Haruki Murakami - Kino

  • Bởi Diên Vỹ
    10/09/2016
    2 phản hồi

    Diên Vỹ chuyển ngữ từ bản dịch tiếng Anh của Philip Gabriel

    Người đàn ông luôn ngồi ở chỗ cũ, tại chiếc ghế đẩu xa nhất phía cuối quầy rượu. Khi nó không có ai ngồi, nhưng nó hầu như luôn trống chỗ. Quán rượu cũng hiếm khi đông khách, và nó cũng là chiếc ghế kín đáo nhất và ít thoải mái nhất. Chiếc cầu thang nằm phía bên trong khiến cho trần nhà xà thấp xuống, vì thế khó mà đứng thẳng mà không bị đụng đầu. Người đàn ông ấy cao, nhưng không biết tại sao, lại cứ muốn ngồi vào cái chỗ chật hẹp ấy.

    Kino nhớ lần đầu tiên người đàn ông ấy đến quán rượu của mình. Bề ngoài của anh ta lập tức khiến Kino chú ý – đầu cạo trắng xanh, dáng người gầy nhưng vai rộng, tia mắt sắc sảo, đôi gò má cao và vầng trán rộng. Anh ta trông khoảng vào độ đầu ba mươi, mặc một chiếc áo đi mưa dài màu xám, dù trời không mưa. Thoạt đầu, Kino nghĩ anh ta là một thành viên băng đảng Yakuza nên lưu ý đề phòng. Người đàn ông chọn chiếc ghế cuối quầy, cởi áo khoác, và với giọng nhỏ nhẹ gọi một cốc bia, rồi im lặng đọc một cuốn sách dày. Nửa giờ sau, sau khi cạn cốc bia, anh nhấc tay cao khoảng vài phân ra hiệu Kino đến gần, và gọi một ly whiskey. “Hiệu gì?” Kino hỏi, nhưng người đàn ông bảo hiệu gì cũng được.

    “Một loại Scotch bình thường nào đấy. Gấp đôi lượng rượu. Thêm ngần ấy nước lã và một tí đá, làm ơn.”

    Kino chế một tí White Label vào chiếc ly, đổ thêm ngần ấy nước lã và hai viên đá nhỏ tròn trịa. Người đàn ông nhấp một ngụm nhỏ, xem xét ly rượu, và nheo mắt. “Vậy là tốt rồi.”

    Anh ta đọc thêm nửa giờ nữa, rồi đứng lên trả bằng tiền mặt. Anh ta trả đúng số tiền để khỏi bị thối lại xu lẻ. Kino khẽ thở ra nhẹ nhõm khi anh ta vừa bước ra khỏi cửa. Nhưng dù đi rồi nhưng hình ảnh anh ta vẫn hiện hữu. Đứng sau quầy, thỉnh thoảng Kino lại liếc sang chiếc ghế người đàn ông từng ngồi, nửa như trông đợi anh ta vẫn còn đấy, nhấc tay cao khoảng vài phân để gọi rượu.

    Người đàn ông bắt đầu đến quán rượu của Kino thường xuyên. Khoảng một, nhiều nhất là hai lần mỗi tuần. Anh ta vẫn đều đặn gọi một cốc bia trước, rồi đến ly whiskey. Đôi khi anh ta đọc thực đơn trong ngày trên chiếc bảng đen và gọi một món ăn nhẹ.

    Người đàn ông hiếm khi nói lời nào. Anh ta luôn đến vào đầu giờ tối, nách kẹp một cuốn sách rồi để lên quầy. Khi nào thấy mệt mỏi vì đọc sách (ít nhất là Kino nghĩ anh ta mệt), anh ta lại rời mắt khỏi trang sách và quan sát những chai rượu trên kệ trước mặt, cứ như đang thẩm định một loạt những đầu thú nhồi bông từ những miền xa lạ.

    Tuy nhiên, một khi Kino trở nên quen thuộc với người đàn ông, anh không còn thấy khó chịu khi ở gần anh ta, thậm chí khi chỉ có hai người với nhau. Kino cũng không là người nói nhiều, và không thấy khó khăn gì khi lặng thinh trước người khác. Trong khi người đàn ông đọc sách, Kino làm những việc anh vẫn thường làm khi chỉ một mình - rửa bát, pha nước sốt, chọn đĩa nhạc hoặc lật qua các trang báo.

    Kino không biết tên người đàn ông. Anh ta chỉ là một khách hàng bình thường đến quán, thưởng thức một cốc bia và một ly whiskey, im lặng đọc sách, trả tiền mặt, rồi đi. Anh ta chẳng quấy rầy ai. Kino chẳng cần biết thêm về anh ta làm gì

    Thời còn ở đại học Kino từng là một vận động viên nổi bật chuyên chạy cự ly trung, nhưng đến năm thứ ba thì anh bị tổn thương gót chân và phải từ bỏ ý định tham gia vào đội điền kinh cho một công ty nào đấy. Sau khi tốt nghiệp, qua giới thiệu của người huấn luyện viên, anh kiếm được công việc tại một công ty dụng cụ thể thao và làm ở đấy suốt mười bảy năm. Tại sở, anh đảm nhiệm việc thuyết phục các cửa hàng thể thao bày bán giày chạy bộ mang thương hiệu của công ty anh và các vận động viên hàng đầu mang thử chúng. Đấy là một công ty hạng trung có trụ sở tại Okayama, rất ít tiếng tăm, lại thiếu nguồn tài chính dồi dào của một hãng như Nike hoặc Adidas để có thể ký kết các hợp đồng độc quyền với các vận động viên hạng nhất trên thế giới. Tuy nhiên, nó vẫn sản xuất thủ công các đôi giày cho những vận động hàng đầu, và không ít người trong họ cũng tín nhiệm sản phẩm của nó. "Làm ăn lương thiện sẽ được đền bù" là châm ngôn của người sáng lập công ty, và các phương thức có vẻ xưa cũ, khiêm tốn này lại phù hợp với tính cách của Kino. Ngay cả một kẻ lầm lì ít giao tiếp như anh cũng có thể làm được công việc chào hàng này. Đúng ra, chính là nhờ tính cách của anh mà các huấn luyện viên tin cậy anh và các vận động viên mến anh. Anh cẩn thận lắng nghe những nhu cầu của từng vận động viên và bảo đảm viên quản đốc sản xuất nắm bắt được tất cả các chi tiết. Lương bổng nói thẳng ra thì cũng chẳng là bao, nhưng công việc này khiến anh thấy lôi cuốn và mãn nguyện. Mặc dù bản thân mình không thể chạy được nữa, anh vẫn thích xem các vận động viên trên đường chạy, với tư thế hoàn hảo như trong sách vở.

    Kino bỏ việc không phải vì anh không hài lòng với nó mà vì anh khám phá vợ mình đang ngoại tình với người bạn thân nhất của anh ở công ty. Kino dành thời gian đi công tác nhiều hơn là ở nhà mình tại Tokyo. Anh thường nhét đầy giày mẫu vào trong một chiếc túi thể thao lớn và đi vòng các cửa hàng thể thao trên toàn nước Nhật, anh cũng đến các trường đại học địa phương và các công ty nào có bảo trợ các đội điền kinh. Vợ anh và đồng nghiệp của anh bắt đầu ngủ với nhau khi anh vắng nhà. Kino không phải là loại người tinh ý. Anh luôn cho rằng cuộc hôn nhân của mình vẫn tốt đẹp, và chẳng có gì từ lời lẽ và hành động của vợ khiến anh nghĩ khác. Nếu anh không tình cờ về nhà sớm hơn một ngày trong chuyến công tác ấy, có lẽ anh cũng chẳng bao giờ khám phá ra chuyện này.

    Ngày hôm ấy khi anh quay lại Tokyo, anh về thẳng căn hộ của mình ở Kasai và bắt gặp vợ và bạn anh trần truồng quấn quít nhau trên chiếc giường mình, chiếc giường nơi anh và vợ vẫn ngủ. Vợ anh ngồi trên, và khi Kino mở cửa buồng anh đối diện với nàng và đôi vú xinh xắn của nàng đang nẩy lên nẩy xuống. Năm ấy anh ba mươi chín, vợ anh ba mươi lăm. Họ không có con cái. Kino gục đầu, đóng cửa buồng, rời khỏi căn hộ, và không bao giờ quay lại. Ngày hôm sau, anh thôi việc.

    Kino có một người dì không chồng, bà là chị của mẹ anh. Từ khi anh còn nhỏ, bà luôn tử tế với anh. Bà có một người bạn trai lớn tuổi hơn trong nhiều năm (nói đúng hơn là "tình nhân"), và ông ta đã hào phóng tặng bà một căn nhà nhỏ ở Aoyama. Bà sống ở tầng trên và mở một quầy cà phê ở tầng dưới. Trước nhà là một ngôi vườn nhỏ và một cây liễu uy nghi với những cành cây đầy lá xoà dưới thấp. Căn nhà nằm trên một con phố hẹp phía sau Bảo tàng Nezu, không phải là một nơi tốt nhất để hấp dẫn khách hàng, nhưng người dì anh có tài thu hút mọi người, và cửa hàng cà phê của bà cũng kinh doanh khá tốt.

