mọi khía cạnh về những thay đổi này, từ quyết tâm của những hội nhóm khác nhau vượt qua cái bóng của chính mình, cho đến sự nhận thức ngày càng sâu sắc về tính không thể chia cắt của tự do. Sự chuyển biến diễn ra lúc bấy giờ của nhóm "thiểu số đáng kể" này không phải là hoàn toàn vô nguyên cớ và đột ngột, mà nó chính là câu trả lời tất yếu của một nhận thức xã hội đang bừng tỉnh trước hành động tấn công của giới cầm quyền. Nhờ sự đoàn kết với những người bị nạn, quá trình thức tỉnh tất nhiên lại càng được thúc đẩy nhanh chóng hơn: hàng rào cản đã bị vượt qua và một bầu không khí cộng đồng đã nhanh chóng nảy sinh.

    Sự kiện này đã trực tiếp dẫn đến sự ra đời ngay sau đó của Hiến chương 77, nó đã liên kết những con người rất khác nhau, những hội nhóm rất khác nhau để rồi bằng một cách nào đó hàn gắn lại và biến nhận thức về tình đoàn kết tương hỗ và nhận thức về trách nhiệm đối với những vấn đề chung thành một thực tế xã hội.
    Hiến chương là sự ra mắt công chúng quan trọng đầu tiên trong thời Husák . Nó đã liên kết được với nhau các nhà văn và các cựu chính trị gia, những người cộng sản và những người không cộng sản, những tín đồ Kitô giáo và những tín đồ tin lành, các trí thức và các công nhân, các giáo sư đại học và giới trẻ bất tuân. Họ không liên kết với nhau trên nền tảng chính trị, mà là vì những lý do nội tâm. Nhiều phần những lý do đó mang tính nhân tính nhiều hơn là chính trị. Trăn trở chung của họ trước hết là trăn trở đạo đức.

    Hiến chương đã xuất hiện như một điều tự nhiên và chỉ như vậy nó mới có thể được hình thành. Hiến chương không phải là kết quả của lối suy diễn lạnh lùng dựa trên sự phân tích tình hình theo lối chính trị học. Các thái độ đạo đức không được xác lập bằng cách đó. Những trăn trở đạo đức phần nhiều do lương tâm chứ không phải là lý trí. Hiến chương không hình thành từ những lập luận logic, mà từ những logic bên trong của sự việc, nghĩa là từ logic của hoàn cảnh và logic trong cách phản ứng của con người trước hoàn cảnh đó. Đó là câu trả lời xác thực của người công dân trước tình trạng đạo đức bị thoái hóa. Hiến chương hình thành từ mong muốn chống lại những áp lực vô đạo đức của thời thế; muốn gạt bỏ đi căn bệnh tâm thần phân liệt bị ép đặt; bước qua giới hạn của những tư lợi cá nhân và nỗi sợ của chính mình; vượt ra khỏi những hầm trú của sự riêng tư để đăng nhập tham gia vào những vấn đề công cộng; không còn tiếp tục khen bộ quần áo của nhà vua ở truồng, mà ngược lại nói lên sự thật; nói một cách ngắn gọn là mong muốn được hành xử phù hợp với lương tâm của chính mình và đơn giản là đứng thẳng làm người. Đó là một nỗ lực ngẩng cao đầu của kẻ bị hạ thấp phẩm giá , sự lên tiếng của kẻ bị bịt miệng, cuộc nổi dậy chống lại sự dối trá của kẻ bị lừa dối, sự cố gắng thoát khỏi cảnh ngộ bị điều khiển của kẻ bị thao túng. Đó là nỗ lực thực hiện quyền mà mình được hưởng, giành lấy trách nhiệm đã bị phủ nhận, tìm lại phẩm giá con người và sự toàn vẹn của nhân tính, và bằng cách như vậy khôi phục lại sự tôn trọng với chính bản thân mình.

    Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ như in những biểu hiện nhẹ nhõm vui sướng, niềm hân hoan tự hào của sự tự khẳng định mình, thậm chí cảm giác giải phóng sảng khoái của nhiều thành viên khi ký tên vào Hiến chương ngày đó. Giống như vừa trút bỏ được một cái gì đó thật nặng nề, một vỏ bọc mà từ rất lâu phải ép mình trong đó, họ như được trực tiếp hồi sinh bởi nhận thức được rằng thời kỳ phẩm giá con người bị xúc phạm cùng với thói đạo đức giả đã kết thúc.

    Những biểu hiện như vậy không phải chỉ là trạng thái tâm lý nhất thời riêng lẻ. Nó minh họa cho ý nghĩa của Hiến chương đối với rất nhiều người, nó nói lên bản chất đạo đức - chính là bản chất thật sự của lập trường mà Hiến chương là người đại diện.

    Khi nhắc đến sự liên hệ của một cái gì đó có bản chất hay khởi nguồn từ đạo đức thì tựu trung điều đó nghĩa thế nào?

    Về cơ bản, nó có nghĩa là việc làm của chúng ta không xuất phát từ những động cơ “có mục đích”, tức là nhờ có một đảm bảo chắc chắn rằng việc làm đó sẽ có được cơ hội thành công nhanh chóng, ngay lập tức, rõ ràng, có thể kiểm chứng được (và do đó ít nhiều là thành công bề ngoài), mà chúng ta làm chỉ đơn giản vì chúng ta cho rằng đó là một điều tốt. Động lực đạo đức buộc chúng ta phải làm những việc tốt như mọi việc tốt, vì chính việc tốt đó, và vì đó là nguyên tắc.