    Nhưng khi qua tuổi sáu mươi, bà bị đau lưng, và ngày càng trở nên khó khăn hơn khi bà phải trông coi cửa hàng một mình. Bà quyết định chuyển vào sống trong một căn hộ tại khu nghỉ dưỡng ở Cao nguyên Izu Kogen. "Dì muốn biết rồi đây cháu có muốn làm chủ cửa hàng không?" bà hỏi Kino. Đấy là ba tháng trước khi anh biết được việc vợ mình ngoại tình. "Cháu cám ơn dì," anh trả lời bà, "nhưng cháu thấy thoả mãn với hiện tại."

    Sau khi thông báo nghỉ việc, anh gọi người dì và hỏi bà có muốn bán cửa hàng chưa. Bà bảo anh nó đang được một người môi giới bất động sản rao bán nhưng vẫn chưa có cuộc mặc cả đáng kể nào. "Cháu muốn mở một quán rượu ở đó nếu được," Kino nói. "Cháu có thể trả tiền thuê nhà cho dì mỗi tháng được không?"

    “Nhưng còn công việc của cháu thì sao?” bà hỏi.

    “Cháu vừa thôi việc vài ngày trước.”

    “Vợ cháu không thắc mắc gì à?”

    “Có thể chúng cháu sẽ sớm ly dị.”

    Kino không giải thích lý do, và dì anh cũng không hỏi tới. Chỉ một khoảng lặng từ phía đầu dây kia. Rồi người dì cho biết giá tiền thuê hàng tháng, thấp hơn nhiều so với Kino dự định. “Cháu nghĩ mình sẽ làm được,” anh trả lời bà.

    Anh và người dì cũng không bao giờ trao đổi nhiều (mẹ anh không muốn anh gần gũi bà), nhưng dường như giữa họ luôn có một sự đồng cảm. Bà biết Kino không phải là loại người thất hứa.

    Kino dùng phân nửa số tiền tiết kiệm để biến quán cà phê thành quán rượu. Anh sắm bàn ghế đơn giản và xây một quầy rượu dài vững chắc. Anh dùng giấy dán tường mới với màu sắc trầm tĩnh, mang từ nhà đến bộ sưu tập nhạc của mình và xếp những đĩa than LP dọc theo một chiếc kệ trong quán. Anh sở hữu một dàn âm thanh tương đối tốt – một đầu đĩa than Thorens, một bộ khuếch âm Luxman, và những chiếc loa hai chiều hiệu JBL – mà anh mua khi còn độc thân, một tiêu xài tương đối xa xỉ vào thời điểm ấy. Nhưng anh luôn thích thú thưởng thức các đĩa nhạc jazz cũ. Đó là thú vui duy nhất của anh, một thú vui mà anh không bao giờ chia xẻ với những người mình quen biết. Lúc còn ở đại học, anh từng pha rượu bán thời gian tại một quán bia ở khu Roppongi, vì thế anh rất rành rẽ về nghệ thuật pha chế.

    Anh đặt tên quán bar của mình là Kino. Anh không thể tìm được cái tên nào khá hơn. Tuần đầu tiên khai trương anh chẳng có một khách hàng nào, nhưng anh không lo lắng mấy. Nói cho cùng, anh đã chẳng đăng quảng cáo, thậm chí cũng chẳng đặt một tấm bảng bắt mắt trước quán. Anh chỉ đơn giản đợi chờ một cách kiên nhẫn những ai tò mò tình cờ đi ngang qua quán rượu nhỏ trong hẻm này. Anh vẫn còn một số tiền trong khoản chu cấp nghỉ việc của mình, và vợ anh cũng chẳng đòi hỏi phụ cấp. Cô ta đã chuyển sang sống chung với người đồng nghiệp cũ của anh, và cô ta cùng anh quyết định bán căn hộ tại Kasai. Kino sống ở tầng trên căn nhà của người dì, và dường như trong thời gian hiện tại, anh có thế xoay trở được.

    Trong khi ngồi đợi khách, Kino khoái nghe những bài nhạc mình thích và đọc những cuốn sách mà anh từng mong mỏi được đọc. Như đất hạn gặp mưa rào, anh để nỗi tĩnh mịch, lặng lẽ, và cô đơn ngấm vào mình. Anh nghe rất nhiều bản độc tấu piano của Art Tatum. Dường như chúng hợp với tâm trạng của anh.

    Anh không biết vì sao nhưng anh không cảm thấy giận dữ hay cay đắng đối với vợ mình, hoặc cả người đồng nghiệp ăn nằm với cô ấy. Rõ ràng anh đã bị sốc vì phản bội, nhưng thời gian trôi qua, anh bắt đầu cảm thấy cũng chẳng thay đổi được gì, cứ như số phận anh đã an bài thế. Cả đời mình, nói cho cùng, anh đã chẳng làm nên được điều gì, hoàn toàn vô tích sự. Anh chẳng làm ai hạnh phúc, và đương nhiên, chẳng làm bản thân hạnh phúc. Hạnh phúc? Thậm chí anh cũng chẳng biết nó mang nghĩa gì. Anh cũng không xác định được rõ ràng những cảm xúc như đau khổ hoặc giận dữ, thất vọng hay buông xuôi, và chúng có cảm giác như thế nào. Điều tốt nhất mà anh có thể làm là tạo một khoảng trống trong tim mình, dẹp bỏ mọi thứ nặng nề sâu kín có thể kiểm soát được, để chúng không lang thang vô chủ đích. Quán rượu nhỏ Kino này, nằm khuất trong con hẻm nhỏ, trở thành khoảng không gian ấy. Và nó cũng trở thành – một cách thực sự vô tình - một nơi chốn yên ả kỳ lạ.

    Kẻ phát hiện Kino là một địa điểm dễ chịu không phải là một người mà là một con mèo hoang. Một con mèo cái còn nhỏ với chiếc đuôi dài đáng yêu. Con mèo ưa chiếc tủ kính đặt chìm ở góc tiệm và thích cuộn người ngủ trên ấy. Kino không để ý đến con mèo lắm, nghĩ rằng nó muốn được để yên. Mỗi ngày một lần, anh cho nó ăn và thay nước uống, ngoài ra không còn gì hơn. Và anh lắp một cánh cửa ra vào dành riêng cho nó để nó có thể tùy ý ra vào tiệm bất kỳ lúc nào.

    Có thể con mèo đã mang may mắn đến, vì sau khi nó đến khách hàng rải rác xuất hiện. Một số trong họ bắt đầu đến thường xuyên – những người trở nên ưa thích cái quán nhỏ trong con hẻm với cây liễu già tuyệt đẹp, người chủ quán trung niên kín tiếng, những đĩa than cổ điển đang xoay trên đầu máy, và một con mèo xám đang nằm dài trong góc. Và những người này thỉnh thoảng lại mang đến những khách hàng mới. Dù khó có thể gọi là phát đạt, ít nhất quán rượu cũng đã gỡ được tiền thuê nhà. Với Kino, điều này cũng đã đủ.

    Người thanh niên với mái đầu cạo trọc bắt đầu đến quán rượu khoảng hai tháng sau khi nó khai trương. Và thêm hai tháng nữa Kino mới biết được tên anh ta, Kamita.

    Hôm ấy trời mưa nhẹ, kiểu mưa mà ta không biết có nên mang theo dù hay không. Chỉ có ba khách hàng trong quán, Kamita và hai người đàn ông mặc vét. Lúc ấy là bảy giờ rưỡi. Nhưng thường lệ, Kamita ngồi ở chiếc ghế đẩu xa nhất cuối quầy, nhấm nháp ly White Lable pha nước lã và đọc sách. Hai người đàn ông ngồi tại một chiếc bàn, đang uống một chai Pinot Noir. Họ mang theo chai vang này và hỏi Kino có phiền không nếu họ uống trong quán với phí mở chai là năm nghìn Yen. Đây là lần đầu tiên Kino gặp việc này, nhưng anh không thấy có lý do gì để từ chối. Anh mở nút chai rượu và đem ra hai chiếc ly vang cùng một tô hạt hỗn hợp. Chả có gì phiền phức cả. Tuy nhiên hai người hút thuốc rất nhiều, khiến Kino, vốn không ưa mùi thuốc lá, cảm thấy thiếu niềm nở với họ. Chẳng có gì khác để làm, Kino ngồi trên chiếc một ghế đẩu và lắng nghe chiếc đĩa than của Coleman Hawkins đang chơi bài “Joshua Fit the Battle of Jericho.” Anh thấy đoạn độc tấu bass của Major Holley thật tuyệt diệu.

    Thoạt đầu, hai người đàn ông có vẻ tâm đầu ý hợp, thưởng thức chai vang của họ, nhưng một bất đồng quan điểm nào đấy – Kino không biết là gì - và hai người đàn ông càng lúc càng trở nên nóng nảy. Rồi một trong hai người đứng lên, lật nghiêng chiếc bàn khiến cho cái gạt tàn và một chiếc ly rơi xuống sàn vỡ vụn. Kino vội vã cầm chổi chạy đến quét dọn và đặt một chiếc ly mới và một gạt tàn sạch lên bàn.

    Kamita – dù lúc ấy Kino vẫn chưa biết được tên anh – rõ ràng là rất bực bội trước hành xử của hai gã đàn ông. Gương mặt anh vẫn không thay đổi, nhưng anh liên tục gõ nhẹ các ngón tay trái lên quầy, như một nghệ sĩ dương cầm đang thử các phím đàn. Mình phải làm chủ tình hình mới được, Kino thầm nghĩ. Anh bước đến hai người khách, “Xin lỗi,” anh lịch sự bảo, “mong các ông làm ơn nói nhỏ lại một chút được không ạ.”