    Khác với những động cơ vì mục đích, động cơ đạo đức được xây dựng trên niềm tin vững chắc rằng việc tốt luôn luôn có ý nghĩa. Và đồng thời cũng dựa vào niềm hy vọng, rằng ý nghĩa đó, sớm hay muộn sẽ được chứng tỏ và được khẳng định bằng cách riêng của mình. Đồng thời chúng ta cũng ý thức đầy đủ khả năng rủi ro rằng điều này không nhất thiết phải xảy ra, dẫu vậy nhận thức đó không hề khiến chúng ta quay lưng lại với dự định ban đầu. Niềm tin chắc chắn trong tâm khảm vào ý nghĩa của việc làm đúng đắn cũng là niềm tin rằng việc làm đó có ý nghĩa ngay cả khi nó không thành công. Nói một cách khác, động cơ đạo đức bắt buộc chúng ta làm những việc nhất định, bất kể việc đó có thành công hay không, khi nào thành công, hay thành công như thế nào, nghĩa là ngay cả khi không có bất cứ một đảm bảo nào rằng việc làm này, bằng cách nào đó, sẽ mang lại lợi ích hay lợi nhuận gì cho chúng ta.

    Những người ký Hiến chương không phải những kẻ thiếu tỉnh táo, họ không nghĩ rằng ngay lập tức chính quyền sẽ đối thoại với họ và cả xã hội sẽ đồng tình với họ, hay tình hình đất nước sẽ đổi thay và chẳng mấy chốc sẽ trở nên tốt đẹp ngay sau khi Hiến chương xuất hiện. Ngược lại, mỗi người đều tính đến khả năng là họ sẽ bị trừng phạt.

    Dẫu vậy họ đã dấn thân vào con đường ấy. Họ dấn thân, bởi họ cho như thế là đúng, với niềm tin, rằng một việc đúng đắn luôn luôn là một điều đáng làm, cũng như họ luôn hy vọng, rằng cảm giác hài lòng trong thâm tâm khi làm được một việc lành sẽ được cộng hưởng bởi niềm vui khi được bên ngoài thừa nhận, dù thừa nhận ấy có chậm trễ, gián tiếp và hết sức kín đáo. Họ đã làm điều đó với nhận thức – cho phép tôi được trích câu nói nổi tiếng của Jan Patocka - rằng có những việc xứng đáng để con người phải hy sinh, chịu đựng.

    Người muốn tìm hiểu ý nghĩa của Hiến chương một cách đúng mức, có nghĩa là tìm hiểu cả hậu cảnh những vấn đề mà Hiến chương nêu ra, sẽ phải tự hỏi: Hiến chương có phải là một hành động nhằm phục hồi nhân cách? Chỉ khi câu trả lời là có, thì mới có thể tiếp tục tìm hiểu ý nghĩa xã hội của Hiến chương. Và phải tìm ở nơi duy nhất có thể tìm thấy nó: đó là phạm vi mà một thái độ đạo đức có thể gây ảnh hưởng về mặt chính trị. Nghĩa là trong một địa hình tinh vi khó nhận thấy đối với con mắt thiếu kiên nhẫn của người quan sát, thường chỉ quen tìm hiểu những hiệu ứng chính trị của các hoạt động chính trị.

    Chúng ta hãy thử tìm hiểu theo hướng này.

    Hiến chương 77 có thật sự là một hành động phục hồi nhân cách?

    Nghiên cứu những hoạt động cụ thể của Hiến chương, trước hết là những tài liệu của phong trào, chúng ta nhận thấy ngay nét đặc trưng nhất: ở đây, con người với danh nghĩa công dân, trong ý nghĩa trọn vẹn và cao đẹp nhất của từ này, đã lên tiếng. Có thể nói, Hiến chương là biểu hiện của nhận thức, lương tâm và lòng tự tin đang dần dần bừng tỉnh trong người công dân. Người công dân ở đây lên tiếng đòi quyền của mình, những quyền được thừa nhận trên lý thuyết, nhưng bị chà đạp trong thực tế, và đòi được thực hiện những quyền này của mình một cách đầy đủ. Họ không còn xử sự như kẻ bị lệ thuộc, họ đã tìm về với tự do của mình.

    Có thể điều đó có vẻ vẫn còn là ít. Có thể không ít người mong muốn, và đối với họ có thể dễ hiểu hơn, nếu như Hiến chương đưa ra ngay một chương trình chính trị.

    Cơ hội đưa ra một chương trình chính trị luôn là cơ hội mở, bất kỳ ai, bất cứ lúc nào đều có thể nắm bắt lấy cơ hội đó, Hiến chương không những sẽ không ngăn cản mà còn sẵn sàng ủng hộ việc làm như vậy. Tuy nhiên, mục tiêu của Hiến chương hoàn toàn khác. Mục tiêu của Hiến chương có vẻ giản dị hơn, nhưng về một mặt nào đó sâu sắc hơn.

    Bởi những chương trình chính trị có thể ra đời, hoạt động hay chấm dứt, thu hút được hay là đánh mất sự ủng hộ và thật sự gây được ảnh hưởng tới thời cuộc chỉ trên cơ sở quyền công dân thực sự được khôi phục, và đó chính là nền tảng mà Hiến chương xây dựng. Một đám người bị lệ thuộc không thể phác thảo, tuyên bố và thực thi một cương lĩnh chính trị, chỉ có những công dân tự do với đầy đủ thẩm quyền pháp lý mới làm được điều đó; không có công dân thì không có chính trị. Ngôi nhà phải được xây dựng từ nền chứ không thể xây từ mái. Khôi phục quyền công dân không phải là một "sản phẩm được chưng cất" từ chính trị, ngược lại, nó là điều kiện tiên quyết của một nền chính trị.

    Không những thế, chính trị có thể đổi thay, nhưng nhu cầu cấp thiết của quyền công dân như điều kiện cần cho mọi nền chính trị, sẽ trường tồn. Đó là nhu cầu vô tận, không bao giờ cạn kiệt, luôn có tính thời sự và không thể đạt tới đỉnh điểm: nó đòi hỏi lòng can đảm, lý trí để hướng tới sự thật, nó đòi hỏi lương tri, sự tự do về mặt tinh thần và trách nhiệm với công việc chung. Vậy khi nào mới có thể tuyên bố được rằng con người đã đáp ứng được chuẩn mực của những giá trị trên?
    Có thể nói, theo tinh thần lý luận của Ladislav Hejdanek , mục tiêu của chính trị là hữu hạn và mục tiêu của Hiến chương là vô hạn.

    Nó vô hạn vì nó mang tính đạo đức.

    Phải chăng việc tinh thần công dân được phục hồi chỉ là hình thức, là hậu quả và là biểu hiện của việc nhân cách được phục hồi? Liệu có thể hình dung việc tinh thần công dân được phục hồi mà thiếu động lực đạo đức? Xét cho cùng, trong ý nghĩa lớn lao và nhiều ràng buộc như Hiến chương yêu cầu và đòi hỏi, là công dân có nghĩa là sẵn sàng gánh nhận trách nhiệm ngay cả ở mức độ khi mà điều đó là không có lợi!

    Tôi nghĩ rằng, những nỗ lực thường xuyên và rõ ràng của Hiến chương nhằm phục hồi một cách triệt để quyền công dân đủ chứng tỏ rằng lập trường cơ bản của Hiến chương về các vấn đề xã hội là một lập trường thật sự có tính chất đạo đức.

    Hiến chương 77 không có trong cương lĩnh một kế hoạch lật đổ chính phủ hay phá bỏ hệ thống xã hội đang tồn tại. Vì thế nó cũng không phải là sự tấn công chống lại hệ thống hành pháp. Ngược lại, Hiến chương nỗ lực khôi phục lại dân quyền bằng cách đòi các điều luật phải thực sự có hiệu lực và được chấp hành; nó lưu ý cách giải thích luật tùy tiện của nhà cầm quyền; và muốn pháp luật không chỉ tồn tại trên giấy tờ mà phải được tôn trọng và thực thi cả trong thực tế. Khi thấy điều luật nào sai sót, Hiến chương sử dụng mọi phương tiện theo đúng luật pháp để đề nghị sửa đổi. Vì thế quan hệ của Hiến chương với chính quyền cũng được phát triển: Hiến chương liên tục hướng gửi tài liệu cho các cơ quan nhà nước và chính phủ mặc cho họ có thái độ từ chối và cho dù rằng các tài liệu đó không được (chính thức) đem ra thảo luận và bàn bạc.

    Hành động này có thể dễ dàng bị phê phán: mười năm viết thư gửi nhà cầm quyền để làm gì khi mà mười năm họ không thèm trả lời? Liệu đó có phải là hành động thiếu mục đích và vì thế là vô nghĩa? Liệu có phải bằng cách đó Hiến chương càng thừa nhận thêm quyền lực của những kẻ không đếm xỉa đến ý kiến nhân dân và càng gây thêm ảo tưởng về tính hợp pháp của họ? Liệu nó có tạo ra cảm tưởng là chiếc chìa khóa cho bất cứ chuyển biến nào tốt đẹp hơn đều nằm đâu đó ở “trên cao”, trong tay những kẻ cầm quyền, và những người ở “dưới thấp” không thể làm gì cả?. Liệu ở đó có yếu tố của một trò chơi dân chủ giả mạo trong một chế độ hoàn toàn độc tài chuyên chính? Liệu chúng ta có làm như thể công nhận “họ” có chút tiến bộ, muốn tiến bộ hơn và cũng có để ý đến ý kiến của chúng ta, mặc dù chúng ta thừa biết rằng, họ chỉ làm những gì họ muốn, và rằng không có gì tác dụng với họ ngoài vũ lực?

    Trên khía cạnh chính trị hoặc chính trị thực dụng thì không hồ nghi gì nữa, việc làm của chúng ta có thể được xem là như vậy. Nhìn từ quan điểm dựa trên nỗ lực tìm hiểu ảnh hưởng chính trị của cách hành xử mang tính đạo đức thì việc làm đó sẽ không biểu hiện như thế: nếu như dưới góc nhìn của thời điểm ngày hôm nay và những mục đích tức thời, quyền lực và tính hợp pháp của những người nắm quyền dường như đã được thừa nhận, dưới góc nhìn từ thời tương lai xa của lịch sử và của những nguyên tắc có giá trị vĩnh viễn, thì ngược lại nhận thức công dân đang được chứng thực. Chính phủ sẽ thay đổi, luật pháp sẽ thay đổi, thậm chí cả hệ thống xã hội cũng có thể thay đổi. Nhưng những gì luôn có giá trị và không bao giờ mất đi tính thời sự chính là nguyên tắc, rằng công dân phải cùng nhận trách nhiệm chung về số phận của tổng thể, và trong tinh thần đó phải luôn luôn hành động: không ngừng nói lên sự thật bất kể những khó khăn tức thời (tương ứng với khung cảnh của thời đại); phổ biến sự thật cho mọi người và cả chính quyền, yêu cầu chính quyền chú trọng đến sự thật; và bằng cách đó mở ra một không gian thảo luận dân chủ - cho dù trong thời điểm đó, thành công có thể là nhỏ hay là lớn; duy trì, góp ý và đẩy mạnh nguyên tắc tham gia quản lý việc công trong xã hội cũng như quyền của tất cả các công dân cùng tham gia quản lý.