    Một trong hai người ngước lên nhìn anh bằng một tia mắt lạnh lùng và đứng lên khỏi bàn. Đến lúc ấy Kino mới để ý rằng gã thật to con. Gã không cao lắm so với vòm ngực vạm vỡ, với cánh tay khổng lồ, tạng người mà ta thường thấy ở những võ sĩ Sumo.

    Gã kia thì nhỏ con hơn nhiều. Gầy gò và nhợt nhạt, với vẻ ngoài sắc sảo, loại người giỏi sách động kẻ khác. Gã cũng chậm rãi đứng lên, và Kino thấy mình phải đối diện với cả hai. Hai gã đàn ông rõ ràng đang muốn lợi dụng dịp này để tạm ngưng cuộc tranh cãi và cùng nhau đối đầu với Kino. Cả hai phối hợp với nhau thật hài hòa, cứ như họ đã bí mật chờ đợi tình huống này xảy ra từ trước.

    “À, anh nghĩ là anh có quyền xía vào phá đám chúng tôi?” Gã to con nói, giọng đanh và trầm.

    Những bộ vét họ mặc có vẻ đắt tiền, nhưng nhìn kỹ thì thấy chúng rởm đời và được may cẩu thả. Không phải là dân Yakuza chính hiệu, mặc dù rõ ràng là họ liên quan đến những công việc không đàng hoàng gì mấy. Gã to con đầu húi cua, trong khi bạn gã có mái tóc nhuộm nâu và cột ngược ra sau như một chiếc đuôi ngựa. Kino gồng mình chờ đợi một điều xấu xảy ra. Mồ hôi nách anh bắt đầu túa ra.

    “Xin lỗi,” một giọng nói khác cất lên.

    Kino quay lại thì thấy Kamita đang đứng sau mình.

    “Đừng bắt lỗi nhân viên quán,” Kamita nói, chỉ vào Kino. “Tôi chính là người đã bảo ông ấy yêu cầu các anh nói nhỏ lại. Việc này khiến khó tập trung, và tôi không thể đọc sách được.”

    Giọng nói Kamita bình tĩnh hơn, chậm rãi hơn bình thường. Nhưng có điều gì đấy, không thấy được, đang bắt đầu khuấy đảo.

    “Không đọc sách được,” gã bé con lặp lại, như muốn chắc rằng câu nói không phạm lỗi ngữ pháp nào.

    “Cái gì, mày không có nhà à?” Gã to con hỏi Kamita.

    “Có,” Kamita trả lời. “Tôi ở gần đây.”

    “Thế sao mày không về nhà mà đọc?”

    “Tôi thích đọc ở đây,” Kamita trả lời.

    Hai người đàn ông nhìn nhau.

    “Đưa sách đây,” gã nhỏ con bảo. “Tao đọc cho mày nghe.”

    “Tôi thích tự đọc trong im lặng,” Kamita nói. “Và tôi sẽ không thích nếu anh phát âm sai.”

    “Mày hay nhỉ,” gã to con nói. “Thằng này tếu táo thật.”

    “Thế tên mày là gì?” Đuôi Ngựa hỏi.

    “Tên tôi là Kamita,” anh trả lời. “Nó gộp từ hai từ ‘chúa’-kami-và ‘cánh đồng:’ ‘cánh đồng của chúa.’ Nhưng nó không phát âm là ‘Kanda,’ như anh tưởng. Nó phát âm là ‘Kamita.’”

    “Tao sẽ nhớ điều này,” gã to con bảo.

    “Tốt lắm. Trí nhớ rất có ích,” Kamita nói.

    “Thôi, muốn ra ngoài không?” gã nhỏ con nói. “Ra đấy để có thể nói thật là tụi mình muốn gì.”

    “Tốt thôi,” Kamita nói. “Chỗ nào tùy anh. Nhưng trước hết, làm ơn trả tiền quán được không? Anh đừng nên làm phiền quán.”

    Kamita gọi Kino đem hóa đơn ra, và anh đặt đúng số tiền của mình lên mặt quầy. Đuôi Ngựa rút ra khỏi ví một tờ mười nghìn Yen và quẳng lên bàn.

    “Tao không cần tiền thối,” Đuôi Ngựa bảo Kino. “Sao mày không mua ly uống vang tốt hơn? Đây là thứ vang đắt tiền, ly kiểu này làm nó dở như cứt.”

    “Thật là một chỗ rẻ tiền,” gã to con diễu cợt.

    “Đúng thế. Một quán bar rẻ tiền với khách hàng rẻ tiền,” Kamita nói. “Nó không hợp với các anh. Chỗ khác chắc hợp hơn. Dù tôi không biết ở đâu.”

    “Ơ này, mày hay nhỉ,” gã to con nói. “Mày thật buồn cười.”

    “Chốc nữa nhớ suy nghĩ lại, và có một trận cười lâu dài,” Kamita nói.

    “Mày không thể bảo tao đi chỗ khác,” Đuôi Ngựa nói. Gã chậm rãi liếm môi, như một con rắn đang đánh giá con mồi.

    Gã to con mở cửa và bước ra ngoài, Đuôi Ngựa bước theo sau. Có lẽ cảm nhận được không khí căng thẳng, con mèo nhảy theo họ ra ngoài dù trời đang mưa.

    “Ông có chắc là không bị sao chứ?” Kino hỏi Kamita.

    “Đừng lo,” Kamita trả lời với một nụ cười nhẹ. “Không cần phải làm gì cả, Ông Kino. Cứ ngồi yên. Chuyện này sẽ qua nhanh thôi.”

    Kamita bước ra ngoài và đóng cửa. Trời vẫn còn mưa, lớn hơn ban nãy. Kino ngồi xuống một chiếc ghế đẩu và đợi. Bên ngoài vẫn yên tĩnh lạ thường, và anh không nghe một tiếng động nào. Cuốn sách của Kamita đang nằm bỏ ngỏ trên quầy, như một con chó được huấn luyện kỹ đang đợi chủ. Khoảng mười phút sau, cánh cửa mở ra, và Kamita bước vào một mình.

    “Ông làm phiền cho tôi mượn chiếc khăn được không?” anh hỏi.

    Kino đưa cho anh một chiếc khăn sạch, và Kamita lau đầu của mình. Rồi đến cổ, mặt, và cuối cùng là hai tay. “Cám ơn, mọi chuyện đã ổn rồi,” anh bảo. “Hai gã ấy sẽ không chường mặt đến đây nữa đâu.”

    “Chuyện quái quỉ gì xảy ra vậy?”

    Kamita chỉ lắc đầu, như muốn nói, “Tốt hơn là ông đừng biết.” Anh bước đến ghế của mình, dốc cạn ly whiskey, và tiếp tục cuốn sách đang đọc dở của mình.

    Tối ấy, sau khi Kamita đã về, Kino bước ra ngoài và đảo một vòng trong xóm. Con hẻm vắng vẻ và im ắng. Chẳng có dấu vết gì của một cuộc ẩu đả, không một vệt máu. Anh không thể mường tượng được chuyện gì đã xảy ra. Con mèo cũng không quay lại. Anh rót cho mình một ít White Label, thêm ngần ấy nước lã và hai viên đá nhỏ rồi nếm thử. Chẳng gì đặc biệt, như anh đã đoán trước. Nhưng đêm ấy anh muốn có một ngụm rượu trong người mình.

    Khoảng một tuần sau khi sự việc xảy ra, Kino đã ngủ với một nữ khách hàng. Nàng là người đàn bà đầu tiên anh làm tình kể từ ngày bỏ vợ. Nàng khoảng ba mươi, hay có lẽ già hơn tí. Anh không chắc là nàng thuộc dạng đẹp, nhưng có điều gì ấy đặc biệt trong nàng, một điều gì đó nổi bật.

    Người phụ nữ đã đến quán vài lần trước đó, luôn đi cùng với một người đàn ông khoảng cùng độ tuổi mang kính gọng đồi mồi và bộ râu cằm phong cách beatnik. Gã có mái tóc rối bù và không bao giờ mang cà vát, vì thế Kino đoán có lẽ gã không phải là loại viên chức như ta thường thấy. Người đàn bà luôn mặc một chiếc đầm bó sát khoe thân hình thon đẹp của nàng. Họ ngồi ở quầy rượu, thầm thì trao đổi vài câu trong khi uống coctail hoặc sherry. Họ không bao giờ ngồi lâu. Kino mường tượng họ uống thế trước khi làm tình. Hoặc là sau khi làm chuyện ấy. Anh không thể giải thích được, nhưng cách họ uống khiến anh liên tưởng đến việc làm tình. Kiểu làm tình căng thẳng, kiệt lực. Kỳ lạ là cả hai đều không có tí biểu cảm, đặc biệt là người đàn bà, Kino chưa bao giờ thấy nàng cười. Đôi khi nàng trao đổi với anh, luôn là về những bài nhạc đang chơi. Nàng thích jazz và cũng sưu tầm đĩa than. “Cha tôi ở nhà từng nghe loại nhạc này,” nào kể với anh. “Chúng đem lại nhiều kỷ niệm khi nghe lại.”

    Từ âm giọng của nàng, Kino không biết những kỷ niệm ấy là về âm nhạc hay về cha nàng. Nhưng anh không dám mạo hiểm hỏi tới.

    Thật sự thì Kino tìm cách ít tiếp xúc với người đàn bà. Rõ ràng là người đàn ông chẳng thích thú gì khi anh thân thiện với nàng. Có lần anh và người đàn bà nói chuyện rất lâu - trao đổi kinh nghiệm về các cửa hàng bán đĩa xưa ở Tokyo và cách tốt nhất để bảo quản các đĩa than – và sau đó thì người đàn ông luôn nhìn anh với ánh mắt lạnh lùng, ngờ vực. Kino thường cẩn trọng tránh xa bất kỳ mọi rắc rối nào. Chẳng gì tồi tệ hơn ghen tuông và sĩ diện, và Kino đã từng có một số trải nghiệm không tốt đẹp từ một trong hai thứ ấy. Đôi khi anh nhận ra rằng bản thân anh có điều gì đấy chuyên khuấy động mặt tối của người khác.

    Nhưng tối hôm ấy, người đàn bà đến quán một mình. Không có người khách nào khác, và khi nàng mở cửa, hơi lạnh của đêm lẻn vào. Nàng ngồi tại quầy, kêu một ly brandy và yêu cầu Kino chơi một bản của Billie Holiday. “Nếu được, nhờ ông mở một bài nào thật xưa.” Kino đặt một đĩa của hãng Columbia vào máy, chọn bản “Georgia on My Mind.” Cả hai im lặng lắng nghe. “Ông lật sang mặt kia được không?” nàng hỏi, khi đĩa nhạc chấm dứt, và anh làm theo yêu cầu của nàng.

    Nàng chậm rãi uống đến hết ba ly brandy, nghe thêm vài đĩa nhạc – “Moonglow” của Erroll Garner, “I Can’t Get Started” của Buddy DeFranco. Thoạt đầu, Kino ngỡ nàng đang đợi người đàn ông, nhưng nàng không hề liếc nhìn đồng hồ lần nào. Nàng cứ ngồi đấy, thả hồn theo nhạc, nhấp nháp ly brandy.

    “Hôm nay bạn cô không đến?” Kino quyết định hỏi khi giờ đóng cửa đến gần.

    “Ông ta không đến. Ông ta đang ở xa,” người đàn bà nói. Nàng đứng lên khỏi chiếc ghế đẩu và bước về chỗ con mèo đang nằm ngủ. Nàng nhẹ nhàng dùng những ngón tay vuốt ve lưng nó. Con mèo vẫn tiếp tục ngủ yên, không nhúc nhích.

    “Chúng tôi đang tính đến việc chấm dứt quan hệ,” người đàn bà nói.

    Kino không biết trả lời thế nào nên anh cứ lặng im và tiếp tục dọn dẹp sau quầy.

    “Tôi không biết nói thế nào,” người đàn bà nói. Nàng ngưng vuốt ve con mèo và quay trở lại quầy rượu, gót giày cao gót lách cách. “Mối quan hệ của chúng tôi không hẳn là . . . bình thường.”

    “Không hẳn bình thường.” Kino lặp lại lời nàng mà không thật sự muốn biết là nó có nghĩa gì.

    Nàng uống hết phần brandy ít ỏi còn lại trong ly. “Tôi muốn cho ông xem cái này, ông Kino,” nàng nói.

    Dù đó là gì, Kino không muốn thấy. Anh rất chắc chắn về điều này. Nhưng anh không thể tìm được ngôn từ để nói.

    Người đàn bà cởi chiếc áo len và đặt lên ghế. Nàng choàng hai tay ra sau và kéo khoá áo đầm của mình. Nàng xoay lưng lại Kino. Ngay phía dưới chiếc khoá áo ngực màu trắng anh thấy lấm chấm những vết không đều màu than nhạt, như là vết bầm. Chúng khiến anh nhớ đến những chùm sao trên bầu trời mùa đông. Một chuỗi những vì sao đen lụi tắt.

    Người đàn bà không nói lời nào, chỉ đưa tấm lưng trần cho Kion xem. Như một kẻ không thể hiểu cả ý nghĩa câu hỏi mà người ta hỏi mình, Kino cứ dán mắt vào các vết sẹo. Cuối cùng, nàng kéo khoá lên và xoay người đối diện anh. Nàng mặc lại áo len và sửa lại tóc.

    “Chúng là những sẹo bỏng thuốc lá,” nàng nói một cách đơn giản.

    Kino cứng họng. Nhưng anh phải nói một điều gì đó. “Ai làm thế?” anh hỏi, giọng khản đặc.

    Người đàn bà không trả lời, và Kino hiểu ra rằng anh sẽ không hy vọng có được câu trả lời.

    “Chúng còn ở những chỗ khác nữa,” cuối cùng nàng bảo, giọng cạn kiệt cảm xúc. “Những chỗ ... hơi khó xem.”

    Ngay từ đầu, Kino nghĩ rằng có cái gì đấy khác thường từ người đàn bà. Điều gì đấy đã kích hoạt một phản xạ bản năng, cảnh báo anh không nên dính líu đến nàng. Anh vốn thường đã là một con người cẩn trọng. Nếu anh thật sự muốn ngủ với một người đàn bà, anh luôn tìm đến những cô gái chuyên nghiệp. Và thậm chí anh cũng chẳng thấy bị hấp dẫn bởi người đàn bà này.

    Nhưng đêm đó nàng tuyệt vọng mong muốn có một người đàn ông để làm tình cùng nàng – và có vẻ anh là gã đàn ông ấy. Đôi mắt nàng vô hồn, con ngươi mở to khác thường, nhưng trong chúng có một tia nhìn đầy cả quyết không nhượng bộ. Kino không có đủ nghị lực để cưỡng lại.

    Anh đóng cửa tiệm, và cả hai lên lầu. Trong phòng ngủ, người đàn bà nhanh chóng cởi quần áo, lột bỏ đồ lót, và chỉ cho anh xem những nơi vốn khó để xem. Thoạt đầu Kino lãng mắt đi, nhưng rồi buộc phải nhìn. Anh không thể hiểu được, và cũng chẳng muốn hiểu, tâm trí của một gã đàn ông đã làm điều nhẫn tâm như thế, hoặc của người đàn bà đã sẵn sàng chịu đựng nó. Đấy là một khung cảnh hoang phế từ một hành tinh điêu tàn, cách nơi Kino sống nhiều năm ánh sáng.

    Người đàn bà cầm tay anh rà theo những vết sẹo, buộc anh phải lần lượt sờ từng cái. Có những vết sẹo trên vú, và gần kề âm hộ nàng. Anh lần theo những vết sẹo thô và đen ấy, cứ như đang dùng viết chì để nối từng điểm một. Hình như những vết sẹo tạo ra một hình thù mà anh nhớ đã thấy ở đâu đấy, nhưng không nhớ là gì.

    Họ làm tình trên nền nhà trải chiếu tatami. Không trao đổi lời nào, không dạo đầu, không có thời gian cho cả việc tắt đèn hoặc trải nệm. Lưỡi người đàn bà luồn sâu vào họng anh, móng tay nàng cấu chặt lưng anh. Dưới ánh đèn, như hai con thú đói, họ thèm thuồng ngấu nghiến da thịt nhau. Khi bình minh hiện diện bên ngoài, họ cuộn người vào tấm nệm và ngủ thiếp, như đang bị kéo tuột vào bóng đêm.

    Kino thức giấc trước nửa trưa, và người đàn bà đã đi khỏi. Anh cảm thấy như mình vừa trải qua một giấc mơ đầy hiện thực, nhưng rõ ràng đấy không phải là một giấc mơ. Vẫn còn đấy những đường cào cấu trên lưng, những vết cắn trên tay anh, dương vật anh thun nhỏ vì ê ẩm. Vài sợi tóc đen dài vẫn nằm cuộn trên chiếc gối trắng của anh, và tấm trải dường đẫm nặng thứ mùi mà anh chưa bao giờ ngửi thấy trước đây.

    Người đàn bà đến quán bar vài lần nữa sau dịp ấy, luôn đi cùng với gã đàn ông có chòm râu dê. Họ ngồi trước quầy rượu, thì thầm trò chuyện trong khi uống một vài ly cocktail, rồi ra về. Người đàn bà cũng trao đổi vài lời với Kino, đa phần là về âm nhạc. Giọng nàng cũng hệt như trước, cứ như là nàng không hề nhớ gì về những gì đã xảy ra giữa họ trong cái đêm ấy. Tuy nhiên, Kino cũng dọ thấy được một tia khao khát từ mắt nàng, như một luồng sáng mong manh từ đáy sâu của một hầm mỏ. Anh chắc chắn về điều này. Và nó làm anh nhớ lại rõ rệt mọi chi tiết – những vết bấm của móng tay nàng cấu vào lưng anh, cơn ê ẩm trên dương vật anh, chiếc lưỡi dài trơn tru của nàng, cái mùi bốc lên từ giường anh.

    Khi anh và người đàn bà trò chuyện, gã đàn ông đi cùng nàng kỹ lưỡng quan sát cử chỉ và thái độ của Kino. Kino cảm nhận được một chất nhầy nào đấy đang quấn chặt cặp đôi này, cứ như là đã có một bí mật sâu thẳm chỉ được chia sẻ giữa họ.

    Đến cuối hè, vụ li dị của Kino cũng đến hồi kết, và anh cùng vợ gặp nhau tại quán bar của mình vào một buổi chiều, trước giờ mở cửa, để dàn xếp vài vấn đề còn lại.