    Nhiệm vụ của Hiến chương không phải là phán xét những người cầm quyền, mà là phản ánh hiện trạng và qua đó thực hiện quyền của người công dân vốn là cơ bản và vĩnh viễn.

    Thế là lại một lần nữa: đối lại với sự hữu hạn của một câu hỏi có tính chính trị, liệu việc viết thư và gửi thư cho một chính phủ thế này có nghĩa lý gì hay không, là tính vô hạn của một nguyên tắc mang tính đạo đức, rằng vấn đề chung của chúng ta phải thực sự là vấn đề chung của tất cả chúng ta. Nói cách khác: hành động như một người công dân tự do, ý thức được quyền và nghĩa vụ của mình, “nói vào việc chung” là một việc làm luôn luôn, và mãi mãi và từ trong bản chất là có ý nghĩa. Không phụ thuộc vào việc khuôn mẫu xử sự này có đi vào tiềm thức chung hay không, đi nhanh hay chậm.

    Ở đây, tôi không thể và cũng không đủ trình độ chuyên môn để đánh giá nội dung hàng trăm tài liệu mà phong trào Hiến chương 77 đã công bố trong vòng mười năm tồn tại của mình. Tuy nhiên tôi biết rằng, ngay cả khi Hiến Chương có thể đã có lúc không nắm bắt rõ vấn đề mà nó đề cập đến (lẽ tự nhiên, không ai không có lúc nhầm lẫn) thì một điều không thể tranh cãi là trong mọi tài liệu, Hiến chương 77 đều luôn hành xử theo thiện chí nhằm đưa ra bức tranh trung thực nhất về vấn đề liên quan.

    Ngay cả nhà chính trị tài giỏi nhất đôi khi cũng phải điều chỉnh – cho dù rất ít hay thậm chí một cách vô thức – cách diễn giải các sự kiện xã hội cho thích hợp với triển vọng quyền lực xuất phát từ những ham muốn quyền lực nhất định của mình. Nhóm Hiến chương 77, ngược lại, do không lấy quyền lợi chính trị làm mục tiêu, có thể tự do đấu tranh cho một lẽ phải thật sự không thiên vị. Tức là sự thật và lẽ phải không bị chi phối bởi việc nó sẽ có lợi hay không có lợi cho ai.

    Một sự thật hoàn toàn và đầy đủ, như chúng ta đều biết, chỉ tồn tại trong một vương quốc không tưởng. Nếu như dù vậy Hiến chương 77 vẫn quyết tâm đi theo con đường không thực tế và thiếu khôn khéo để tìm ra một sự thật khách quan, thì điều đó một lần nữa lại thể hiện định hướng mang tính đạo đức của Hiến Chương và vô vàn những mục tiêu xuất phát từ định hướng đạo đức này: một khi việc tìm kiếm sự thật là điều về nguyên tắc là đúng đắn và có ý nghĩa, thì trên nguyên tắc, không thể hạn chế nó trên bất cứ phương diện nào.

    Cả điều này đôi khi cũng gây nên một số bàn cãi: ai đó có thể cho rằng, giả sử chúng ta đôi khi tỏ ra trung thành hơn với một mục đích hay một thế lực chính trị nào đó, có lẽ hoạt động của chúng ta sẽ có hiệu quả chính trị cao hơn. Điều đó có thể đúng. Có điều, bằng thái độ trung thành như vậy, Hiến chương sẽ phản lại lòng tin của chính mình. Chúng ta không thể giữ một quan điểm, đồng thời chối bỏ hệ quả tự nhiên của quan điểm ấy.

    Như tôi đã nhắc qua, ngoài ra Hiến chương 77 đã khởi phát cũng từ nhận thức về tính không thể phân tách của tự do và nhân quyền.

    Nguyên tắc này là tiền đề tự nhiên, là một bộ phận và là hệ quả của việc quyền công dân được phục hồi: không thể là công dân (ít nhất là trong ý nghĩa dân chủ và theo định nghĩa mạnh mẽ của khái niệm này) đồng thời cản trở quyền công dân của người khác ; trong nỗ lực thực hiện quyền công dân của chính mình không thể thiếu sự tôn trọng chính những quyền đó của những người khác; nếu chỉ một cá nhân bị tước đoạt quyền đó, thì quyền của tất cả mọi người đều bị cắt xén.

    Điều đó có nghĩa là tất cả mọi công dân, với tư cách là công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước xã hội và trước cả chính quyền ; không có cá nhân nào trên danh nghĩa quan điểm, tín ngưỡng, xuất thân, giới tính, thành viên của nhóm xã hội, nhóm sở thích hay các nhóm tương tự, được ưu tiên có quyền và có nghĩa vụ nhiều hơn hay ít hơn cá nhân khác. Việc thực hiện hay sử dụng quyền và nghĩa vụ đó ra sao, cách đáp lại sự công bằng trong mọi cơ hội như thế nào, phụ thuộc trước hết vào chính cá nhân đó.

    Dựa trên nguyên tắc này, tính đa nguyên của Hiến chương 77 được phát triển như một quy tắc nội bộ hay tư tưởng chung (hay là tư tưởng chung phản ánh vào nội bộ). Nếu một lúc nào đó, một thành viên của Hiến chương có tiếng nói được lắng nghe nhiều hơn các thành viên khác, thì điều đó chỉ do bản chất của công việc cụ thể và sự tích cực của cá nhân đó, nhất quyết không phải là vì cá nhân đó là thành viên của một tổ chức có định hướng nhất định nào về tôn giáo hay chính trị. Thẩm quyền, uy tín của mỗi cá nhân là có điều kiện và có thế nói là ‘được phong tặng’, và không xuất phát từ bất cứ một nguyên tắc lựa chọn nào khác.