    Những vấn đề pháp lý được nhanh chóng giải quyết, cả hai ký vào những giấy tờ cần thiết. Vợ Kino mặc một chiếc đầm mới màu xanh dương, tóc nàng cắt ngắn. Nàng trông khoẻ mạnh và yêu đời hơn bao giờ. Nàng bắt đầu một cuộc sống mới, rõ ràng là ý nghĩa hơn. Nàng đảo mắt nhìn quanh quán rượu. “Thật là một nơi tuyệt vời,” nàng bảo. “Yên tĩnh, sạch sẽ, và êm ả - rất giống anh.” Một khoảng khắc lặng im theo sau. “Nhưng ở đây không có thứ gì thật sự tác động đến anh”: Kino mường tượng đấy là những lời nàng muốn nói.

    “Em có muốn uống gì không?” anh hỏi.

    “Một chút vang đỏ, nếu anh có sẵn.”

    Kino lấy hai ly vang và rót một tí Napa Zinfandel. Họ uống trong im lặng. Họ chẳng muốn chúc tụng nhau về chuyện li dị. Con mèo lẻn sang, và thật bất ngờ, nhảy lên đùi Kino. Kino vuốt ve phía sau đôi tai nó.

    “Em cần phải xin lỗi anh,” cuối cùng vợ anh nói.

    “Vì chuyện gì?” Kino hỏi.

    “Vì đã làm anh đau khổ,” nàng bảo. “Anh cũng đau khổ chút ít, phải không?”

    “Tôi nghĩ thế,” Kino nói, sau khi suy nghĩ kỹ. “Nói cho cùng, tôi cũng là con người. Nhưng đau khổ nhiều hay ít thì tôi không thể nói được.”

    “Em muốn gặp anh và xin lỗi anh.”

    Kino gật đầu. “Em đã xin lỗi, và tôi cũng đã nhận lời xin lỗi của em. Đừng lo lắng về điều này nữa.”

    “Em muốn kể cho anh biết những chuyện đã xảy ra, nhưng không tìm được lời.”

    “Nhưng cuối cùng thì chúng ta cũng đã đến cùng một nơi đấy thôi?”

    “Em nghĩ thế,” vợ anh trả lời.
    Kino nhấp một ngụm vang.

    “Không phải lỗi của ai cả,” anh nói. “Nhẽ ra tôi không nên về nhà sớm một ngày. Hoặc nhẽ ra tôi phải cho em biết là tôi đang về. Như thế thì chúng ta đã không phải trải qua cảnh ấy.”

    Vợ anh không nói điều gì.

    “Em bắt đầu gặp gỡ thằng ấy khi nào?” Kino hỏi.

    “Em nghĩ chúng ta không nên đi vào vấn đề ấy.”

    “Ý em là tốt hơn là tôi không nên biết? Có thể điều này em đúng.” Kino thừa nhận. Anh tiếp tục vuốt ve con mèo, giọng nó càng rù sâu hơn. Đây cũng là lần đầu tiên nó làm việc này.

    “Có thể em không có quyền nói điều này,” vợ anh bảo, “nhưng em nghĩ tốt hơn là anh nên quên đi những gì đã xảy ra và hãy tìm một người mới.”
    “Có thể,” Kino nói.

    “Em biết ngoài kia chắc chắc sẽ có một người phụ nữ hợp với anh. Sẽ không khó để tìm ra cô ấy. Em đã không thể là con người ấy cho anh, và em đã làm một điều tồi tệ. Em cảm thấy nhục nhã vì nó. Nhưng đã có điều gì không ổn giữa chúng ta ngay từ đầu, như chúng ta cài cúc không đúng chỗ. Em nghĩ anh sẽ có một cuộc sống bình thường, hạnh phúc.”

    Cài cúc không đúng chỗ, Kino nghĩ.

    Anh nhìn chiếc áo mới nàng đang mặc. Họ ngồi đối diện nhau, nên anh không thể biết được phía sau là cúc hay dây khoá. Nhưng anh không thể tránh khỏi ý nghĩ rằng anh sẽ thấy gì nếu kéo dây khoá hoặc mở cúc áo nàng. Thân thể nàng không còn thuộc về anh nữa, vì thế anh chỉ biết tưởng tượng. Khi anh nhắm mắt lại, anh thấy vô số những vết sẹo bỏng màu nâu đang quằn quại trên tấm lưng trắng nuột của nàng, như là một đàn giun. Anh lắc đầu xua đuổi hình ảnh ấy, và vợ anh dường như hiểu lầm việc ấy.

    Nàng nhẹ nhàng đặt tay mình lên tay anh. “Em xin lỗi,” nàng nói. “Em thật sự xin lỗi.”

    Mùa thu đến và con mèo biến mất.

    Phải vài ngày sau Kino mới nhân ra là nó đã đi mất. Con mèo này – vẫn không có tên – đến quán rượu khi nào nó muốn và đôi khi không xuất hiện trong một thời gian, vì thế nếu Kino không thấy nó trong một tuần, hoặc thậm chí mươi ngày, anh cũng chẳng lo lắng gì cho lắm. Anh cảm thấy mến con mèo, và con mèo dường như cũng tin cậy anh. Nó cũng giống như là một chiếc bùa may mắn cho quán. Kino có một ấn tượng đặc biệt rằng miễn là nó cứ ngủ trong góc quán thì không có điều gì xấy xảy ra. Nhưng sau hai tuần thì anh bắt đầu lo lắng. Sau ba tuần, bản năng Kino bảo anh rằng con mèo sẽ không quay trở lại.

    Cũng cùng khoảng thời gian con mèo biến mất, Kino bắt đầu để ý thấy những con rắn xuất hiện ngoài căn nhà.

    Con rắn đầu tiên anh thấy có màu nâu nhạt và thân dài. Nó nằm trong bóng râm của gốc liễu ở sân trước, nhàn nhã trườn mình đi. Kino, với chiếc túi thực phẩm trên tay, đang mở khoá cửa khi anh trông thấy nó. Hiếm khi trông thấy rắn ở trung tâm Tokyo. Anh hơi ngạc nhiên, nhưng không quan tâm mấy. Sau nhà anh là Bảo tàng Nezu với một khu vườn rộng. Không phải là quá bất thường khi có một con rắn sống ở đấy.

    Nhưng hai ngày sau, trước 12 giờ trưa khi anh mở cửa để lấy báo, anh lại thấy một con rắn khác cũng tại vị trí cũ. Con này có màu hơi xanh, nhỏ hơn con trước, và trông có vẻ nhớp nháp. Khi con rắn thấy Kino, nó ngưng lại, nhấc đầu, và nhìn Kino, cứ như là nó biết anh từ trước. Kino chần chừ, không biết phải làm gì, và con rắn từ từ hạ đầu xuống và biến vào bóng râm. Chuyện này khiến Kino rợn người.

    Ba ngày sau, anh lại bắt gặp con rắn thứ ba. Nó cũng nằm dưới cây liễu trước sân nhà. Con rắn này nhỏ hơn nhiều so với hai con trước và có màu đen. Kino không biết gì về rắn, nhưng con này khiến anh nghĩ là nó nguy hiểm nhất. Dường như nó là một loại rắn độc. Ngay khi nó cảm thấy sự hiện diện của anh, nó trườn ngay vào đám cỏ. Ba con rắn trong vòng một tuần, dù có diễn giải gì đi nữa, vẫn cũng quá nhiều. Có điều gì kỳ quái đang xảy ra.

    Kino gọi cho người dì ở Izu. Sau khi cập nhật tình hình trong xóm cho bà, anh hỏi bà có bao giờ trông thấy rắn chung quanh ngôi nhà ở Aoyama không.

    “Rắn?” dì anh lớn tiếng hỏi, đầy ngạc nhiên. “Dì sống ở đấy rất lâu nhưng nhớ là không thấy con rắn nào bao giờ. Dì không biết đấy có phải là dấu hiệu của động đất hay không. Loài vật cảm nhận thiên tai đang đến và bắt đầu có những phản ứng lạ thường.”

    “Nếu đúng thế, thì chắc cháu cũng nên dự trữ đề phòng,” Kino nói.

    “Ý cháu tốt đấy. Sớm muộn Tokyo sẽ bị động đất lớn.”

    “Nhưng rắn có nhạy cảm với động đất không?”

    “Dì không biết chúng có nhạy cảm không,” người dì nói. “Nhưng rắn là loài vật thông minh. Trong những truyền thuyết cổ, chúng thường giúp dẫn dắt con người. Nhưng, khi được một con rắn dẫn đường, ta không biết là nó đang đưa ta đi về hướng xấu hay tốt. Trong đa số trường hợp, nó là tổng hợp giữa cả thiện lẫn ác.

    “Mơ hồ quá,” Kino nói.

    “Đúng thế. Rắn là một loài thật sử bí ẩn. Trong những truyền thuyết này, những con rắn lớn nhất, thông minh nhất cất dấu trái tim bên ngoài thân thể mình, để khỏi bị giết chết. Nếu cháu muốn giết chết con rắn ấy, cháu phải dọ ra chỗ nó ẩn nấp khi nó đi khỏi, tìm thấy trái tim đang đập, và cắt nó làm đôi. Chắc chắn không phải là một công việc dễ dàng.”

    Sao dì anh lại biết những chuyện này?

    “Hôm nọ dì có xem một chương trình trên đài NHK, so sánh những truyền thuyết trên thế giới,” bà giải thích, “và có một giáo sư đại học nói về điều này. TV cũng có ích lắm – khi nào cháu có thời gian, cháu nên xem thêm TV.”

    Kino bắt đầu có cảm giác rằng căn nhà đang bị rắn bao vây. Anh cảm nhận được sự hiện diện thầm lặng của chúng. Vào giữa đêm, khi anh đóng cửa bar, cả khu phố vẫn yên tĩnh, không một tiếng động nào khác ngoại trừ thảng hoặc những hồi còi cấp cứu. Tĩnh lặng đến nỗi anh hầu như có thể nghe được một con rắn đang lướt đi. Anh lấy một tấm ván và đóng kín cánh cửa nhỏ mà anh từng làm cho con mèo, để lũ rắn không thể đột nhập vào trong.

    Một đêm nọ, gần mười giờ, Kamita xuất hiện. Anh gọi một ly bia, tiếp theo là hai shot White Label như lệ thường, và ăn một đĩa bắp cải nhồi thịt. Hơi khác thường khi anh đến trễ và ở lâu như thế. Thỉnh thoảng anh ta lại rời mắt khỏi cuốn sách và nhìn thẳng vào bức tường trước mặt, như đang suy tính việc gì. Khi gần đến giờ đóng cửa, anh vẫn ngồi yên, cho đến khi anh là người khách cuối cùng.

    “Ông Kino,” Kamita nói có vẻ trịnh trọng, sau khi trả tiền. “Tôi rất lấy làm tiếc khi chuyện này phải đến.”

    “Chuyện này phải đến?” Kino lặp lại.

    “Là ông phải đóng cửa quán bar. Dù chỉ là tạm thời.”

    Kino nhìn chòng chọc vào Kamita, không biết trả lời sao. Đóng cửa quán?

    Kamita lướt nhìn chung quanh quán bar trống vắng, rồi hướng người lại Kino. “Ông cũng chưa hiểu được hết những gì tôi đang nói, phải không?”
    “Tôi nghĩ là không.”

    “Tôi thật sự rất thích quán rượu này,” Kamita nói, như đang giải bày với anh. “Nó tĩnh lặng để tôi có thể đọc sách, và tôi thích nhạc của ông. Tôi rất thích khi ông mở quán ở đây. Nhưng thật không may, nó vẫn thiếu vài thứ.”

    “Thiếu?” Kino nói. Anh hoàn toàn không hiểu nó có nghĩa gì. Anh chỉ có thể mường tượng ra một tách trà tí hon với một vết mẻ tí hon trên vành.

    “Con mèo xám ấy sẽ không quay lại,” Kamita nói. “Ít nhất là trong lúc này.”

    “Bởi vì nơi đây đang thiếu vắng một thứ gì?”

    Kamita không trả lời.

    Kino dõi theo hướng nhìn của Kamita, và dọ xét kỹ lưỡng chung quanh quán, nhưng chẳng thấy điều gì bất thường. Tuy nhiên, anh cũng cảm nhận rằng nơi này trở nên trống vắng hơn bao giờ, nó không còn sức sống và màu sắc. Có điều gì đấy lạ lẫm so với cảm giác đóng cửa tắt đèn bình thường.

    Kamita lên tiếng. “Ông Kino, ông không phải là loại người sẵn sàng làm điều bậy. Tôi biết rất rõ điều này. Nhưng đôi khi trong cõi đời này có lúc không làm điều xấu thôi vẫn chưa đủ. Một số người dùng khoảng trống này để lách luật. Ông có hiểu tôi đang nói gì không?”

    Kino không hiểu.

    “Hãy nghĩ lại thật kỹ,” Kamita nói, nhìn thẳng vào mắt Kino. “Đấy là một câu hỏi rất quan trọng, đáng để suy nghĩ thật kỹ. Mặc dù câu trả lời có thể không dễ dàng có ngay.”

    “Ông cho rằng có một vấn đề nghiêm trọng nào đang xảy ra, không phải vì tôi làm điều gì xấu mà vì tôi không chịu làm điều tốt? Một vấn đề liên quan đến quán rượu này, hay đến tôi?”

    Kamita gật đầu. “Ông có thể cho là vậy. Nhưng tôi không chỉ đổ hết trách nhiệm cho ông, ông Kino. Tôi cũng có lỗi, vì đã không để ý sớm hơn. Đúng ra tôi phải lưu ý nhiều hơn nữa. Đây là một nơi ấm cúng không chỉ cho tôi mà cho mọi người khác.”

    “Thế thì tôi phải làm gì?” Kino hỏi.

    “Đóng cửa quán trong một thời gian và đi thật xa. Ông không thể làm điều gì khác hơn vào lúc này. Tôi nghĩ tốt hơn là ông nên rời khỏi trước khi chúng ta có một đợt mưa dài. Xin lỗi phải hỏi điều này, nhưng liệu ông có đủ tiền cho một chuyến đi dài không?”

    “Tôi nghĩ là đủ trang trải trong một thời gian.”

    “Tốt. Vậy đến lúc đó thì ông mới nên bận tâm đến việc gì xảy ra kế tiếp.”
    “Nhưng anh là ai?”

    “Tôi chỉ là một gã tên Kamita,” Kamita nói. “Được viết bằng hai từ kami, ‘chúa’, và ta, ‘cánh đồng,’ nhưng không đọc là ‘Kanda.’ Tôi sống gần đây đã lâu rồi.”

    Kino quyết định nên tiếp tục hỏi tới. “Ông Kamita, tôi có một câu hỏi. Trước đây ông có thấy rắn ở chung quanh đây không?”

    Kamita không trả lời. “Đây là những gì ông cần làm. Hãy đi thật xa, và không dừng lại một chỗ quá lâu. Và mỗi thứ Hai và thứ Năm nhớ phải gửi một bưu thiếp. Lúc ấy tôi biết được ông vẫn bình an.”

    “Bưu thiếp?”

    “Bất kỳ loại bưu thiếp có ảnh của nơi ông đang ở.”

    “Nhưng tôi sẽ gửi cho ai?”

    “Ông có thể gửi cho người dì ở Izu. Đừng viết tên mình hoặc bất kỳ thông tin nào. Chỉ ghi địa chỉ người nhận. Điều này rất quan trọng, vì thế không được quên.”

    Kino ngạc nhiên nhìn anh ta. “Ông biết dì của tôi?”

    “Vâng, tôi biết bà rất rõ. Đúng ra, bà đã cậy tôi xem chừng ông, để bảo đảm không việc gì xấu xảy ra. Nhưng có vẻ tôi đã không hoàn thành nhiệm vụ.”

    Người đàn ông này là ai? Kino tự hỏi.

    “Ông Kino, khi nào tôi thấy đủ an toàn để ông quay về, tôi sẽ liên lạc với ông. Trong khi ấy, phải tránh xa nơi này. Ông có hiểu không?”

    Đêm ấy, Kino sửa soạn cho chuyến đi. Tốt hơn là ông nên rời khỏi trước khi chúng ta có một đợt mưa dài. Lời thông báo thật đột ngột, và logic của nó lẩn tránh anh. Nhưng lời của Kamita có một sức mạnh thuyết phục lạ thường vượt cả logic. Kino không nghi ngờ gì anh ta. Anh nhồi vài bộ quần áo và đồ vệ sinh vào một chiếc túi khoác vai cỡ trung, cùng loại túi mà anh từng dùng trong những chuyến đi chào hàng. Khi bình minh tới, anh gắn một thông báo trước cửa: “Xin cáo lỗi, quán rượu hiện tạm thời đóng cửa.”

    Đi thật xa, Kamita bảo anh. Nhưng đi đâu thì anh thực sự không biết. Có nên đi về hướng bắc? hoặc nam? Anh quyết định rằng sẽ bắt đầu bằng việc lần theo tuyến đường anh vốn thường đi khi còn làm công việc bán giày. Anh đáp chuyến xe buýt tốc hành và đi Takamatsu. Anh sẽ đánh một vòng chung quang Shikoku rồi hướng sang Kyushu.

    Anh lấy phòng tại một khách sạn thương gia gần Ga Takamatsu và ở đấy ba ngày. Anh tha thẩn trong phố và vào xem vài cuốn phim. Các rạp chiếu phim ban ngày thì trống trải, và phim thì cuốn nào cũng làm liệt não. Khi trời tối, anh quay về phòng và bật TV xem. Anh nghe lời dì mình bảo và xem những chương trình giáo dục, nhưng lại không tìm được thông tin hữu ích nào từ chúng. Ngày thứ nhì tại Takamatsu nhằm thứ Năm, vì thế anh mua một tấm bưu thiếp tại một tiệm tạp hoá, dán một con tem, và gửi cho người dì. Như Kamita đã dặn, anh chỉ đề tên và địa chỉ của bà.

    “Hãy suy nghĩ kỹ,” Kamita bảo anh. “Đấy là một câu hỏi rất quan trọng, đáng để suy nghĩ thật kỹ.” Nhưng, cho dù anh có suy nghĩ cặn kẽ đến đâu, Kino cũng không tìm ra được câu hỏi là gì.