    Hiến chương 77 không phải là một liên minh. Hiến Chương không giống như tổ chức Mặt trận Dân tộc thời kỳ hậu chiến mà về bản chất vốn là nhóm đặc quyền thế lực của một số người, loại trừ những người ngoài tổ chức khỏi quyền lực chính trị. Hiến chương 77 cũng không phải là một hiệp hội khép kín, mà là một phong trào mở. Ai cũng có thể tham gia ký tên, và chỉ phụ thuộc vào việc người đó làm tròn bổn phận đã nhận bằng chính chữ ký của mình như thế nào.

    Sự cởi mở, bình đẳng và lòng khoan dung một cách triệt để của phong trào Hiến chương 77 bắt nguồn chính từ lòng khoan dung và hiển nhiên càng làm sự khoan dung đó trở nên sâu sắc hơn, đã đại diện cho một hiện tượng có một không hai trong lịch sử hiện đại của Tiệp Khắc. Hiến chương không nhất thiết phải được đánh giá một cách sâu sắc trên khía cạnh tức thời.

    Nhưng không phải vì thế mà ý nghĩa đạo đức, và do vậy cả ý nghĩa chính trị tiềm tàng của Hiến Chương bị giảm sút: cho dù trên thực tế chỉ giới hạn trong khuôn khổ cộng đồng của mình, Hiến chương đã làm sống lại lý tưởng chung, đã soi rọi ra xa ngoài biên giới của mình, để cuối cùng được lưu lại trong ý thức và trong ký ức của xã hội như một tiền lệ cho các phong trào tương tự, Hiến chương là khuôn mẫu, là thách thức và kinh nghiệm, mà tạm thời chúng ta không thể phán đoán được hết mọi hệ quả của nó trong tương lai. Lần đầu tiên - cho dù chỉ trong một mô hình nhỏ - đã chứng tỏ được rằng ngay cả trong điều kiện của chúng ta, sự hợp tác dân chủ một cách triệt để của tất cả dân chúng là điều có thể. Giả sử ngày mai Hiến chương 77 không còn tồn tại nữa, thì cũng không thể dễ dàng tước đi những kinh nghiệm này khỏi tiềm thức cộng đồng.

    Rõ ràng, lợi ích của Hiến chương không thể đo được bằng những tiêu chuẩn chính trị thông thường. Nhưng không có nghĩa là lợi ích đó không tồn tại.

    Một nhà chính trị luôn cố gắng thuyết phục người dân tin vào sự đúng đắn trong đường lối của mình, cố chiếm cảm tình của họ, hô hào và thuyết phục, hứa hẹn điều nọ điều kia, thu hút dân chúng bằng cách dẫn dắt và kêu gọi, thậm chí đôi khi bằng mệnh lệnh và cả sự đe dọa, tập hợp và huy động, đòi người dân bỏ phiếu, ủng hộ, tín nhiệm và trung thành với mình.

    Hiến chương không hề có những hành động như thế, thậm chí cũng không tìm kiếm thêm người ký tên. Mặc dù bất cứ cá nhân nào và bất cứ lúc nào đều có thể tham gia, nhưng Hiến Chương không bao giờ và không khi nào tổ chức việc đi thu nạp người. Hiến chương không ép buộc, không thuyết phục cũng như không hô hào bất cứ ai. Hiến chương không cố gắng tuyên truyền, không đại diện cho bất cứ ai, cũng không lên án hay chỉ trích người không ủng hộ mình.

    Nếu Hiến chương vẫn được coi là lời kêu gọi đối với người dân, thì đó chỉ có thể là lời kêu gọi gián tiếp. Những việc Hiến chương làm, Hiến chương đều tự chịu trách nhiệm và chấp nhận nguy hiểm, và qua hành động của mình Hiến chương nhiều phần chỉ nhắc nhở những việc mà ai cũng có thể làm được. Đó là, ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất, chúng ta vẫn có thể hành xử như những công dân, lên tiếng đòi quyền công dân của mình và cố gắng thực hiện quyền đó. Rằng ngay cả ở những nơi mà sự dối trá được thể chế hóa, mỗi công dân vẫn có thể nói lên sự thật. Rằng mỗi một công dân đều có trách nhiệm chung với số phận của tập thể mà không phải nghe mệnh lệnh từ trên xuống. Rằng đơn giản là ai cũng có thể bắt đầu từ chính mình và ngay lập tức.

    Thật sự, khát vọng của Hiến chương không phải là phô trương về số lượng người ủng hộ, về việc bày binh bố trận, việc dựa vào đám đông để lấy ảnh hưởng, và sau đó điều khiển đám đông.

    Đôi khi các nhà báo nước ngoài nói với tôi rằng Hiến chương không thể có ý nghĩa xã hội sâu rộng một khi chỉ có ít người ký tên như thế. Điều này nhắc tôi nhớ đến câu hỏi nổi tiếng của Stalin ‘Đức Giáo Hoàng có bao nhiêu quân đoàn?’. Tất nhiên là tôi không định so sánh chúng ta với Vatican, tôi chỉ muốn nhấn mạnh rằng sức mạnh tiềm tàng của Hiến chương - cũng như các phong trào tương tự trong khối Xô Viết - không nằm trong số lượng.

    Khát vọng của Hiến chương là hành động theo lương tâm và niềm tin của chính mình, và qua đó chỉ ra cho những người khác thấy rằng họ cũng có cơ hội như vậy. Hiến Chương nhắc họ nghĩ đến phẩm giá con người của chính họ. Hiến chương nhắc họ sự thật.

    Hiến chương không cho rằng phương pháp làm việc của mình là khả dĩ duy nhất và tốt nhất khiến mọi người cần làm giống như thế. Việc chấp nhận lời kêu gọi gián tiếp của Hiến chương như thế nào, hay khi đã chấp nhận lời kêu gọi đó thì làm gì và làm bằng cách nào, hoặc là do cảm hứng từ việc làm của Hiến chương liệu có hướng tới một việc gì cụ thể, phù hợp với hoàn cảnh riêng hay không, là việc của mỗi cá nhân. Bất kỳ ai làm được điều gì tốt đẹp cho xã hội, tức là đã làm điều tốt cho cả Hiến chương. Điều quan trọng đối với Hiến chương là việc chung chứ không phải chính Hiến chương. Việc chung của xã hội chính là việc của Hiến chương.

    Vì vậy sẽ không đúng khi đánh giá ý nghĩa của Hiến chương theo việc Hiến chương đang hoạt động như thế nào hay là có được “vị trí” ra sao. Điều quyết định ở đây là những nguyên tắc mà trên tinh thần đó Hiến chương luôn cố gắng hoạt động, chiếm được “vị trí” thế nào trong xã hội.

    Có lẽ từ mọi điều trên có thể thấy được đâu là nơi mà trước tiên chúng ta cần tìm hiểu ý nghĩa của mười năm hoạt động của Hiến chương 77: đó là trong lĩnh vực ý thức xã hội và tiềm thức xã hội rất khó biểu thị, trong những bước chuyển ngầm của tinh thần chung và trong ý thức đạo đức chung, những điều mà nhiều khi do sự hối hả của cuộc sống hàng ngày, và do không có khả năng so sánh rõ ràng với điều kiện xã hội trước đây, chúng ta không ý thức hết được. Và dĩ nhiên cả ở trong những dấu vết có thể nhìn thấy được mà những biến chuyển vô hình đó mang lại.

    Thể chế chuyên chế toàn trị đã nhấn chìm lĩnh vực này vào bóng tối, chính vì thế sẽ rất có ích khi chúng ta khảo sát nó.

    Mọi quyền lực đều là quyền lực áp đặt lên ai đó, và cho dù đó là quyền lực độc tài thế nào đi nữa, nó cũng không bao giờ được dựng lên bởi những gì bay bổng bên ngoài thế giới này, mà ở một chừng mực nào đó, nó luôn được tạo dựng nên bởi chính những cá nhân bị quyền lực đó áp đặt lên. Giữa chính quyền và xã hội luôn có hàng ngàn những tương tác rắc rối với vô vàn những thỏa ước ngầm, ở đây đang diễn ra một vở kịch đầy gay cấn và phức tạp giữa áp lực và nhân nhượng.

    Trong kiểu chế độ độc tài toàn trị mà chúng ta đang sinh sống, những diễn biến này có đặc thù riêng và ý nghĩa của nó cũng được khuếch đại lên: đây là chế độ không được dựng lên chỉ bằng hay chủ yếu bằng những công cụ của chính quyền, chế độ này chắc chắn là không được thả lỏng nhưng tuy vậy có thể dễ dàng nhận ra được sự thống trị của riêng một nhóm người. Ngược lại: ở một mức độ nào đó tất cả mọi người đều bị bắt buộc phải chấp hành tham gia vào việc vận hành guồng máy chuyên chính, do đó mà trách nhiệm của chính quyền trở nên vô danh. Trong một phần bản chất của mình, mỗi cá nhân là một kẻ cấp dưới lệ thuộc, sợ sệt cấp trên, nhưng đồng thời cũng lại là người đè nén đáng sợ đối với cấp dưới của anh ta. Vì vậy chế độ toàn trị kéo cả xã hội vào cái vòng xoáy của nó không chỉ như những nạn nhân mà còn như những kẻ tòng phạm. Nhìn bên ngoài ai cũng ít nhiều góp phần vào việc vận hành bộ máy chuyên chính, đồng thời trong thâm tâm không nhiều thì ít, họ đều muốn chống lại cái vòng quay ấy. Lằn ranh giữa cái gọi là có quyền và không có quyền đi qua trong mỗi người. Tình hình đó giống như một con dao hai lưỡi. Nó rất nguy hiểm ngay cả cho chính bản thân chế độ toàn trị. Tuy là nhấn mạnh sự hiện diện của chính quyền ở khắp mọi nơi, nhưng thật là nghịch lý, nó cũng làm hiện hữu khắp nơi những gì mà chính quyền muốn đàn áp: đó là những ước vọng riêng về một cuộc sống cởi mở trước sự thật và khao khát tự do. Những ước vọng ẩn kín đó tuy bị kiểm duyệt và điều chỉnh, vẫn làm người ta biết đến nó, và cũng chính vì được thể hiện như là một sự bất lực mà nó chính là mối đe dọa đối với chính quyền. Do phạm vi của những gì liên quan đến quyền lực ngày càng được mở rộng một cách vô độ, phạm vi của cái gọi là không có quyền lực cũng càng phát triển.

    Việc xóa bỏ những người bị lệ thuộc cũng sẽ dẫn đến việc xóa bỏ tầng lớp những kẻ thống trị. Người bị trị bị biến chất bởi hệ thống quyền lực, kẻ thống trị bị biến chất bởi tầng lớp không có quyền lực. Nói một cách cụ thể hơn: chưa bao giờ có nhiều người dân ủng hộ chính quyền bằng chính công việc hàng ngày của mình như lúc đó - nhưng đồng thời cũng chưa bao giờ có nhiều người ngấm ngầm chống đối chính quyền đến như thế. Mỗi người đều làm việc mình phải làm, nhưng đều suy nghĩ theo cách riêng của mình. Tình trạng “tâm thần phân liệt” này chia rẽ, làm phân tâm cả những người nắm giữ quyền lực cao nhất.