    Vài ngày sau, Kino ở tại một khách sạn thương gia rẻ tiền gần Ga Kumamoto ở Kyushu. Trần thấp, giường nhỏ, chật chội, TV bé xíu, bồn tắm tí hon, chiếc tủ lạnh nhỏ nhếch nhác. Anh thấy mình là một gã khổng lồ lóng ngóng vụng về. Tại tiệm tạp hoá, anh mua một chai whiskey nhỏ, vài chai nước khoáng, và và hộp bánh qui để nhấm nháp. Anh nằm trên giường, đọc sách. Khi chán đọc sách, anh xem TV. Khi chán xem TV, anh lại đọc sách.

    Đấy là ngày thứ ba ở Kumamoto. Anh vẫn có đủ tiền trong ngân khoản tiết kiệm và, nếu muốn, anh vẫn có thể ở tại một khách sạn khá hơn nhiều. Nhưng anh cho rằng, đối với mình, hiện tại, nơi đây cũng tốt. Nếu anh ở một nơi chật chội như thế này, anh sẽ không có những suy nghĩ thừa thãi, và mọi thứ anh cần đều nằm trong tầm với. Anh cảm thấy dễ chịu một cách bất ngờ. Anh chỉ còn mong muốn vài đĩa nhạc. Teddy Wilson, Vic Dickenson, Buck Clayton—đôi khi anh tuyệt vọng ao ước được nghe những bài jazz cổ điển của họ, với kỹ xảo vững chắc đáng tin cậy và thanh âm bộc trực của chúng. Anh muốn thấy niềm hạnh phúc vẹn toàn của họ khi họ biểu diễn, với tính lạc quan tuyệt vời của họ. Nhưng tuyển tập nhạc của anh đang ở thật xa. Anh mường tượng quán rượu của mình, yên lắng từ ngày anh đóng cửa. Con hẻm nhỏ, gốc liễu cổ thụ. Người ta đọc bảng thông báo của anh rồi bỏ đi. Còn con mèo? Nếu nó quay lại, nó sẽ thấy cánh cửa dành cho mình đã bị bịt kín. Và liệu những con rắn vẫn còn lặng lẽ trườn quanh căn nhà?

    Đối diện cửa sổ phòng của anh ở tầng tám là cửa sổ của một văn phòng. Từ sáng đến tối, anh xem người ta làm việc ở đấy. Anh không biết doanh nghiệp của họ là gì. Những người đàn ông đeo cà vạt đi ra đi vào, trong khi những phụ nữ miệt mài gõ trên bàn phím vi tính, trả lời điện thoại, xắp xếp hồ sơ. Thực sự không là một khung cảnh cuốn hút. Dáng vẻ và quần áo của những người làm việc ở đấy không gì đặc biệt, thậm chí rất tầm thường. Kino quan sát họ hàng giờ vì một lý do đơn giản: anh không có gì khác để làm. Và anh thấy, rất bất ngờ và ngạc nhiên, rằng họ đôi khi trông rất hạnh phúc. Một số thỉnh thoảng lại cười phá lên. Tại sao? Làm việc suốt ngày trong một văn phòng tầm thường, thực hiện những công việc (ít nhất là dưới mắt Kino) có vẻ tẻ nhạt – sao họ vẫn có thể cảm thấy rất hạnh phúc? Liệu có những bí mật nào đấy mà anh không hiểu thấu?

    Đã đến lúc anh lại phải lên đường. Không dừng lại một nơi quá lâu, Kamita đã dặn anh thế. Những không hiểu sao Kino không thể tự mình rời khỏi cái khách sạn Kumamoto chật chội này. Anh không thể nghĩ ra một nơi nào khác mà mình muốn đến. Thế giới là một đại dương bao la không một dấu vết của đất liền, Kino là con thuyền nhỏ mất cả mỏ neo lẫn hải trình. Khi anh trải tấm bản đồ của Kyushu, phân vân tìm chỗ để đến, anh cảm thấy buồn nôn, giống như bị say sóng. Anh nằm xuống giường và đọc sách, thỉnh thoảng lại liếc xem người ta làm việc ở văn phòng đối diện.

    Hôm đấy là thứ Hai, nên anh mua một tấm bưu thiếp ở cửa hàng trong khách sạn với ảnh của Lâu đài Kumamoto, đề tên và địa chỉ của người dì, và dán một con tem lên. Anh cầm tấm bưu thiếp một hồi lâu, lơ đãng nhìn vào toà lâu đài. Đấy là một bức ảnh khuôn sáo, vốn thường thấy ở các bưu thiếp: toà lâu đài vươn sừng sững trước bầu trời xanh và những cụm mây trắng xốp. Dù có nhìn vào bức ảnh bao lâu đi nữa, Kino vẫn không tìm được điểm liên hệ giữa anh và toà lâu đài. Rồi, trong một chốc bốc đồng, Kino lật sang mặt trái của tấm bưu thiếp và viết vài lời cho người dì:

    Dì khoẻ không? Lưng dì dạo này thế nào? Dì thấy đấy, cháu vẫn du lịch một mình. Đôi lúc cháu thấy mình nửa như trong suốt. Như dì có thể nhìn xuyên vào nội tạng của cháu, giống một con mực tươi. Ngoài ra, cháu vẫn ổn. Cháu hi vọng sẽ có dịp thăm dì. Kino.

    Kino hoàn toàn không hiểu điều gì đã thúc đẩy anh viết như thế. Kamita cấm tiệt điều này. Nhưng Kino không thể cưỡng nỗi bản thân. Ta phải tìm cách kết nối lại với thực tế, anh nghĩ, nếu không ta không phải là ta nữa. Ta sẽ trở thành một người không hiện hữu. Và, trước khi anh có thể đổi ý, anh vội vã tìm đến hòm thư gần khách sạn và chuồi tấm bưu ảnh vào trong.

    Khi anh thức giấc, chiếc đồng hồ cạnh giường chỉ hai giờ mười lăm. Ai đấy đang gõ cửa phòng. Tiếng gõ không lớn nhưng trầm và chắc, như một người thợ mộc lành nghề đang đóng đinh. Tiếng gõ kéo Kino khỏi giấc ngủ sâu cho đến khi nhận thức anh trở nên rõ ràng, và thậm chí tỉnh táo một cách tàn nhẫn.

    Kino hiểu ý nghĩa của tiếng gõ. Và anh biết rằng mình phải ra khỏi giường và mở cửa. Ai đấy đang gõ cửa không đủ sức để mở cánh cửa từ bên ngoài. Nó phải được chính tay Kino mở.

    Anh nhận ra rằng cuộc viếng thăm này thật sự là điều anh mong mỏi, nhưng, cùng lúc, lại là điều anh sợ hơn tất cả. Điều này thực mơ hồ: níu giữ một khoảng không trống rỗng giữa hai thái cực. “Anh cũng đau khổ chút ít, phải không?” vợ anh đã hỏi thế. “Tôi là con người, nói cho cùng. Tôi cũng đau.” anh trả lời. Nhưng điều này không đúng sự thật. Ít nhất một nửa của nó là giả dối. Mình không thấy đau như cần phải đau, Kino thú nhận. Khi nên cảm thấy thật sự đau khổ, mình lại gồng người chịu. Mình không muốn đón nhận nó, vì thế mình tránh đối diện với nó. Đấy là vì sao lòng mình giờ đây quá trống vắng. Lũ rắn đã nắm giữ khoảng trống ấy và tìm cách giấu những trái tim lạnh lẽo đang đập của chúng ở đó.

    “Đây là một nơi dễ chịu không chỉ cho tôi mà cho mọi người khác.” Kamita đã nói thế. Cuối cùng đã hiểu ra ý của anh ta.

    Kino kéo tấm ra che đầu, nhắm mắt lại, và dùng tay bịt đôi tai mình. Mình sẽ không nhìn, sẽ không nghe, anh tự bảo mình. Nhưng anh không thể che đậy được âm thanh. Thậm chí nếu anh trốn vào ngõ ngách tận cùng của quả đất và nhét đất sét đầy tai, một khi anh còn sống thì những tiếng gõ ấy sẽ miệt mài theo đuổi anh. Đấy không phải là tiếng gõ cửa tại một khách sạn thương gia. Đấy là tiếng gõ cửa trong trái tim anh. Một con người không thể chạy thoát tiếng động ấy.

    Anh không rõ thời gian đã trôi qua bao lâu, nhưng anh nhận ra rằng tiếng gõ đã chấm dứt. Căn phòng tĩnh vắng như nơi cùng tận của mặt trăng. Tuy thế, Kino vẫn nằm im dưới tấm ra. Anh phải dè phòng. Cái vật thể sống bên ngoài phòng anh không bỏ cuộc dễ dàng như thế. Nó không cần vội vã. Mặt trăng không xuất hiện. Chỉ một chòm sao héo úa mờ nhạt tô điểm bầu trời. Thế giới, trong một tí thời gian nữa, vẫn thuộc về những vật thể sống ấy. Chúng có rất nhiều phương thức. Chúng có thể đạt được điều mình muốn bằng rất nhiều cách. Cội rễ của bóng tối có thể lan toả khắp nơi dưới lòng đất. Kiên nhẫn đợi chờ, tìm ra những điểm yếu, chúng có thể phá tan cả những hòn đá cứng rắn nhất.

    Cuối cùng, như Kino đã dự đoán, những tiếng gõ lại bắt đầu. Nhưng lần này chúng lại đến từ một hướng khác. Gần hơn lầm trước rất nhiều. Kẻ gõ cửa ở ngay bên ngoài cửa sổ gần giường anh. Bám chặt vào bức tường mỏng của toà nhà, trên tầng tám, gõ lạch cạch vào tấm kính hằn dấu nước mưa.

    Tiếng gõ vẫn mang nhịp điệu như cũ. Hai tiếng. Rồi hai tiếng nữa. Liên tục không ngừng. Như tiếng đập của con tim trong cơn xúc cảm.

    Bức rèm cửa mở ra. Trước khi chìm vào giấc ngủ, anh đang ngắm nhìn những hình dạng tạo ra bởi những giọt mưa trên cửa kính. Kino vẫn có thể mường tượng được những gì mình sẽ thấy bây giờ, nếu anh thò đầu ra khỏi tấm ra. Không – anh không thể mường tượng nó. Anh phải dập tắt khả năng tưởng tượng bất cứ điều gì. Mình không nên nhìn nó, anh tự bảo. Cho dù nó trống vắng đến đâu, nó vẫn là trái tim của mình. Vẫn còn chút hơi ấm con người trong ấy. Kỷ niệm, như rong biển quấn cuộn thành đống trên bờ, thầm lặng đợi chờ triều lên. Những cảm xúc mà nếu bị cắt, sẽ chảy máu. Mình không thể để chúng lang thang ở những nơi chốn vượt xa khỏi nhận thức.

    “Trí nhớ có thể có ích,” Kamita từng nói. Một ý nghĩ đột ngột đến với Kino: rằng dường như Kamita có liên hệ với cây liễu già trước nhà anh. Anh không thể hiểu chính xác được điều này hợp lý ra sao, nhưng một khi suy nghĩ ấy lọt vào đầu anh, mọi việc đều trở nêu hữu lý. Kino mường tượng những cánh cây, phủ đầy rêu, trĩu thấp nặng nề, gần đụng đất. Vào mùa hạ, chúng tạo ra bóng mát trên sân. Vào những ngày mưa, những giọt nắng vàng lấp lánh trên những nhánh cây mềm mại. Vào những ngày gió nhiều, chúng đong đưa như một trái tim năng động, và những con chim bé tí bay đến, líu lo với nhau, đậu thành hàng ngay ngắn trên những cành cây nhỏ nhắn, mảnh mai, rồi lại cất cánh bay đi.

    Dưới tấm ra giường, Kino cuộn mình như con giun, mắt nhắm chặt, và nghĩ đến cây liễu già. Từng lần một, anh liên tưởng đến những đặc điểm của nó – màu sắc, hình dáng, và những cử động của nó. Và anh cầu khẩn cho bình minh đến. Anh không làm gì khác được ngoại trừ chờ đợi như thế, một cách kiên nhẫn, cho đến khi trời sáng và lũ chim thức dậy và bắt đầu ngày mới của chúng. Anh không làm gì khác được ngoại trừ đặt niềm tin vào lũ chim, vào tất cả loài chim, với những chiếc cánh và mỏ của chúng. Cho đến lúc đó, anh không thể để con tim mình trống vắng. Nỗi trống ấy, khoảng chân không do nó tạo ra, sẽ lôi kéo chúng vào.

    Khi cây liễu vẫn không đủ, Kino lại nghĩ đến con mèo ốm màu xám, và sở thích món rong biển nướng của nó. Annh nhớ đến Kamita ngồi ở quầy rượu, đắm chìm vào cuốn sách, những vận động viên trẻ lặp đi lặp lại những bài tập kiệt sức trên đường chạy, bài đơn ca “My Romance” đáng yêu của Ben Webster. Anh nhớ đến vợ mình và chiếc váy xanh mới, mái tóc cắt ngắn của nàng. Anh mong nàng có một cuộc sống tươi khoẻ, hạnh phúc trong căn nhà mới của mình. Anh hy vọng không có vết thương nào trên thân thể nàng. Nàng đã xin lỗi trước mặt mình, và mình đã chấp nhập nó, anh nghĩ. Mình cần học việc không chỉ quên đi mà còn tha thứ nữa.

    Nhưng chuyển động của thời gian dường như không cố định đúng mức. Sức nặng tàn nhẫn của lòng ham muốn và chiếc mỏ neo hoen rỉ của lòng hối hận đang ngăn cản dòng chảy bình thường của nó. Cơn mưa không ngừng nghỉ, những chiếc kim đồng hồ lộn xộn, lũ chim vẫn ngủ say, một nhân viên bưu chính vô danh đang im lặng sắp xếp những tấm bưu thiếp, đôi nhũ hoa yêu kiều của vợ anh đang nhún nhảy cuồng loạn giữa không khí, cái gì đó đang dai dẳng gõ vào cửa sổ. Tiếng gõ đều đặn ấy như muốn lôi kéo anh vào sâu hơn vào một mê cung quyến rũ. Cạch cạch, cạch cạch, rồi thêm lần nữa – cạch cạch. “Đừng nhìn nơi khác, hãy nhìn thẳng vào nó,” ai đó thì thầm vào tai anh. “Trái tim anh giống như thế đấy.”

    Những nhánh liễu uốn éo trước ngọn gió đầu hè. Trong căn phòng nhỏ tối đen, ở một nơi nào đấy trong lòng Kino, một bàn tay ấm áp đang đón chào anh. Nhắm mắt lại, anh cầm bàn tay ấy, mềm mại và có thực. Anh đã quên điều này, vì đã là một phần của nó quá lâu. Vâng, mình đau. Vô cùng đau. Anh tự nói với mình. Và anh ứa nước mắt.

    Trong khi ấy mưa vẫn không nguôi, ngập tràn cả thế gian với cơn lạnh rợn người.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Cám ơn bác Nguyễn Jung rất nhiều. Tôi dịch từ bản tiếng Anh của Philip Gabriel vì không biết tiếng Nhật :). Bản tiếng Anh này có cấu trúc câu ngắn, nhiều dấu phẩy, có nhẽ cũng muốn theo sát cách viết của tác giả. Đôi khi cứ cắm cúi bám theo văn phong mà lại bỏ qua việc trau chuốt cấu trúc của tiếng Việt. Cám ơn bác đã nhắc nhở chỉ ra.

    Tôi không đọc nguyên tác, chỉ đọc bản dịch của bác Diên Vỹ, để ý đến cách hành văn và dùng chữ Việt.
    Có vài người đang muốn làm trong sáng tiếng Việt bằng chữ Hán, nên tôi mạo muội xin phép bác Diên Vỹ sửa vài lỗi nhỏ trong cách hành văn, sử dụng từ, dấu.. ...không bằng..... chữ Hán. :)

    Tên tác giả viết:
    Người đàn ông luôn ngồi ở chỗ cũ, tại chiếc ghế đẩu xa nhất phía cuối quầy rượu. Khi không có ai ngồi, nhưng hầu như luôn trống chỗ. Quán rượu cũng hiếm khi đông khách, và nó cũng là chiếc ghế kín đáo nhất và ít thoải mái nhất. Chiếc cầu thang nằm phía bên trong khiến cho trần nhà xà thấp xuống, vì thế khó mà đứng thẳng mà không bị đụng đầu. Người đàn ông ấy cao, nhưng không biết tại sao, lại cứ muốn ngồi vào cái chỗ chật hẹp ấy.
    .....
    Anh ta trông khoảng vào độ đầu ba mươi...

    ....
    Người đàn ông chọn chiếc ghế cuối quầy, cởi áo khoác, và với giọng nhỏ nhẹ gọi một cốc bia, rồi im lặng đọc một cuốn sách dày....
    .....
    “Một loại Scotch bình thường nào đấy. Gấp đôi lượng rượu. Thêm ngần ấy nước lã và một tí đá, làm ơn.”

    Có thể viết lại:

    Tên tác giả viết:
    Người đàn ông luôn ngồi ở chỗ cũ, tại chiếc ghế đẩu xa nhất phía cuối quầy rượu, khi không có ai ngồi và hầu như chỗ này luôn trống. Quán rượu cũng ít khi đông khách, chiếc ghế là chỗ kín đáo nhất và ít thoải mái nhất của quán. Cầu thang nằm phía bên trong khiến cho trần nhà xà thấp xuống, vì thế khó mà đứng thẳng mà không bị đụng đầu. Người đàn ông ấy cao, nhưng không biết tại sao, lại cứ muốn ngồi vào cái chỗ chật hẹp ấy......

    ....

    Tên tác giả viết:
    Tuổi anh ta vào khoảng đầu ba mươi
    hoặc Anh ta trông vào khoảng đầu ba mươi hay Anh ta trông độ chừng đầu ba mươi

    Chữ vào khoảng và chữ độ đồng nghĩa nhau.
    ....

    Tên tác giả viết:
    Người đàn ông chọn chiếc ghế cuối quầy, cởi áo khoác, với giọng nhỏ nhẹ (anh ta) gọi một cốc bia, rồi im lặng đọc một cuốn sách dày.

    Chữ "và" là một từ nối 2 câu nên không cần phải có dấu phẩy trước đó.
    Hoặc dùng chữ "và" hoặc dùng dấu phẩy.

    Tên tác giả viết:
    “Một loại Scotch bình thường nào đấy. Gấp đôi lượng rượu. Làm ơn thêm ngần ấy nước lã và một tí đá.”

    Nói chung, bác Diên Vỹ đã dịch khá cẩn thận nhưng vẫn có những câu hơi trục trặc. Tôi không đủ kiên nhẫn sửa tiếp.
    Tôi cũng có nhiều lỗi khi viết. Mong bác Diên Vỹ không hờn giận nhé.

    Nguyễn Jung