    Những uớc vọng chân chính của cuộc sống, cho dù bị trói buộc trên mọi phương diện, đang vươn lên từ chính bên trong và chậm rãi xuyên qua toàn bộ cơ cấu chính quyền và đang để lộ dần khuôn mặt của mình qua những áp lực lặng lẽ ở khắp nơi. Chính quyền thích nghi dần với xã hội, bởi xã hội bằng sự lan kết sâu rộng trong chính quyền, đã làm cho chính quyền biến chuyển theo một cách kín đáo. Rất chậm rãi và nhiều khi thật khó khăn, xã hội mới giành giật lại được từ chính quyền một chút quyền lực cho mình. Chính vì vậy những gì xảy ra dưới bề mặt lãnh đạm của xã hội là cực kỳ quan trọng.

    Nhưng không chỉ vì vậy: những tiềm năng riêng chưa được khai thác của cá nhân và xã hội, và tức là cả những tiềm năng của sự bất mãn chung, trong tình hình như thế, đã không chỉ tụ tập giấu giếm dưới hầm trú, vốn là nơi mà trong trường hợp bùng nổ thì có thể dễ dàng đàn áp, tiềm năng này đã lan ra khắp nơi, khắp mọi tầng của ngôi nhà. Vậy nên rất dễ hiểu khi càng ngày càng xuất hiện thêm nhiều những lo ngại về các hình thức, diễn biến và tác dụng của những vụ bùng nổ sắp tới có thể xảy ra.

    Như đã thấy, sẽ là một sai lầm lớn khi đánh giá thấp những biến chuyển vô hình trong lòng xã hội và ý nghĩa chính trị hết sức đặc biệt trong dòng biến chuyển ấy mà trong hoàn cảnh nhất định (trong một môi trường phi chính trị) những biểu hiện hay việc làm mang tính đạo đức hay có tính tồn tại sống còn (hay là những biểu hiện “tiền chính trị”) đã mang đến ngày một nhiều thêm.

    Nhưng chúng ta hãy trở lại với Hiến chương 77.

    Hàng ngàn những kinh nghiệm lớn nhỏ, chung cũng như riêng, càng khẳng định sự tin tưởng vững chắc của tôi, rằng ảnh hưởng của Hiến chương 77 đối với nhận thức của xã hội là rất sâu sắc và có ý nghĩa lớn hơn nhiều so với những suy đoán dựa trên số lượng người đã ký Hiến chương hay đã tham gia biểu tình cho Hiến chương.

    Trước hết: cho dù chính quyền nhà nước đã nhiều lần dùng các biện pháp khác nhau để vùi dập nó, Hiến chương vẫn tồn tại – và tồn tại một cách mạnh mẽ đến mức ngày nay không ai còn cố gắng chôn vùi Hiến chương một cách nghiêm túc. Nói cách khác: chính quyền đã phải thích nghi với sự hiện diện của Hiến chương.

    Nguyên nhân chính có lẽ là vì xã hội đã quen với sự có mặt của Hiến chương. Cái gọi là “băng đảng của những kẻ thất thế” đã vượt qua muôn vàn khó khăn để cuối cùng đòi được quyền tồn tại của mình. Ngày nay Hiến chương là một phần vững chắc và khó có thể tách rời trong cuộc sống xã hội nước nhà, cho dù nó vẫn chỉ có một vị trí dị thường của cộng đồng những người bị coi là kẻ thù của nhà nước, được nhà nước bao dung. Chuyện đó không thể xảy ra nếu như không có sự tôn trọng ngầm của xã hội, sự ủng hộ công khai từ nước ngoài gửi gắm, và ngoài ra (và không chỉ có thế) còn phải kể thêm sự tôn trọng được giấu rất kín từ phía chính quyền nhà nước.
    Nếu chỉ là sự tồn tại trống rỗng và không có bản sắc riêng thì cũng không có ý nghĩa gì nhiều, nếu không nói rằng khó có thể tồn tại như vậy.

    Theo tôi, bản sắc của Hiến chương trong nhận thức chung của xã hội bao gồm hai khía cạnh chính:

    1. Hiến chương nói lên sự thật. Ngày nay ai cũng biết điều đó bất kể quan điểm của họ về việc này như thế nào. Dân chúng biết, ngoài nước biết và nhà nước biết. Hơn nữa nhà nước cũng biết là dân chúng và ngoài nước biết, vì thế họ buộc phải có có một vài hành động. Tuy quần chúng phần lớn chỉ biết tới các văn bản tài liệu của Hiến chương qua các chương trình phát thanh nước ngoài, nhưng hiện tại chỉ như vậy cũng đủ: việc theo dõi các chương trình phát thanh nước ngoài ngày nay phổ biến tới mức có thể mang lại những hình dung cơ bản về Hiến chương.

    2. Ngày nay, Hiến chương – sau khi quyền lực nhà nước đã tỏ rõ quan điểm đối với phong trào này - là một giải pháp cực đoan, nói chung khó chấp nhận và noi theo. Tuy nhiên chính vì vậy - dù không có chủ định và cũng không phải lúc nào cũng được ghi nhận một cách có ý thức - Hiến chương đang tạo ra một đường chân trời mang tính đạo đức, trên nền của đường chân trời đó, bằng cách này hay cách khác (thậm chí bằng cách hoàn toàn tương phản!) có thể tự giới hạn mình; đó như một thứ điểm biến giới hạn có thể tiếp cận từ mọi nơi mà không cần thiết phải trùng nhập. Bằng cách đó Hiến chương phục hồi một hệ thống tọa độ nhất định, tạo ra các chuẩn mực, cung cấp một điểm mốc để từ đó xác định các vị thế khác nhau. (Nhiều lần tôi gặp trường hợp những người đã thích nghi theo quyền lực ở các mức độ khác nhau, đã nhấn mạnh rằng, nếu không có Hiến chương, họ sẽ còn phải uốn mình nhiều hơn nữa.) Người ta cảm thấy, nói một cách hình tượng, Hiến chương ở ngay sau lưng mình. Hơn nữa đối với nhiều người, Hiến chương là một chỗ dựa vững chắc có tác dụng trấn an rằng một khi phải đi đến xung đột với quyền lực độc đoán và nếu bị thất bại, thì đó là nơi họ có thể tìm thấy sự bênh vực. Ngày nay, chỉ hình dung lại quãng thời gian khi Hiến chương chưa tồn tại đã gợi nên một cảm giác trống rỗng và sự tương đối hoàn toàn của tất cả các giá trị công dân.

    Tất nhiên những hoạt động của Hiến chương đã mang lại rất nhiều kết quả thực tế, từ những cố gắng thi thoảng của nhà nước - dường như là tình cờ - giải quyết các vấn đề mà Hiến chương trước đó đã lưu ý, sự phát triển chưa từng có của một nền văn hóa độc lập do được Hiến chương tạo ra môi trường và đích thân bảo vệ, đến các dấu hiệu nhỏ bé khác của xã hội đang được giải phóng trong khuôn khổ cơ cấu đương thời, và cho tới sự lo ngại của quyền lực nhà nước trước những chỉ trích của quốc tế mà có thể buộc tội họ vì những hỗn loạn và bất công mà Hiến chương đã công bố (có nghĩa là trên thực tế Hiến chương hoạt động như một công cụ kiểm soát quyền lực một cách độc lập).

    Tôi sẽ không quá đề cao những thành công cụ thể đó và chỉ muốn nhắc tới những điều đó như „những dấu vết hiện hữu“ xác nhận sự tồn tại của „những chuyển động vô hình“ trong các mao mạch kín của tri giác xã hội đương thời. Bởi vì đó mới là điều quan trọng nhất.

    Sẽ khó có lúc nào có thể xác định được chính xác tất cả các quá trình mà trong phạm trù nói trên Hiến chương với vai trò xúc tác đã khuấy động hay thúc đẩy và liệu những quá trình này đã dẫn tới điều gì. Tuy nhiên Hiến chương không băn khoăn với những khó khăn trong việc xác định kết quả công việc của mình: như có lẽ đã được trình bày rõ, Hiến chương không đo đếm ý nghĩa việc làm của mình theo danh sách những thành công đã được kiểm chứng. Nếu phụ thuộc vào điều đó, hẳn Hiến chương đã không còn tồn tại.

    Nửa đầu những năm bảy mươi là thời kỳ của bàng quan, trống rỗng và xám xịt, cả nước dường như hoàn toàn lãnh đạm, đặc thù của thời kỳ này là sự bất động đặc biệt của lịch sử : ngày lại ngày, năm lại năm qua đi như hai giọt nước; thời gian sinh học trôi qua nhưng xã hội thì đứng nguyên tại chỗ; như thể không có biến cố nào xảy ra vì lý do gì và mục đích gì: chỉ có những biến cố đã được xác định trước, - và đó chỉ là những biến cố giả tạo.

    Chúng ta thường có cảm giác lịch sử dường như đã dừng lại khi các chủ thể tương đối độc lập trong các quyết định xã hội bị mất đi tính đa nguyên tự nhiên của mình, và do đó biến mất cả những hành động khó đoán trước trong mối quan hệ giữa các chủ thể đó. Đó chính là khi quyền lực tập trung tự xác lập chính bản thân mình làm chủ thể duy nhất cho mọi quyết định. Trong hoàn cảnh như vậy, tiền đề cơ bản của tính lịch sử : một kết thúc mở – bị mất đi.

    Sau nhiều năm, Hiến chương 77 đã trở thành chủ thể xã hội độc lập đầu tiên bên cạnh quyền lực tập trung. Từ thời điểm Hiến chương xuất hiện, các mối quan hệ – giữa nhà nước với Hiến chương, giữa xã hội với Hiến chương, giữa nhà nước và xã hội, lại diễn ra sống động trở lại.

    Cơ thể tưởng đã chết bỗng nhiên lại có những biểu hiện sống.

    Lịch sử đã quay trở lại với chúng ta. Kết thúc lại mở ra.

    Có thể sẽ lại có kẻ thô bạo đóng nó lại. Có thể sẽ lại có kẻ bóp nghẹt tất cả những hy vọng tràn trề mới xuất hiện và đẩy bật lịch sử ra khỏi đất nước này. Có thể những nỗ lực của Hiến chương sẽ chẳng biến được thành điều gì có ý nghĩa. Có thể những gì ít ỏi đã xảy ra, rồi sẽ lại biến mất; có thể cả những chuyển động ngầm mà Hiến chương đã xúc tiến, rồi sẽ lại chậm lại. Có thể về sau này, chỉ còn vài kẻ vốn thường quan tâm đến những kỳ thú của lịch sử, sẽ biết tới chúng ta.

    Và cũng có thể Hiến chương sẽ hoàn toàn đi vào quên lãng.

    Tôi không mấy tin vào điều đó nhưng cũng không thể hoàn toàn loại trừ khả năng này.

    Nhưng kỳ lạ nhất là kể cả khi điều đó có xảy ra, chúng ta cũng không phải rời bỏ thế giới khổ đau này với cảm giác là mình đã làm những việc hoàn toàn vô ích.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi